
Cichlidae, Ấn Độ
Cá rô Canara
Etroplus canarensis
Tên khác: Cá hồng sọc Canara, Banded chromide, Roman numeral cichlid, Canara pearlspot cichlid
- Nhiệt độ
- 22–32°C
- pH
- 6–7,5
- Độ cứng (dGH)
- 1–10
- Kích thước
- 11 cm
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
- Vừa 5/8
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-30.
Thông tin nhanh
Cá rô Canara (Etroplus canarensis) có vẻ là loài đặc hữu của hệ sông Kumaradhara-Netravati ở miền nam bang Karnataka, Ấn Độ. Trong giới chơi cá, nó còn có tên banded chromide hay cá 'chữ số La Mã'. Mấy loài họ hàng của nó chịu được độ mặn dao động rộng, còn loài này chỉ sống ở nước ngọt giàu oxy. Cá tự nhiên từng bị bắt không kiểm soát, khiến người ta lo cho tình trạng của loài. Từ khi Đông Nam Á nhân giống thương mại được, áp lực lên quần thể hoang dã đã giảm bớt. Cá cần khoảng 24 tháng mới thành thục.
Theo Seriously Fish
Cần bể bao lớn?
Muốn nuôi lâu dài thì bể nhỏ nhất cũng nên có đáy 120 × 45 cm hoặc tương đương. Thể tích bể khoảng 243 lít.
Theo Seriously Fish
Nước cần thế nào?
- Nhiệt độ: 22–32°C. Khi nuôi bình thường, nên giữ nhiệt độ quanh mức giữa của khoảng này. Dù vậy, bạn nên cho nhiệt độ thay đổi đôi chút theo mùa (xem phần 'Sinh sản').
- pH: 6,0–7,5
- Độ cứng: 1–10 dGH
Theo Seriously Fish

Chăm sóc ra sao?
Tốt nhất là set bể theo kiểu một con suối hay khúc sông có dòng chảy. Nền gồm đá cuội bị nước mài tròn với nhiều cỡ khác nhau, cát, sỏi mịn, và có thể thêm vài tảng đá nhỏ.
Bạn có thể bày thêm rễ hoặc cành lũa. Phần lớn cây thủy sinh nhiều khả năng sẽ bị cá ăn. Những loại cây khỏe như Microsorum hay Anubias thì có thể sống được nếu gắn lên đồ trang trí trong bể.
Loài này không chịu được chất bẩn hữu cơ tích tụ và cần nước thật sạch. Vì vậy, thay 30-50% nước mỗi tuần nên là lịch cố định.
Cá không cần dòng chảy mạnh. Nhưng lượng oxy hòa tan trong nước bắt buộc phải tương đối cao.
Theo Seriously Fish
Cho ăn gì?
Quan sát cá ngoài tự nhiên cho thấy loài này ăn khá tạp. Cá hay gặm lớp aufwuchs (màng tảo và vi sinh vật bám trên bề mặt) và tảo sợi trên các bề mặt cứng.
Trong bể, bạn có thể cho cá ăn thức ăn chế biến loại tốt. Tuy vậy, cá thích mồi sống hoặc đông lạnh cỡ nhỏ hơn, chẳng hạn trùng huyết (ấu trùng muỗi lắc), trùng chỉ, Artemia, bọ gậy...
Trong số thức ăn khô, ít nhất một phần nên chứa nhiều thành phần thực vật, như Spirulina hoặc loại tương tự. Đậu Hà Lan cắt nhỏ và những thứ tương tự cũng là món bổ sung có ích.
Theo Seriously Fish
Nuôi chung với con gì?
Ngoài lúc sinh sản, loài này khá hiền. Nó không ăn cá khác, trừ những con thật nhỏ.
Bạn cùng bể đặc biệt hợp là các loài cá chép bơi tầng giữa sống chung với nó ngoài tự nhiên, như Dawkinsia spp., Devario malabaricus hay Rasbora daniconius. Nếu không đặt nặng chuyện cùng vùng địa lý, cá cũng sống tốt với nhiều loài khác, chẳng hạn nhiều loài tetra.
Nên tránh các loài có tính lãnh thổ hoặc hung dữ, và cả những loài cần nước cứng hơn. Cũng không nên nuôi chung với các loài cichlid khác.
Các loài Etroplus sống theo bầy lỏng lẻo và thường tụ thành nhóm, trừ lúc đẻ. Cá con đặc biệt hay túm tụm lại với nhau khi bị đe dọa.
Vì vậy, bạn nên mua ít nhất một nhóm từ 8 con trở lên. Khi đã thành thục, cả nhóm sẽ phân thứ bậc khá rõ, con mạnh lấn con yếu.
Nếu nuôi ít hơn, những con yếu có thể bị các con cầm đầu bắt nạt quá mức. Cũng có thể cả nhóm không ổn định được và cứ nhút nhát, hoảng hốt.
Theo Seriously Fish

Phân biệt đực cái thế nào?
Cá đực trưởng thành thường lớn hơn cá cái một chút, thân cũng hơi đầy đặn hơn.
Theo Seriously Fish
Sinh sản ra sao?
Đây là loài đẻ trứng trên giá thể, cả cá bố lẫn cá mẹ cùng chăm con. Trong mùa sinh sản, cá kết cặp nhưng chỉ gắn bó lỏng lẻo và tạm thời.
Cá có vẻ phải khoảng 24 tháng tuổi mới thành thục. Nếu mua cá nhỏ, bạn sẽ phải kiên nhẫn chờ một thời gian.
Người ta cho rằng ngoài tự nhiên cá đẻ vào tháng 12 và tháng 1, khi trời mát hơn và nước lũ mùa mưa đã rút. Nếu mô phỏng được lúc chuyển giao giữa hai mùa này, đôi khi cá nuôi trong bể cũng chịu đẻ.
Cách làm là giữ cá một thời gian ở nhiệt độ ổn định, gần mức cao của khoảng nhiệt độ nêu ở trên. Sau đó thay nước mát hơn vài ngày liền, mỗi ngày 20-25% thể tích bể.
Vào mùa sinh sản, cá đổi kiểu màu. Các vạch đen đứng trên thân biến thành một mảng tối liền, còn phía trước đầu thì hiện ra các vạch đứng.
Khi tán tỉnh, cặp cá chọn một chỗ và đuổi kẻ lạ khỏi khu vực xung quanh cho đến khi sẵn sàng đẻ.
Trứng thường nằm ở chỗ khuất trên cạnh hoặc mặt trên của một hòn đá. Trứng bám vào đá nhờ các sợi ngắn.
Đẻ xong, cả bố lẫn mẹ tiếp tục canh giữ chỗ đẻ. Tuy vậy, cá đực có thể đẻ tiếp với cá cái khác nếu trong bể có.
Ở 26,7 °C, trứng nở sau khoảng 4 ngày. Thêm 2-3 ngày nữa thì cá bột bơi tự do.
Phần lớn người nuôi chọn lấy trứng ra trước khi nở, vì trứng hay bị cá cùng bể hoặc chính cá bố mẹ ăn mất. Cách phổ biến nhất là nhấc cả hòn đá có trứng bám sang một thùng riêng, dùng nước lấy từ bể cá bố mẹ.
Đặt ống sủi khí hoặc đầu ra của lọc gần hòn đá để nước luôn chảy qua trứng. Trứng nào có dấu hiệu nhiễm nấm thì gắp bỏ ngay khi thấy.
Khi đã bơi tự do, cá bột đủ lớn để ăn ngay ấu trùng Artemia và các loại mồi tương tự.
Theo Seriously Fish
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Loài này có vẻ là loài đặc hữu cục bộ của miền nam bang Karnataka, tây nam Ấn Độ. Đến nay người ta chỉ biết đến nó ở hệ sông Kumaradhara-Netravati.
Cá có mặt ở cả sông Kumaradhara lẫn sông Netravati. Dù vậy, trong nhiều năm người ta từng nghĩ nó chỉ sống ở sông Kumaradhara.
Nơi thu mẫu chuẩn được ghi là 'South Canara, India'. Tuy vậy, địa danh này dường như ứng với một điểm gần Uppnangudi, chỗ hai sông Kumaradhara và Netravati nhập lại.
Cả hai con sông đang bị đe dọa ở một mức nhất định do ô nhiễm từ nông nghiệp, khai thác cát và các hoạt động khác của con người.
Theo Seriously Fish

Môi trường tự nhiên
Loài này chỉ sống ở nước ngọt giàu oxy. Giới hạn phân bố phía hạ lưu của nó dường như nằm cách cửa sông Netravati khoảng 50 km. Xuống thấp hơn điểm đó, thay vào chỗ của nó là E. suratensis, một loài cùng chi chịu được độ mặn dao động rộng, và Pseudetroplus maculatus.
Môi trường sống của cá thay đổi rất mạnh theo mùa. Mỗi năm gió mùa về làm nước sâu hơn, chảy xiết hơn và đục hơn hẳn.
Tại một điểm trên sông Netravati vào mùa khô, nước khá trong và chảy nhẹ trên nền đá. Điểm này ở độ cao khoảng 140 m so với mực nước biển. Nước ở đây có pH 6,5, TDS 50 ppm, độ dẫn điện 94 µS, GH 2,0 và KH 2,0. Nhiệt độ lúc giữa trưa là 32,6 °C.
Các loài cá sống cùng khu vực gồm Puntius mahecola, Haludaria fasciata, Garra mullya, Mesonoemacheilus triangularis, Devario malabaricus, Esomus danricus, Parambassis wolffii, Carinotetraodon travancoricus, Rasbora daniconius, Opsarius gatensis, Hypselobarbus jerdoni và Hyporhamphus limbatus.
Ở lưu vực Kumaradhara, người ta ghi nhận cá tại một điểm ở độ cao 150 m so với mực nước biển. Nước ở đó có pH 6,5, TDS 40 ppm, độ dẫn điện 85 µS, GH 2,0 và KH 2,0. Nhiệt độ lúc 18 giờ là 33,1 °C.
Nền ở điểm này chủ yếu là đá nhỏ và lá mục. Dọc một bên bờ có vài rễ cây thò xuống nước. Các loài cá khác ở đây gồm Puntius mahecola, Pristolepis marginata, Garra mullya, Devario malabaricus, Carinotetraodon travancoricus, Rasbora daniconius và Opsarius gatensis.
Theo Seriously Fish
Ghi chú
Trong giới chơi cá cảnh, E. canarensis còn có tên banded chromide hay cichlid 'chữ số La Mã'.
Người ta từng lo ngại về tình trạng của loài ngoài tự nhiên, do cá bị bắt bán không kiểm soát. Hiện nay Đông Nam Á đã nhân giống thương mại được loài này, nhờ đó áp lực lên quần thể hoang dã giảm bớt.
Etroplus và Pseudetroplus là hai chi cichlid bản địa duy nhất của tiểu lục địa Ấn Độ và Sri Lanka. Chi Etroplus gồm hai loài. Trong đó, E. canarensis chỉ sống ở nước ngọt và có vùng phân bố hẹp.
Loài cùng chi E. suratensis và loài họ hàng gần P. maculatus đều chịu được độ mặn dao động rộng. Chúng sống ở cửa sông, đầm phá ven biển và vùng hạ lưu các con sông dọc bờ biển phía tây và phía nam Ấn Độ, cùng phía bắc Sri Lanka.
P. maculatus dễ phân biệt với cả hai loài Etroplus. Các mảng tối trên thân nó chỉ còn 1-3 đốm đen ngay phía trên giữa thân. Khi cá bị stress, phần trên thân có thể hiện các vạch ngắn, kèm một mảng tối liền ở phía sau, gần bụng. Nhìn chung P. maculatus nhạt màu hơn nhiều, và phần lớn vảy thân có tâm màu đỏ cam.
Hai loài còn lại đều có một dãy vạch đen đứng trên thân, thường là 6 vạch (không tính các vạch ở đầu và cuống đuôi). Ở E. canarensis, 3 vạch phía trước có xu hướng chẻ đôi khi cá lớn. Màu nền của thân là xám ngả màu da bò, và một số vảy có mảng vàng nhạt ở giữa. Còn ở E. suratensis, các vạch giữ nguyên dạng liền suốt đời. Màu nền thân là nâu ngả xanh lục, và nhiều vảy có đốm trắng ngọc trai ở giữa.
E. suratensis cũng lớn hơn hẳn, có thể dài quá 300 mm SL.
Trong số các cichlid khác, họ hàng gần nhất của Etroplus là Paretroplus, một chi đặc hữu của Madagascar. Hai chi này đôi khi được xếp chung vào phân họ giả định Etroplinae.
Đây là một dòng cổ, có hình thái khác biệt, và là nhóm chị em tiến hóa của toàn bộ các cichlid còn lại (Sparks và Smith, 2004). Nhóm này có một số đặc điểm chuyên hóa độc nhất (Sparks, 2001; Stiassny và cộng sự, 2001).
Trong đó có cặp khoang bóng hơi phía trước với cấu tạo phức tạp. Các khoang này nằm trong những hốc exoccipital nở rộng, tạo thành kết nối otophysic (kiểu cơ học) trực tiếp giữa bóng hơi và tai trong. Ngoài ra, xương supraoccipital và xương exoccipital của hộp sọ biến đổi rất nhiều. Nhóm này còn có các dây chằng chuyên hóa gắn với bộ xương treo hàm và hàm miệng.
Có thể phân biệt Etroplus với Paretroplus qua một số đặc điểm sau: răng ba mũi (Paretroplus có răng một mũi), răng xếp nhiều hàng ở cả hàm trên và hàm dưới (Paretroplus chỉ có một hàng răng ở mỗi hàm), răng nhiều ở cả hai hàm (Paretroplus ít răng, dưới 18 chiếc ở hàm trên và dưới 14 chiếc ở hàm dưới), cặp phần kéo dài phía trước của bóng hơi khá điển hình và có dạng ống (ở Paretroplus, cặp phần này biến đổi mạnh, gồm nhiều khoang phía trước dạng polyp với lớp tunica externa dai và dày, nối với khoang bóng hơi chính bằng những đoạn cực hẹp gọi là diverticula), số gai vây hậu môn nhiều hơn, và cấu hình của phức hợp pterygiophore vây hậu môn/gai hemal (Sparks, 2001; Stiassny và cộng sự, 2001).
Theo Seriously Fish
Tài liệu tham khảo
- Cuvier, G. and A. Valenciennes (1830). Tome cinquième. Livre cinquième. Des Sciénoïdes. Histoire naturelle des poissons v. 5, i-xxviii + 1-499 + 4 pp.
- Day, F. (1877). The fishes of India; being a natural history of the fishes known to inhabit the seas and fresh waters of India, Burma, and Ceylon. Part 3. William Dawson & Sons, London, 369-552
- Subramanian, M. (2005). Seeking the Elusive Etroplus canarensis. World Wide Web electronic publication, www.indianaquariumhobbyist.com: Accessed on 25.10.2013
- Sparks, J. S. (2008). Phylogeny of the cichlid subfamily Etroplinae and taxonomic revision of the Malagasy cichlid genus Paretroplus (Teleostei, Cichlidae). Bulletin of the American Museum of Natural History 314, 1-151
- Sparks, J. S. and R. C. Schelly (2011). A new species of Paretroplus (Teleostei: Cichlidae: Etroplinae) from northeastern Madagascar, with a phylogeny and revised diagnosis for the P. damii clade. Zootaxa 2768, 55-68
- Sparks, J. S., and W. L. Smith (2004). Phylogeny and biogeography of cichlid fishes (Teleostei: Perciformes: Cichlidae). Cladistics 20, 501-517
Theo Seriously Fish
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá rô Canara? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.
Gửi ảnh Cá rô Canara của bạn
Thiết bị phù hợp
- Bể cábể cá 120cmShopeeLazadaTiki
- Bể cábể cá 240 lítShopeeLazadaTiki
- Lọclọc thùng bể 120cmShopeeLazadaTiki
- Lọcmáy bơm tạo dòng chảyShopeeLazadaTiki
- Thức ănthức ăn spirulina cho cáShopeeLazadaTiki
- Thức ăntrùng huyết đông lạnhShopeeLazadaTiki
- Thức ănartemia đông lạnhShopeeLazadaTiki
- Nền và lácát sôngShopeeLazadaTiki
- Nền và lásỏi nhỏ bể cáShopeeLazadaTiki
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.