Chăm sóc
Còi cọc nghĩa là cuộc sống cũng còi cọc
Theo Seriously Fish

Chú cá tra dầu hổ (tiger shovelnose) non này đã có dấu hiệu còi cọc, thể hiện ở phần mõm bị tròn. © Hristo Hristov
Có thể thấy rất ít người trong chúng ta xem việc hành hạ hay bỏ bê động vật là điều tốt, thế nhưng ở một khía cạnh, thú chơi cá cảnh có thể coi là một trong những lĩnh vực vi phạm nhiều nhất trong ngành buôn bán thú cưng toàn cầu.
Trong bài đầu tiên của loạt bài ủng hộ 'Chiến dịch Cá Lớn' (Big Fish Campaign) của BIAZA, chúng tôi giải thích vì sao, trong một số trường hợp, kích thước thực sự quan trọng...
Vì sao cá bị xem là vật có thể bỏ đi?
Hãy thử nghĩ một lát về loài động vật không sống dưới nước mà bạn yêu thích nhất. Dù là chim, mèo, chó, tắc kè hoa hay gấu trúc, bạn có chấp nhận việc nó bị nuôi trong chỗ ở chật chội, bẩn thỉu, bị cho ăn thức ăn không phù hợp, không thể thể hiện hành vi tự nhiên, rồi hậu quả là chậm lớn nghiêm trọng và chết sớm không?
Hầu hết người có lý trí chắc chắn sẽ trả lời 'không'. Vậy tại sao những người chơi cá cảnh như chúng ta, và ngành cá cảnh nói chung, lại có vẻ làm ngơ trước những loài cá rõ ràng lớn quá mức so với phần lớn bể cá gia đình?
Quan điểm phổ biến dường như vẫn cho rằng cá chưa tiến hóa các đặc điểm giải phẫu thần kinh và sinh lý cho phép chúng có khả năng có tri giác (cảm thức), dù bằng chứng khoa học cho thấy trên thực tế chúng cảm thấy đau, sợ hãi và căng thẳng gần như theo cách giống động vật bốn chân (Chandroo et al., 2004).
Do đó, những huyền thoại và lời bào chữa về các loài cá 'lớn' vẫn tiếp tục được lan truyền và nguồn cung của chúng vẫn không hề suy giảm.
Được nuôi để làm thực phẩm, không phải để nuôi bể cá
Phần lớn các loài 'có vấn đề', tức là những loài có sẵn với số lượng lớn và giá rẻ như Pangasius, Pangasiodon, Pseudoplaytstoma, Phractocephalus, Colossoma, Piaractus, Clarias, v.v., không được sản xuất bởi các trại cá cảnh mà là sản phẩm phụ của các dự án nuôi trồng thủy sản thâm canh, vì vậy cá con rất rẻ.
Hầu hết cá da trơn họ Pangasiidae đi vào thị trường cá cảnh là sản phẩm phụ của các chương trình nuôi trồng thủy sản, chẳng hạn như cơ sở này ở Việt Nam. © Philipp Sonderegger
Điều này cũng đồng nghĩa với biên lợi nhuận rất cao cho nhà xuất khẩu nên chúng khó có thể sớm biến mất khỏi danh sách hàng, trong khi việc tự điều chỉnh trong giới chơi cá cho đến nay chưa chứng tỏ hiệu quả, điều mà Chiến dịch Cá Lớn hy vọng sẽ thay đổi.
Như thường thấy ở động vật non, những loài này trông rất đáng yêu nên dễ bán, và chúng luôn chết khá nhanh nên việc mua bán thường lặp đi lặp lại. Hàng trăm nghìn cá con được bán cho bể cá mỗi năm, phần lớn bị định sẵn một tuổi thọ ngắn đi rất nhiều.
Dù dễ sa vào giật gân, nhưng có lẽ sẽ ít người mua những loài cá này hơn nếu họ nhận ra sự tàn nhẫn ẩn sau việc đó.
Trong loạt bài này, chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra một số lý do thực tế cho thấy vì sao việc buôn bán và mua những loài như vậy là một vấn đề lớn về phúc lợi động vật, bắt đầu với lý do rõ ràng nhất là kích thước khi trưởng thành, và thực tế là phần lớn cá lớn được nuôi trong bể không đạt được tiềm năng của chúng.
Huyền thoại về kích thước cá và kích thước bể
Một quan niệm sai lầm kinh điển là tốc độ tăng trưởng và kích thước cuối cùng của cá bằng cách nào đó sẽ được điều chỉnh theo kích thước bể mà nó sống, và với người mới chơi cá, điều này có vẻ đúng.
Có thể sắp có rắc rối… chiếc bể 45 cm này nuôi Pangasianodon hypophthalmus, Polypterus senegalus và cá koi.
Ví dụ, một con cá vàng, Carassius auratus, nuôi trong bể 30 cm x 20 cm có thể sống được vài năm và giữ kích thước dễ quản lý chỉ vài centimet, và thoạt nhìn đây có vẻ là kết quả chấp nhận được.
Tuy nhiên, khi được nuôi đúng cách, C. auratus có thể đạt 30 cm SL và sống 30 đến 40 năm, nghĩa là cá thể giả định nói trên không chỉ bị còi cọc nghiêm trọng về tăng trưởng mà còn không đạt tới một phần tư tuổi thọ tiềm năng, kể cả khi nó sống được 5 hoặc 6 năm.
Những cá thể còi cọc nặng của các loài cá da trơn khổng lồ như Pangasius, Phractocephalus hay Pseudoplatystoma, thường dài 30 - 60 cm, là cư dân phổ biến của các thủy cung công cộng và thường có dị tật cột sống hoặc sọ do nhiều năm bị nuôi trong những bể tư nhân nhỏ.
Do không thể lớn thêm vì những bất thường về xương này và do chịu căng thẳng kéo dài, những con cá này thường không đạt nổi một nửa kích thước của cá trưởng thành ngoài tự nhiên, ngay cả sau khi được chuyển sang nơi ở rộng hơn.
Vậy điều gì khiến cá nuôi trong điều kiện chật chội ngừng lớn, và điều này có tác động dây chuyền nào đến sức khỏe tổng thể và tuổi thọ của nó không?
Hormone ức chế tăng trưởng?
Người ta thường nói rằng cá thải vào nước các hormone hoặc pheromone hạn chế hay ức chế tăng trưởng, giúp chúng điều chỉnh sự phát triển theo môi trường xung quanh, và đây thường được đưa ra làm lý do để cho rằng cá sẽ 'lớn vừa với bể' mà không có tác hại gì.
Tuy nhiên, dù đã được ghi nhận đầy đủ rằng cá có bài tiết hormone tăng trưởng, và hoạt tính của nó có thể bị thay đổi hoặc bị ức chế bởi các yếu tố gây căng thẳng bên ngoài gọi là 'stressor' như ô nhiễm hay mật độ quá cao, chúng tôi không tìm được bằng chứng khoa học nào cho thấy chúng cũng tạo ra các chất hóa học hạn chế tăng trưởng. Tóm lại, loại chất này dường như không tồn tại.
Thay vào đó, có vẻ như chính sự tiết và hoạt tính của hormone tăng trưởng bị thay đổi trong một số hoàn cảnh nhất định, và đây có thể là một trong những nguyên nhân chính khiến cá lớn bị còi cọc trong bể, kể cả khi được cho ăn đầy đủ và trông có vẻ khỏe mạnh.
Những con cá da trơn Pangasiidae leucistic (bạch biến một phần) còi cọc nặng, đã lớn vượt quá bể, trở lại cửa hàng. Giờ sẽ ra sao với những con cá này? © Johnny Cabreney
Hóa chất, căng thẳng và sự ức chế tăng trưởng
Hormone tăng trưởng được biết là đóng vai trò trong việc điều hòa các quá trình sinh lý chính như cân bằng ion và thẩm thấu, chuyển hóa lipid, protein và carbohydrate, tăng trưởng xương và mô mềm, sự thèm ăn, sinh sản và chức năng miễn dịch.
Căng thẳng có thể được định nghĩa là phản ứng sinh lý trước một yếu tố gây căng thẳng, và nó cũng đóng vai trò then chốt đối với khả năng thực hiện các chức năng sống như tăng trưởng của cá, thông qua việc gây rối loạn cân bằng nội môi (homeostasis) (Van Weerd và Komen, 1998).
Khi cá cảm nhận một yếu tố gây căng thẳng, sẽ có một 'phản ứng căng thẳng' đi kèm, về bản chất là một chuỗi các sự kiện sinh lý đã tiến hóa để giúp cá thể vượt qua căng thẳng do yếu tố đó gây ra.
Điều này được truyền đến cơ thể qua hệ thần kinh trung ương bằng cả đường thần kinh lẫn đường hormone, và gồm hai giai đoạn.
Phản ứng căng thẳng sơ cấp chủ yếu mang tính nội tiết, với mục đích huy động năng lượng cần thiết để vượt qua yếu tố gây căng thẳng, trong khi phản ứng thứ cấp điều khiển sự thích nghi của hệ trao đổi chất và việc thiết lập lại cân bằng nội môi.
Trong điều kiện tự nhiên, cá tất nhiên sẽ chịu những giai đoạn căng thẳng ngắn, gây xáo trộn tạm thời cân bằng nội môi khi nồng độ cortisol và các chất hóa học khác tăng lên hoặc dao động trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, trong bể nuôi, việc tiếp xúc với các yếu tố gây căng thẳng thường liên tục hoặc kéo dài, và căng thẳng mạn tính đi kèm dẫn đến mất cân bằng nội môi kéo dài, khiến sự thích nghi là không thể hoặc chỉ đạt được sau một thời gian đáng kể.
Khi đó phản ứng căng thẳng trở thành một quá trình bất thích nghi thay vì thích nghi, và có thể dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi gồm giảm sức đề kháng với bệnh, suy giảm sinh sản và giảm tăng trưởng. Đây được gọi là phản ứng căng thẳng bậc ba.
Vậy cá bể cảnh chịu những yếu tố gây căng thẳng nào? Trông chúng khá thư thái mà!
Thực ra, không phải lúc nào cũng dễ xác định thế nào là hành vi 'bình thường' của cá, và do đó cũng khó xác định các phương pháp cần có để đáp ứng điều đó trong điều kiện nuôi nhốt.
Ngoài ra, có thể cho rằng tương đối khó đồng cảm với một con cá, và giả định chung dường như là nếu một cá thể bơi và ăn 'bình thường' thì mọi thứ đều ổn và nhu cầu của nó đang được đáp ứng.
Sự còi cọc có thể gây dị tật xương như cong cột sống, như thấy ở đây. © Wally Gobetz
Chúng tôi không chắc như vậy, và cho rằng cá 'lớn' thường phải chịu những điều kiện hoặc cách nuôi có thể xem là yếu tố gây căng thẳng, trong đó một số có thể không rõ ràng ngay từ đầu. Chúng gồm:
- Đói do cho ăn thiếu, chế độ cho ăn không phù hợp, cạnh tranh do có cá thể thống trị, hoặc người nuôi thiếu hiểu biết về nhu cầu dinh dưỡng của cá 'lớn' giai đoạn con.
- Suy dinh dưỡng. Sự thiếu hụt như vậy có thể xảy ra ngay cả khi khẩu phần cân bằng, đặc biệt ở cá con vốn lớn nhanh hơn cá trưởng thành. Đây có thể là nguyên nhân chính gây còi cọc và các dị tật xương đi kèm ở cá 'lớn' nuôi bể, cũng như việc dùng cá vàng 'làm mồi' trong khẩu phần của các loài săn mồi. Chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau.
- Sợ hãi và căng thẳng/hoảng loạn do có cá săn mồi hoặc cá thống trị, bị cầm nắm, thao tác nhiều lần, ánh sáng thay đổi đột ngột, v.v.
- Chất lượng nước và điều kiện môi trường kém; đặc biệt là oxy hòa tan thấp, pH không phù hợp hoặc dao động, nhiệt độ không phù hợp và thiếu chu kỳ ngày đêm, nồng độ carbon dioxide cao, chất rắn lơ lửng quá nhiều, và nồng độ cao của các sản phẩm thải chứa nitơ như amoniac và nitrit. Đây là một nguyên nhân chính khác gây còi cọc và tăng trưởng kém ở các loài này trong điều kiện nuôi nhốt.
- Căng thẳng do nhốt chật và hệ quả là không thể bơi theo cách tự nhiên; điều này đặc biệt nghiêm trọng với những loài cá 'lớn' vốn di cư hoặc di chuyển quãng đường dài ngoài tự nhiên. Sẽ nói thêm trong một bài sau.
- Thả nuôi quá nhiều và/hoặc mật độ quá cao.
- Tác động của việc thiếu kích thích từ môi trường chưa được nghiên cứu kỹ ở cá, nhưng có thể quan trọng hơn mức vẫn được chấp nhận theo truyền thống (Southgate, 2010), đặc biệt ở những cá nuôi trong bể hoàn toàn trống trơn.
Vậy cá 'lớn' nuôi nhốt có bị căng thẳng liên tục không?
Không nhất thiết, nhưng việc phần lớn cá không đạt được tiềm năng về kích thước trưởng thành và tuổi thọ cho thấy chúng phải chịu nhiều yếu tố gây căng thẳng kéo dài và sự phát triển bị cản trở đáng kể.
Bản thân điều này đã vi phạm luật phúc lợi động vật ở một số quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ và Anh, nơi luật áp dụng cho mọi loài động vật có xương sống, bao gồm cả cá.
Nhà bán buôn, nhà bán lẻ và người chơi cá...
...hãy ủng hộ Chiến dịch Cá Lớn. Việc buôn bán những loài cá này không nhất thiết phải bị ngăn cấm, nhưng việc bán hàng nghìn cá con mỗi năm là một vấn đề nghiêm trọng về phúc lợi động vật và chúng nên dành cho những người có khả năng nuôi đúng cách.
Người tiêu dùng, cứ thoải mái mua cá lớn, nhưng chỉ khi bạn có đủ nguồn lực cần thiết để nuôi chúng!!!
Liên kết hữu ích
- Trang web BFC
- Thư ủng hộ BFC
- Áp phích ủng hộ BFC
Bạn cũng có thể tìm thêm thông tin trên trang web của BIAZA.
Chúng tôi cũng rất muốn nghe ý kiến của bạn về vấn đề nhạy cảm này, dù bạn đứng về phía nào, vì vậy hãy đăng bình luận bên dưới, trên trang Facebook của chúng tôi, hoặc Tweet cho chúng tôi @seriouslyfish!
Các nhà bán lẻ và tổ chức cũng có thể cam kết ủng hộ trong phần bình luận tại đây và chúng tôi sẽ chuyển thông tin của bạn tới ban tổ chức chiến dịch để bổ sung vào danh sách trên trang web chính thức của họ.
Tài liệu tham khảo
Almeida, D., A. Almodóvar, G. G. Nicola, and B. Elvira. 2008. Fluctuating asymmetry, abnormalities and parasitism as indicators of environmental stress in cultured stocks of goldfish and carp. Aquaculture 279: 120–125
Bernier, N. J., N. Bedard, and R. E. Peter. 2004. Effects of cortisol on food intake, growth, and forebrain neuropeptide Y and corticotropin-releasing factor gene expression in goldfish. General and Comparative Endocrinology 135: 230–240
Chandroo, K. P., I. J. H. Duncan, and R. D. Moccia. 2004. Can fish suffer?: perspectives on sentience, pain, fear and stress. Applied Animal Behaviour Science 86: 225–250
Chizinski, C. J., K. L. Pope, G. R. Wilde, and R. E Strauss. 2010. Implications of stunting on morphology of freshwater fishes. Journal of Fish Biology 76: 564-579
Conte, S. F. 2004. Stress and the welfare of cultured fish. Applied Animal Behaviour Science 86: 205–223
Dyer,A. R., Z. Upton, D. Stone, P. M. Thomas, K. L. Soole, N. Higgs, K. Quinn, and J. F. Carragherd. 2004. Development and validation of a radioimmunoassay for fish insulin-like growth factor I (IGF-I) and the effect of aquaculture related stressors on circulating IGF-I levels. General and Comparative Endocrinology 135: 268–275
Fagundes, M., and E. Criscuolo Urbinati. 2008. Stress in pintado (Pseudoplatystoma corruscans) during farming procedures. Aquaculture 276: 112–119
Leatherland, J. F., and P. T. K. Woo (eds). 2010. Fish Diseases and Disorders, Volume 2: Non-infectious Disorders. CABI Publishing: 1-416
Pankhurst, N. W., S. L. Ludke, H. R. King, and R. E. Peter. 2008. The relationship between acute stress, food intake, endocrine status and life history stage in juvenile farmed Atlantic salmon, Salmo salar. Aquaculture 275: 311–318
Schreck, C. L. 2010. Stress and fish reproduction: The roles of allostasis and hormesis. General and Comparative Endocrinology 165: 549–556
Talbot, C. 1993. Some aspects of the biology of feeding and growth in fish. Proceedings of the Nutrition Society 52(3): 403-416
Van Weerd, J. H., and J. Komen. 1998. The effects of chronic stress on growth in fish: a critical appraisal. Comparative Biochemistry and Physiology Part A 120: 107–112
Wendelaar Bonga, S. E. 1997. The stress response in fish. Physiological Reviews 77(3): 591-625
Lưu ý biên tập: nguồn viết không thống nhất tên Latin (Pangasius/Pangasiodon/Pangasianodon, Pseudoplaytstoma/Pseudoplatystoma); các tên được giữ nguyên như bản gốc.
Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.