Gasteropelecidae, Brazil

Cá rìu thường

Gasteropelecus sternicla

Tên khác: Cá rìu bạc, Common Hatchetfish, Silver Hatchetfish

Nhiệt độ
20–28°C
pH
5–7,5
Độ cứng (dGH)
1–12
Kích thước
4 cm
Bể tối thiểu
120 cm
Độ khó
Khó 6/8

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-30.

Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Thông tin nhanh

Cá rìu thường (Gasteropelecus sternicla) là một loài cá rìu nước ngọt ở Nam Mỹ. Mẫu dùng để mô tả loài này lấy từ Suriname. Vùng phân bố của nó vẫn còn nhiều nghi vấn, với các ghi nhận ở trung lưu sông Amazon, Venezuela, Guyana, Guiana thuộc Pháp và lưu vực Río Paraguay. Cá gần như lúc nào cũng ở sát mặt nước hoặc ngay dưới mặt nước. Đây là loài hay gặp nhất trong nhóm cá rìu bạc. Tính nó hiền, nhưng nhát và dễ giật mình.

Theo Seriously Fish

Cần bể bao lớn?

Bể cần có mặt bể tối thiểu 120 × 30 cm hoặc diện tích tương đương. Thể tích khoảng 108 lít.

Theo Seriously Fish

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 20–28°C
  • pH: 5,0–7,5
  • Độ cứng: 1–12 dGH

Theo Seriously Fish

Chăm sóc ra sao?

Bạn nên thả cây nổi phủ một phần lớn mặt nước. Có chỗ che phía trên, loài cá hay hoảng này sẽ bớt nhát hơn. Phần bài trí còn lại không quá quan trọng. Dù vậy, cá trông rất đẹp trong bể trồng dày cây, và cũng hợp với bể biotope kiểu Amazon có cành lũa, nền cát và ít lá khô. Nắp bể phải đậy thật khít, vì cá có thể nhảy xa vài mét chỉ với một cú.

Khác với các loài thuộc chi Carnegiella, loài cá rìu này chịu rời mặt nước xuống dưới thường xuyên hơn. Nó xuống để giao tiếp với đồng loại, kiếm ăn, hoặc chỉ đơn giản là đứng yên một chỗ.

Theo Seriously Fish

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, cá ăn côn trùng trên mặt nước và có lẽ cả côn trùng bay phía trên mặt nước. Chúng cũng ăn giáp xác và giun. Một nghiên cứu trên loài Thoracocharax stellatus (Netto-Ferreira et al, 2007) cho thấy 99,6% khẩu phần của cá là côn trùng. Trong số đó, phần lớn (87,6%) là côn trùng sống trên cạn.

Lúc mới về, cá đôi khi hơi chê thức ăn khô. Tuy vậy, theo thời gian chúng thường sẽ quen và chịu ăn. Phần lớn khẩu phần nên là thức ăn đông lạnh và thức ăn sống, chẳng hạn trùng huyết và Daphnia. Nếu kiếm được ruồi giấm Drosophila đã cho ăn no trước khi đem cho cá ăn (gut-loaded) thì đó là món rất tốt.

Theo Seriously Fish

Nuôi chung với con gì?

Cá rất hiền nhưng có thể nhát và dễ giật mình. Nuôi chung với các loài hiếu động, tranh ăn hăng thì chúng sẽ giành không lại. Bạn cùng bể hợp nhất là những loài cá nhỏ sống ở tầng khác trong bể, ví dụ cá tetra và cichlid lùn. Cá da trơn như Corydoras và các loài Loricariidae cỡ nhỏ cũng là lựa chọn tốt. Lúc nào cũng nên mua ít nhất 6 con. Thiếu đàn đồng loại, cá không thấy an toàn và sẽ không ổn định được.

Theo Seriously Fish

Phân biệt đực cái thế nào?

Khi đầy trứng, con cái có thân tròn hơn con đực thấy rõ.

Theo Seriously Fish

Sinh sản ra sao?

Chưa rõ. Có thể loài này sinh sản giống cá rìu cẩm thạch (Carnegiella strigata).

Theo Seriously Fish

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Vùng phân bố của loài này còn nhiều nghi vấn. Người ta đã ghi nhận nó ở lưu vực trung lưu sông Amazon thuộc Peru và Brazil, cùng các con sông ở Venezuela, Guyana và Guiana thuộc Pháp. Loài này cũng từng được thu mẫu ở lưu vực Río Paraguay (Britski, et al. 2007).

Nơi lấy mẫu chuẩn chỉ ghi vỏn vẹn là 'Suriname'.

Theo Seriously Fish

Môi trường tự nhiên

Cá sống ở suối rừng chảy chậm, nhánh sông và đầm lầy. Người ta hay bắt gặp chúng nhất ở những chỗ có nhiều cây cỏ phủ trên mặt nước.

Theo Seriously Fish

Ghi chú

Loài này gần như lúc nào cũng ở sát mặt nước hoặc ngay dưới mặt nước. Thỉnh thoảng nó mới lui xuống tầng giữa, khi bị đe dọa hoặc lúc kiếm ăn. Giống các loài cá rìu nước ngọt khác, nó nổi tiếng nhờ khả năng phóng lên khỏi mặt nước và lướt đi xa vài mét. Cá dùng cú phóng này để bắt côn trùng bay và để thoát khỏi kẻ săn mồi.

Họ Gasteropelecidae gồm ba chi:

  • Thoracocharax (T. securis và T. stellatus)
  • Gasteropelecus (G. sternicla, G. levis và G. maculatus)
  • Carnegiella (bốn loài đã được mô tả, cỡ nhỏ hơn và không có vây mỡ)

Trong nhóm các loài cá rìu bạc cỡ lớn, G. sternicla là loài hay gặp hơn cả. Dù vậy, loài nào trong nhóm này cũng có thể bị bán dưới cái tên “Silver Hatchetfish”.

Có người nói cá rìu nước ngọt bay được bằng cách vỗ vây ngực. Wiest (1995) đã quay video tốc độ cao và chứng minh điều đó không đúng. Cá chỉ dùng vây ngực lúc rời mặt nước, còn khi đã ở trên không thì vây ngực không hoạt động. Thực chất đây là một cú nhảy thật mạnh, biến thể từ phản xạ của cá trước mối đe dọa. Có vẻ cá chỉ nhảy được một hai lần là phải nghỉ. Theo những ghi nhận rời rạc của người nuôi, cá rìu hiếm khi nhảy trong bể. Nhưng nếu để hở nắp bể qua đêm thì nhiều khả năng sáng ra bạn sẽ thấy một hay vài con nằm dưới sàn.

G. sternicla thường được coi là loài cá rìu khỏe nhất trong số các loài có bán trong giới chơi cá. Dù vậy, lúc mới nhập về nó vẫn khá yếu. Khi đã quen nước, nó là loài sống trong bể rất tốt. Loài này hay bị nhầm với G. levis (silver hatchet) và thường bị dán nhãn thành loài đó khi bày bán.

Theo Seriously Fish

Tài liệu tham khảo

  • Britski, H. A., K. Z. D. S. Silimon, and B. S. Lopes (2007). Peixes do Pantanal: manual de identificaçäo, 2 ed. Brasília, DF: Embrapa Informaçäo Tecnológica, 1-227
  • Netto-Ferreira, Andre L., Miriam P. Albrecht, JorgeL. Nessimian and Erica P. Caramaschi (2007). Feeding Habits of Thoracocharax stellatus (Characiformes: Gasteropelecidae) in the upper Rio Tocantins, Brazil Neotropical Ichthyology 5(1), 69-74
  • Wiest, F. C. (1995). The specialized locomotory apparatus of the freshwater hatchetfish family Gasteropelecidae. Journal of Zoology 236(4), 571-592

Theo Seriously Fish

Bài viết nhắc đến loài này

Thiết bị phù hợp

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.