
Badidae, Ấn Độ
Cá badis
Badis badis
Tên khác: Cá tắc kè hoa, Cá chameleon, Badis, Chameleon fish
- Nhiệt độ
- 15–25°C
- pH
- 6–7,5
- Độ cứng (dGH)
- 3–15
- Kích thước
- 6 cm
- Bể tối thiểu
- 80 cm
- Độ khó
- Vừa 5/8
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-30.
Thông tin nhanh
Cá badis (Badis badis) là một loài badid nhỏ sống ở hệ thống sông Hằng, thuộc Ấn Độ, Nepal và Bangladesh. Ngoài ra, người ta còn ghi nhận nó ở Assam và trên sông Mahanadi. Cá đôi khi được bán dưới tên "cá tắc kè hoa" (chameleon fish) vì nó đổi màu rất nhanh, nhất là lúc sinh sản hoặc bị stress. Trước năm 2002, đây là một trong hai loài badid duy nhất được dân chơi ưa chuộng. Nhiều loài cùng giống cũng có đốm cleithral sẫm màu giống nó, nên phân biệt khá khó. Cá chậm chạp và nhút nhát. Nếu bể chật, các con đực có thể đánh nhau khá dữ.
Theo Seriously Fish
Cần bể bao lớn?
Một cặp hoặc một nhóm nhỏ có thể sống trong bể có đáy từ 80 × 30 cm trở lên. Thể tích bể khoảng 72 lít.
Theo Seriously Fish
Nước cần thế nào?
- Nhiệt độ: 15–25°C
- pH: 6,0–7,5
- Độ cứng: 3–15 dGH
Theo Seriously Fish

Chăm sóc ra sao?
B. badis sống khỏe trong bể có bố cục nhiều chỗ ẩn. Bạn có thể trải nền cát hoặc sỏi, rồi đặt thêm ít đá và sỏi cuội đã bị nước bào nhẵn để cá có chỗ núp. Nếu thích thì thêm những loại cây buộc được lên lũa, đá, nhưng không bắt buộc. Cành lũa nhỏ, cành cây, cây thủy sinh nổi và lá khô cũng dùng được. Lọc và đèn thì không cần mạnh lắm. Trong bể nên có vài chỗ dạng hang để cá có nơi đẻ. Nhiều người nuôi dùng nửa gáo dừa, hoặc chậu đất nung úp ngược rồi khoan lỗ hay cắt bớt một phần miệng cho cá chui vào.
Theo Seriously Fish
Cho ăn gì?
Các loài Badis là loài săn mồi cỡ nhỏ. Ngoài tự nhiên, chúng ăn giáp xác nước nhỏ, giun, ấu trùng côn trùng và các loại động vật phù du khác. Trong bể, cá thường chê thức ăn khô. Thay vào đó, bạn nên cho ăn đồ sống hoặc đông lạnh cỡ nhỏ như Artemia, bo bo hay lăng quăng trong suốt (glassworm).
Cá hơi nhát và ăn từ tốn. Có một điểm cần nhớ: loài Badis nào cũng dễ béo phì và dễ bệnh hơn nếu ăn ấu trùng muỗi lắc (trùng huyết) và trùng chỉ. Vì vậy, hai món này nên bỏ hẳn khỏi thực đơn.
Theo Seriously Fish
Nuôi chung với con gì?
Loài này chậm chạp và nhút nhát. Nuôi chung với cá lớn hơn hoặc cá dữ thì nó có thể bị bắt nạt hoặc bị giành hết mồi. Chắc chắn không nên nuôi chung với cá tầng đáy có tính lãnh thổ, trừ khi bể thật lớn. Cũng tuyệt đối không nuôi chung với các loài Badis khác, vì chúng có thể lai với nhau. Ngoài ra, tép nước ngọt thuộc hai giống phổ biến Caridina và Neocaridina có thể bị cá săn.
Đây không hẳn là loài sống theo bầy. Các con đực có thể khá hung dữ với nhau, nhất là khi bể chật. Với bể nhỏ, bạn chỉ nên mua một cặp, hoặc một đực với vài cái. Bể rộng hơn thì nuôi được cả nhóm, miễn là đủ chỗ cho mỗi con đực chiếm một khu riêng. Bố trí hang cho khéo sẽ đỡ được nhiều chuyện này. Chẳng hạn, đừng dồn hết chỗ đẻ vào cùng một góc.
Theo Seriously Fish

Phân biệt đực cái thế nào?
Con cái nhỏ hơn và kém màu hơn. Vây con cái không có sắc xanh, còn thân thì ngắn và tròn hơn con đực thấy rõ. Con đực khi trưởng thành sẽ có vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi dài ra.
Theo Seriously Fish
Sinh sản ra sao?
Các loài trong giống này đẻ trong hang và chỉ ghép cặp tạm thời. Muốn vớt được nhiều cá bột thì tốt nhất đừng thả loài cá nào khác. Dù vậy, trong một bể cộng đồng đã ổn định và bày biện đầy đủ, vẫn có thể có vài con sống được đến lúc trưởng thành. Bạn có thể cho đẻ theo cặp hoặc theo nhóm cá trưởng thành. Nếu có nhiều con đực thì phải đảm bảo mỗi con có một hang để giữ.
Khi vào độ sinh sản, các con đực ngày càng gây gổ với nhau. Chúng cũng bắt đầu tán tỉnh những con cái đi vào khu của mình. Lúc này màu cá thay đổi: thân sẫm lại gần như đen, còn các vây xanh thì đậm màu hơn. Cảnh hai con khóa miệng nhau cũng hay gặp, con đực cố kéo hẳn con cái vào hang. Con cái nào đã sẵn sàng sẽ tự vào, và cặp cá đẻ trong đó. Mỗi lứa thường được 30–100 trứng.
Đẻ xong, con đực đuổi con cái ra ngoài và một mình lo trứng với cá bột. Nó giữ khu của mình trước kẻ lạ và dùng vây quạt nước cho trứng. Đến đây bạn có thể vớt các cá trưởng thành khác ra, dù không hẳn là cần thiết. Trứng thường nở sau 2–3 ngày. Tuy vậy, phải đến khi được 6–8 ngày tuổi cá bột mới bơi tự do, và có thể thêm chừng một tuần nữa chúng mới rời khỏi khu quanh hang. Từ lúc đó, cá trưởng thành (kể cả cá bố) có thể bắt đầu coi cá con là mồi, nên tốt nhất hãy chuyển cá con sang bể riêng. Mấy ngày đầu cá con gần như chỉ nằm một chỗ, vì vậy giun microworm là món khởi đầu lý tưởng. Khi thấy chúng bơi hẳn lên tầng nước thì có thể cho ăn thêm ấu trùng Artemia.
Theo Seriously Fish
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Cá có nguồn gốc từ hệ thống sông Hằng, trải dài từ sông Yamuna ở bang Himachal Pradesh (Ấn Độ) xuống tận vùng châu thổ ở Bangladesh. Loài này cũng có mặt ở các nhánh sông Hằng tại Nepal. Ở Ấn Độ còn có thêm ghi nhận từ hệ thống sông Mahanadi ở hai bang Chhattisgarh và Orissa, cùng một số vùng thuộc bang Assam như thành phố Guwahati, Vườn quốc gia Kaziranga và lưu vực sông Dibru.
Khi mô tả loài này, Hamilton chỉ dựa vào ghi chép thực địa và hình vẽ. Vì thế Kullander và Britz (2002) đã chỉ định một mẫu chuẩn thay thế (neotype) để khỏi nhầm với các loài cùng giống trông na ná nó.
Nơi thu mẫu neotype là "bờ sông Tumapao gần làng Duma (lưu vực sông Hằng), cách Calcutta, Tây Bengal, Ấn Độ khoảng 65 km về phía bắc-đông bắc, 22°58'03"N, 88°49'49"E".
Theo Seriously Fish

Môi trường tự nhiên
Nơi thu mẫu neotype là một con suối rộng (>100 m), nông (<1 m) và chảy chậm. Suối chảy qua ruộng lúa và ven bờ không có nhiều cây cỏ. Nước ở đây được ghi là "đục vừa phải" và "ngả nâu". Đáy là bùn, trên đó có mọc một số cây thủy sinh nhưng không rõ là loài gì.
Mô tả ở các điểm thu mẫu khác cho thấy loài này chuộng nước đục, dòng chảy yếu và có cây mọc chìm. Cá hay sống quanh các đám súng. Trên sông Dibru, nó sống chung với B. assamensis.
Theo Seriously Fish
Ghi chú
Loài này đôi khi được bán dưới tên thương mại "cá tắc kè hoa" (chameleon fish) vì nó đổi màu rất nhanh, nhất là lúc sinh sản hoặc bị stress. Hamilton mô tả nó lần đầu với tên Labrus badis. Đến năm 1854, Bleeker xếp lại nó thành Badis buchanani. Lý do là ông đã lấy tên loài "badis" làm tên mới cho giống và muốn tránh tautonym (tên giống trùng tên loài). Thời đó, phân loại học động vật tránh dùng tautonym, nhưng nay quy tắc ICZN đã cho phép. Vì thế Badis badis mới là tổ hợp tên đúng.
Trước năm 2002, họ Badidae chỉ có năm loài. Trong số đó, chỉ B. badis và ở mức kém hơn là Badis dario (một số nguồn gọi là B. bengalensis) được dân chơi cá cảnh ưa chuộng. Năm đó, Kullander và Britz công bố một bài tổng duyệt lớn, lập ra mười loài mới cùng với giống Dario. B. dario được chuyển sang giống mới này và được chọn làm loài chuẩn. Muốn phân biệt Dario với Badis thì dễ nhất là nhìn vào các điểm sau. Dario nhỏ hơn khi trưởng thành (thường dưới 25 mm) và chủ yếu mang màu đỏ. Con đực có tia vây lưng phía trước và tia vây ngực kéo dài. Vây đuôi của Dario có mép thẳng (Badis thì tròn), không thấy rõ đường bên, và cá bố mẹ ít chăm con hơn. Về sau, cả hai giống đều có thêm một số loài mới được mô tả.
Một số loài không phải lúc nào cũng dễ định danh đúng. Ví dụ, B. badis, B. chittagongis, B. ferrarisi, B. kanabos, B. khwae, B. ruber, B. siamensis, B. soraya và B. tuivaiei đều có một đốm cleithral sẫm màu nằm ngay trên gốc vây ngực. Tuy vậy, B. khwae, B. ruber và B. siamensis còn có thêm một mảng màu ở cuống đuôi. B. badis thì khác B. kanabos ở hai điểm. Thứ nhất, B. badis có một loạt vết sẫm trên vây lưng và/hoặc ở gốc vây lưng, còn B. kanabos chỉ có một vết ở phía trước vây. Thứ hai, các vạch dọc trên hông B. badis chỉ mờ hoặc không rõ, còn B. kanabos có một loạt vạch hẹp sẫm màu. B. badis, B. chittagongis, B. dibruensis, B. soraya, B. tuivaiei và B. ferrarisi chỉ khác nhau ở vài chỉ số hình thái. Riêng B. ferrarisi có hoa văn rất dễ nhận, với một loạt vạch đen dọc chạy giữa hông.
Trước đây, các loài badid từng được xếp vào họ Nandidae hoặc Pristolepididae. Mãi đến năm 1968, Barlow mới đề xuất tách chúng thành một nhóm riêng. Badid có một số đặc điểm chung với nhóm cá anabantoid, nandid và channid. Đặc điểm người chơi dễ thấy nhất là kiểu ôm nhau khi đẻ, con đực quấn thân quanh con cái. Các nghiên cứu gần đây kết luận rằng tập tính này là nét cổ xưa, thừa hưởng từ tổ tiên chung của tất cả các họ nói trên. Mọi loài Badis, Dario và Nandus đều có gai huyết (hemal spine) chẻ đôi ở đốt sống áp chót, một đặc điểm không nhóm nào khác có. Đây có thể là bằng chứng cho thấy nhóm này đơn ngành. Nandidae và Badidae chỉ khác nhau về hình thái và cấu trúc trứng, và các phân tích phát sinh loài cho thấy hai họ này hợp thành một nhóm đơn ngành.
Các nghiên cứu cũng cho thấy trong giống Badis có vài nhóm loài giả định. Mỗi nhóm gồm những loài gần gũi nhau nhất. Nhóm B. badis nhận ra nhờ đốm cleithral. Nhóm B. ruber có đốm cleithral cộng thêm một mảng màu ở phía trên hai bên cuống đuôi. Nhóm B. assamensis có kiểu màu riêng gồm các sọc sáng và sẫm xen nhau. Nhóm B. corycaeus có một vết hình mắt ở gốc vây đuôi, và số lỗ cảm giác trên đầu ít đi. Nhóm B. autumnum có một mảng sẫm ở giữa cuống đuôi, không có mảng cleithral, có 12 vạch dọc trên gáy, hông và cuống đuôi, và thân thon dài. Nhóm B. singenensis có kích thước nhỏ (<45 mm SL), có 2–3 mảng đen trên vây lưng và một mảng trên vây hậu môn. Ở gốc vây đuôi của nhóm này còn có một mảng sẫm nằm giữa, nổi rõ, bao quanh là một vòng màu nhạt hơn.
Có vài loài khá đặc biệt, không thuộc nhóm nào kể trên. B. kyar khác các loài khác ở thân tương đối thon dài, kiểu vạch dọc và vết hình dải trên vây đuôi. Loài này có thể là nhóm chị em của nhóm B. ruber, hoặc của nhóm B. badis/B. assamensis. B. juergenschmidti giống B. kyar ở một số điểm. Tuy nhiên, vạch dọc đầu tiên trên thân nó thẳng chứ không cong. Ở con đực, vây lưng và thùy dưới vây đuôi có viền trắng, còn B. kyar không có hoa văn trắng. B. britzki có thân mảnh và 21–24 vảy đường bên có lỗ. Màu của nó gồm 11 vạch dọc, cộng thêm các mảng đen đỏ xen nhau như khảm trên hông và cuống đuôi. Loài này không có mảng màu ở vùng cleithral, nắp mang hay cuống đuôi, và cũng không có vết hình mắt ở gốc vây đuôi.
Theo Seriously Fish
Tài liệu tham khảo
- Kullander, S. O. and R. Britz (2002). Revision of the family Badidae (Teleostei: Perciformes), with description of a new genus and ten new species. Ichthyological Exploration of Freshwaters 13(4), 295-372
- Rüber, L., R. Britz, S. O. Kullander and R. Zardoya (2004). Evolutionary and biogeographic patterns of the Badidae (Teleostei: Perciformes) inferred from mitochondrial and nuclear DNA sequence data. Molecular Phylogenetics and Evolution 32(3), 1010-1022
- Geetakumari, K.H. and W. Vishwanath (2010). Badis dilbruensis, a new species (Teleostei: Badidaae) from northeastern India. Journal of Threatened Taxa 2(1), 644-647
- Schindler, I. and H. Linke (2010). Badis juergenschmidti - a new species of the Indo-Burmese fish family Badidae (Teleostei: Perciformes) from Myanmar. Vertebrate Zoology 60(3), 209-216
- Vishwanath, W. and K. Shanta (2004). A new fish species of the Indo-Burmese genus Badis Bleeker (Teleostei: Perciformes) from Manipur, India. Zoos' Print Journal 19(9), 1619-1621
- Collins, R. A., R. Britz, and L. Rüber (2015). Phylogenetic systematics of leaffishes (Teleostei: Polycentridae, Nandidae). Journal of Zoological Systematics and Evolutionary Research 53(4), 259-272
- Valdesalici, S. and S. Van der Voort (2015). Badis laspiophilus, a new miniature addition to the ichthyofauna of West Bengal, north-eastern India, with observations on its ecology and preliminary notes on its ethology (Actinopterygii: Perciformes: Badidae). Zootaxa 3986(2), 193-200
- Valdesalici, S. and S. Van der Voort (2015). Four new species of the Indo-Burmese genus Badis from West Bengal, India (Actinopterygii: Perciformes: Badidae). Zootaxa 3985(3), 391-408
- Dahanukar, N., P. Kumkar, U. Katwate, and R. Raghavan (2015). Badis britzi, a new percomorph fish (Teleostei: Badidae) from the Western Ghats of India. Zootaxa 3941(3), 429-436
- Hamilton, F. (1822). An account of the fishes found in the river Ganges and its branches. An account of the fishes found in the river Ganges and its branches., i-vii + 1-405
Theo Seriously Fish
Bài viết nhắc đến loài này
Video
Battle of the Badis Fish! Tiny Fish with Big Attitudes18:51, EN
How to Breed Blue Badis (Badis badis) and Fry Care | Serendib Aquatics18:26, EN
Badis badis in natural habitat INDIAN NANO FISH | Aqua adventure |4:38, EN
Building a Natural Blackwater Aquarium for Chameleon Fish (Badis badis) | Full Setup58:47, EN-GB
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá badis? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.
Gửi ảnh Cá badis của bạn
Thiết bị phù hợp
- Bể cábể cá 80cmShopeeLazadaTiki
- Bể cábể cá 72 lítShopeeLazadaTiki
- Thức ănartemia đông lạnhShopeeLazadaTiki
- Thức ănbo bo đông lạnhShopeeLazadaTiki
- Nền và lácát nền bể cáShopeeLazadaTiki
- Nền và lásỏi nền thủy sinhShopeeLazadaTiki
- Lọclọc thùng nhỏShopeeLazadaTiki
- Lọclọc mút sủiShopeeLazadaTiki
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.