
Cyprinidae, Thái Lan
Cá mập đuôi đỏ
Epalzeorhynchos bicolor
Tên khác: Cá mập đen đuôi đỏ, Red-Tailed Black Shark
- Nhiệt độ
- 20–26°C
- pH
- 6–8
- Độ cứng (dGH)
- 2–15
- Kích thước
- 12,5 cm
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
- Vừa 5/8
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-30.
Thông tin nhanh
Cá mập đuôi đỏ (Epalzeorhynchos bicolor) là một loài cá thuộc họ cá chép, có nguồn gốc ở miền trung và miền tây Thái Lan, trong lưu vực sông Mae Klong và Chao Phraya. Năm 1996, loài này bị tuyên bố tuyệt chủng, nhưng người ta tìm thấy lại nó vào năm 2011 và 2014. Hiện nay nó được xếp vào diện cực kỳ nguy cấp. Toàn bộ cá bán trên thị trường đều do các trại nuôi thương mại sản xuất. Cá càng lớn càng giữ lãnh thổ gắt, nhất là với những loài trông giống nó. Tuổi thọ có thể hơn 15 năm.
Theo Seriously Fish
Cần bể bao lớn?
Bể nhỏ nhất nên có đáy 120 × 45 cm, tức khoảng 243 lít. Nếu nuôi theo nhóm thì cần bể lớn hơn.
Theo Seriously Fish
Nước cần thế nào?
- Nhiệt độ: 20–26°C
- pH: cá sống ổn trong khoảng 6,0–8,0, nhưng người ta thường khuyên giữ quanh mức trung tính.
- Độ cứng: 2–15 dGH
Theo Seriously Fish
Chăm sóc ra sao?
Chỉ cần đủ chỗ trốn là loài này không kén cách bài trí. Nó cũng thường không phá các loại cây lá mềm. Dù vậy, cá sẽ sống khỏe nhất trong một bể mô phỏng dòng sông nước chảy, với nền gồm đá nhiều cỡ, sỏi và vài tảng đá lớn đã bị nước mài nhẵn.
Bạn có thể bày thêm rễ và cành lũa, cùng các loại cây thủy sinh thuộc chi Microsorum, Bolbitis hoặc Anubias. Những cây này trồng buộc lên đá, lũa được. Đèn mạnh sẽ làm tảo và các vi sinh vật sống kèm phát triển, và cá sẽ gặm lớp này làm thức ăn.
Giống nhiều loài cá sống ở nước chảy, cá mập đuôi đỏ chịu rất kém khi chất thải hữu cơ tích tụ trong bể. Nó sống tốt nhất khi nước giàu oxy hòa tan và có dòng chảy vừa phải.
Theo Seriously Fish

Cho ăn gì?
Ngoài tự nhiên, cá chủ yếu gặm lớp aufwuchs (lớp tảo và sinh vật nhỏ bám trên bề mặt), ăn tảo, giáp xác nhỏ, ấu trùng côn trùng và những thứ tương tự. Muốn cá lên màu đẹp nhất và khỏe mạnh, bạn nên cho ăn đều đặn thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như ấu trùng muỗi chironomid (trùng huyết), bo bo và Artemia. Kèm theo đó là thức ăn khô dạng mảnh, dạng viên loại tốt và rau tươi.
Đậu Hà Lan bóc vỏ, dưa chuột, bí ngòi chần, rau chân vịt và trái cây cắt nhỏ đều là những món nên thêm vào thực đơn. Khi đã quen bể, cá thường bơi lên tầng giữa để ăn. Nó cũng hay gặm lớp màng vi sinh bám trên đá và các bề mặt cứng khác.
Theo Seriously Fish
Nuôi chung với con gì?
Loài này thường được bán như cá cho bể cộng đồng, nhưng thực ra phần lớn trường hợp nó không hợp với bể cộng đồng thông thường. Không phải là bắt buộc nuôi riêng một con, mà là phải chọn bạn cùng bể thật kỹ. Lúc còn nhỏ, cá hay trốn biệt. Càng lớn, nó càng giữ lãnh thổ gắt và có thể rất hung dữ với những loài trông giống nó.
Có con dữ hơn con khác. Cũng có những báo cáo về chuyện cá dường như kết thân với loài khác, chẳng hạn Chromobotia macracanthus. Chưa rõ những khác biệt về tính nết này có phải do giới tính hay không. Dù sao thì các loài Epalzeorhynchos có vẻ để yên cho các loài cá chạch thuộc chi Chromobotia, Botia, Syncrossus và Yasuhikotakia. Ngược lại, các loài cùng chi, hay các loài thuộc Crossocheilus, Garra và Gyrinocheilus, thường bị tấn công liên tục. Bạn lưu ý là các loài cá chạch kể trên không phải loài nào cũng nuôi chung với nhau được, nên cần tìm hiểu kỹ trước.
Nên tránh các loài cá tầng đáy khác, kể cả cichlid và phần lớn cá da trơn, vì chúng cũng có thể bị bắt nạt. Tầng trên thì nên chọn các loài cá họ chép sống đàn, khỏe và hiếu động. Tốt nhất là thả cá mập đuôi đỏ vào bể sau cùng. Như vậy nó sẽ không coi cả bể là lãnh thổ của mình.
Nhiều khả năng loài này sống đơn độc. Ngoài tự nhiên, có lẽ nó chỉ thỉnh thoảng gặp đồng loại, và chủ yếu vào mùa sinh sản. Bản năng này càng mạnh khi cá lớn tuổi. Vì thế, trong phần lớn trường hợp, chỉ nên nuôi một con. Trong một bể rất lớn với nhiều chỗ trốn, bạn có thể thử nuôi chung vài con. Có điều mỗi con nhiều khả năng cần một vùng lãnh thổ đường kính ít nhất một mét.
Theo Seriously Fish
Phân biệt đực cái thế nào?
Cá cái trưởng thành có thân dày hơn hẳn cá đực. Còn với cá nhỏ thì không thể nhìn bề ngoài mà phân biệt đực cái chính xác. Có thể cá đực có các vây lẻ dài hơn một chút.
Theo Seriously Fish
Sinh sản ra sao?
Theo những gì đã biết, chưa ai cho loài này sinh sản thành công trong bể nuôi tại nhà. Các trại thương mại sản xuất số lượng lớn bằng cách dùng hormone kích thích sinh sản nhân tạo.
Theo Seriously Fish

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Loài này có nguồn gốc ở miền trung và miền tây Thái Lan. Các ghi nhận trước đây đến từ hạ lưu sông Mae Klong, hạ lưu sông Chao Phraya và sông Bangpakong. Cả ba con sông đều đổ ra phần cực bắc của Vịnh Thái Lan.
Nơi thu mẫu chuẩn là 'một nhánh nhỏ của sông Menam Chao Phya, gần Paknampo [Nakorn-Sawan], miền trung Thái Lan'. Vào thời điểm đó (1931), cá còn rất nhiều.
Năm 1996, loài này chính thức bị tuyên bố tuyệt chủng. Thủ phạm thường bị nhắc đến là việc bắt cá phục vụ thị trường cá cảnh (dù có vẻ không có bằng chứng nào cho chuyện này), ô nhiễm từ nông nghiệp và sinh hoạt, cùng những thay đổi khác về môi trường sống như xây đập. Tuy vậy, đến năm 2011, người ta lại thấy một quần thể nhỏ, sống khu trú trong một vùng rất hẹp ở lưu vực Chao Phraya.
Năm 2014, giới nghiên cứu xác nhận loài này vẫn còn trong hệ thống sông Mae Klong, khi thu được một cá thể duy nhất ở dòng chính của sông, gần đập Maeklong thuộc huyện Muang, tỉnh Kanchanaburi. Vì thế tình trạng hiện nay của loài vẫn chưa rõ. Trong lúc chờ thêm ghi nhận, nó được xếp vào diện cực kỳ nguy cấp.
Toàn bộ cá bán làm cảnh đều do các trại nuôi thương mại sản xuất, nhiều khả năng bằng cách dùng hormone.
Theo Seriously Fish
Môi trường tự nhiên
Cá thể thu gần đây ở sông Mae Klong được bắt ở một đoạn sông nước chảy, trong và sâu hơn một mét. Đáy sông là cát và đá lớn. Những loài cá sống cùng khu vực gồm Clupeichthys goniognathus, Notopterus notopterus, Rasbora aurotaenia, Barbonymus schwanefeldii, Cirrhinus molitorella, Opsarius koratensis, Mystacoleucus obtusirostris, Osteochilus vittatus, O. microcephalus, Nemacheilus masyae, Homalopteroides smithi, Acanthopsoides gracilentus, Pangio oblonga, Pseudomystus siamensis, Dermogenys siamensis, Mastacembelus favus, Pristolepis fasciata và Chanda siamensis.
Các loài khác trong chi thường sống ở sông suối có nước chảy. Vào mùa mưa, chúng di chuyển vào các vùng đồng bằng ngập nước theo mùa hoặc vào rừng ngập. Người ta cho rằng chính các hoạt động phát triển của con người đã làm gián đoạn những đợt di cư này.
Theo Seriously Fish
Ghi chú
Dù là loài cá cảnh phổ biến, cá mập đuôi đỏ hiếm khi được nuôi trong điều kiện lý tưởng. Cá con thường được bán ra mà gần như không kèm thông tin gì về tính nết, kích thước khi trưởng thành và tuổi thọ có thể hơn 15 năm.
Người bán cũng hay giới thiệu nó là cá ăn rêu. Cá có gặm rêu thật, nhưng không hiệu quả bằng một số loài Crossocheilus chẳng hạn. Mua nó chỉ để diệt rêu thì không đáng.
Trước đây, phần lớn các loài Epalzeorhynchos được xếp vào chi Labeo, nên tài liệu cũ vẫn gọi chúng theo tên này. Theo Rainboth (1996), các loài trong chi có những đặc điểm sau: không có gai vây lưng, có 10–13 tia vây lưng phân nhánh, có một lớp màng mỏng nối môi trên với môi dưới, và có các thùy mõm cứng, cử động tự do.
Bản thân chi Epalzeorhynchos cũng mới thay đổi khá nhiều. Một vài loài đã bị chuyển sang Crossocheilus, còn E. bicornis được chuyển sang chi mới Akrokolioplax (Zhang và Kottelat, 2006). Chi Akrokolioplax được lập ra dựa trên khác biệt về hình thái miệng và về vị trí, cấu trúc của cái gọi là 'thùy bên mõm'. Đây là đặc điểm chỉ hai chi này có.
Trong các loài còn lại, E. frenatum và E. kalopterus đã là những loài quen thuộc trong giới chơi cá cảnh từ nhiều năm nay. Danh tính của E. munense thì giờ có vẻ đã rõ. Smith (1934) mô tả loài này có thân màu nâu, vây lưng đen viền trắng và vây đuôi trắng. Nơi thu mẫu chuẩn là sông Mun/Moon, một nhánh của sông Mekong ở miền đông Thái Lan.
Những cá thể thu được về sau trông giống E. bicolor và E. frenatum. Tuy nhiên, có thể nhận ra chúng nhờ tổ hợp đặc điểm riêng: đầu, thân và vây hậu môn màu đen, vây đuôi và vây lưng màu đỏ, vây bụng và vây ngực có viền đen (Kottelat, 1998).
Nhiều tác giả đã ghi nhận những đặc điểm này. Họ cũng lưu ý rằng mẫu ngâm cồn thường mất màu đỏ ở vây sau ba tháng. Ngoài ra, mẫu holotype của E. munense được thu tám năm trước khi loài được mô tả, nên bản mô tả không có màu sắc lúc cá còn sống. Cũng không thể loại trừ khả năng E. frenatum và E. munense đã từng bị lai với nhau ở các trại nuôi.
Một số người chơi đang nuôi hoặc từng nuôi một loại cá trông rất giống E. bicolor nhưng có vây đuôi trắng. Loại cá này thường lẫn trong các lô E. frenatum. Chưa rõ đây là một biến dị di truyền ở cá trại hay có thể là một loài chưa được mô tả. Điều chắc chắn là màu trắng này không đổi theo tuổi hay theo chế độ nuôi.
Các trại thương mại cũng sản xuất một dạng đột biến thiếu sắc tố đỏ (anerythristic) của E. frenatum. Dạng này có vây vàng nhạt và đôi khi bị nhầm với E. munense. Gần đây trên thị trường còn có thêm dạng bạch tạng của E. bicolor, nhưng nó chưa phổ biến bằng dạng bạch tạng của E. frenatum, vốn có mặt ở khắp nơi.
Theo Seriously Fish
Tài liệu tham khảo
- Zhang, E. and M. Kottelat (2006). Akrokolioplax, a new genus of Southeast Asian labeonine fishes (Telesotei: Cyprinidae). Zootaxa 1225, 21-30
- Rainboth, W. J. (1996). Fishes of the Cambodian Mekong. FAO Species Identification Field Guide for Fishery Purposes. FAO, Rome, 1-265
- Yang, J.-X. and R. Winterbottom (1998). Phylogeny and zoogeography of the cyprinid genus Epalzeorhynchos Bleeker (Cyprinidae: Ostariophysi). Copeia 1998(1), 48-63
- Kottelat, M. (1998). Fishes of the Nam Theun and Xe Bangfai basins, Laos, with diagnoses of twenty-two new species (Teleostei: Cyprinidae, Balitoridae, Cobitidae, Coiidae and Odontobutidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 9(1), 1-128
- Smith, H. M. (1931). Descriptions of new genera and species of Siamese fishes. Proceedings of the United States National Museum 79(2873), 1-48
- Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27, 1-663
- Kulabtong, S., S. Suksri, C. Nonpayom, and Y. Soonthornkit (2014). Rediscovery of the critically endangered cyprinid fish Epalzeorhynchos bicolor (Smith, 1931) from West Thailand (Cypriniformes: Cyprinidae). Biodiversity Journal 5(2), 371-373
Theo Seriously Fish
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá mập đuôi đỏ? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.
Gửi ảnh Cá mập đuôi đỏ của bạn
Thiết bị phù hợp
- Bể cábể cá 120cmShopeeLazadaTiki
- Bể cábể cá 240 lítShopeeLazadaTiki
- Lọclọc thùng bể 120cmShopeeLazadaTiki
- Lọcmáy tạo dòng chảyShopeeLazadaTiki
- Thức ănthức ăn cá viên chìmShopeeLazadaTiki
- Thức ănrau củ cho cáShopeeLazadaTiki
- Thức ăntrùng huyết đông lạnhShopeeLazadaTiki
- Nền và lásỏi nền bể cáShopeeLazadaTiki
- Nền và láđá cuội trang trí bể cáShopeeLazadaTiki
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.