Characidae, Peru
Cá tetra chim ruồi
Trochilocharax ornatus
- Nhiệt độ
- 20–28°C
- pH
- 4–6,5
- Bể tối thiểu
- 45 cm
- Độ khó
- Vừa
Tên khác: Cá tetra cầu vồng pha lê, Cá tetra kính đuôi cam, Hummingbird Tetra, Crystal rainbow tetra, Orange-tailed glass tetra
- Nhiệt độ
- 20–28°C
- pH
- 4–6,5
- Độ cứng (dGH)
- 1–8
- Kích thước
- 1,7 cm
- Bể tối thiểu
- 45 cm
- Độ khó
- Vừa 5/8
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
- Seriously Fish
- pH
- Seriously Fish
- Độ cứng (dGH)
- Seriously Fish
- Kích thước
- Seriously Fish
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
- Seriously Fish
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-03.
Nuôi chung
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →
Thông tin nhanh
Cá tetra chim ruồi (Trochilocharax ornatus) là một loài characid tí hon ở vùng Amazon thuộc Peru. Cá chỉ dài tối đa 17 mm SL. Trên thị trường, cá có tên thương mại 'crystal rainbow tetra' và 'orange-tailed glass tetra', và rất được dân chơi săn tìm. Bộ mẫu chuẩn lấy từ một lô cá cảnh nhập từ Iquitos. Các nguồn vẫn nói khác nhau về chuyện cá đến từ sông Ampiyacu hay sông Nanay.1
Cần bể bao lớn?
Muốn nuôi lâu dài, bể nên có mặt đáy tối thiểu 45 × 30 cm (khoảng 41 lít) hoặc tương đương. Nếu chỉ để cho cá đẻ thì bạn có thể dùng bể nhỏ hơn.1
Nước cần thế nào?
Chăm sóc ra sao?
Cá sống tốt nhất trong bể bày trí có nhiều cấu trúc. Lý tưởng nhất là nền cát cùng vài rễ và cành lũa.
Rải thêm lá khô làm bể trông tự nhiên hơn và cho cá thêm chỗ trú. Khi lá phân hủy, các quần thể vi sinh cũng phát triển theo.
Đám vi sinh này có thể là nguồn thức ăn phụ rất đáng giá cho cá bột. Tanin và các chất khác do lá mục tiết ra cũng được xem là có lợi cho cá gốc nước đen. Muốn có tanin, bạn cũng có thể dùng quả alder.
Loài này có vẻ hợp với ánh sáng khá tối. Bạn có thể trồng các loại cây chịu được điều kiện này như Microsorum, Taxiphyllum hoặc Cryptocoryne. Cây nổi, nhất là Ceratopteris, cũng rất có ích.
Muốn cho cá sinh sản, nước cần có tính axit, KH gần như bằng không và GH rất thấp. Vì vậy, có thể bạn sẽ phải dùng máy lọc RO (thẩm thấu ngược) hoặc cách khác để có nước mềm. Nếu cần, bạn có thể hạ pH thêm bằng axit photphoric hoặc chất tương tự.
Không cần dùng than bùn tự nhiên. Khai thác than bùn vừa không bền vững vừa tàn phá môi trường.
Khỏi phải nói, loài này rất nhạy với chất thải hữu cơ lên xuống thất thường. Tuyệt đối không thả cá vào bể chưa ổn định vi sinh.1
Cho ăn gì?
Trong tự nhiên, có lẽ cá là loài săn mồi tí hon, chuyên ăn động vật không xương sống nhỏ và các loại phù du động vật khác.
Trong bể, cá chịu ăn thức ăn khô cỡ vừa miệng. Dù vậy, mỗi ngày bạn vẫn nên cho cá ăn thêm đồ sống hoặc đông lạnh cỡ nhỏ như ấu trùng Artemia, Daphnia, Moina, giun grindal...1
Nuôi chung với con gì?
Cá hiền với các loài khác. Tuy vậy, nó không hợp lắm với bể cộng đồng vì thân quá nhỏ và yêu cầu khá riêng.
Tốt nhất là nuôi riêng. Cùng lắm thì nuôi chung với các loài characid tí hon, hiền lành và các loài cá da trơn callichthyid hoặc loricariid cỡ nhỏ.
Cá cũng rất hợp làm cá dẫn dụ (dither fish, loại cá bơi lượn công khai giúp cá chính bớt nhát) cho Apistogramma và các loài cichlid lùn khác. Lý do là nó hay bơi ở tầng giữa và tầng trên của bể.
Dù bản tính thích sống theo nhóm, đây là loài bơi thành đám lỏng (shoaling) chứ không bơi thành đàn đồng bộ (schooling). Các con đực có lãnh thổ riêng và thường xuyên gây gổ với nhau.
Nên mua ít nhất 8–10 con. Khi đủ đàn, cá bớt nhút nhát và có nhiều hành vi thú vị hơn.1
Phân biệt đực cái thế nào?
Con đực trưởng thành to hơn, màu đậm hơn và có vây dài hơn con cái. Con đực còn có một vảy túi trên cuống đuôi.
Con cái đã thành thục có thể trông tròn mình hơn con đực, nhất là lúc mang trứng.1
Sinh sản ra sao?
Loài này đã được cho sinh sản thành công. Trong bể đã ổn định và bày trí đúng cách, có thể sẽ xuất hiện một ít cá bột mà bạn không cần can thiệp gì.
Có vẻ loài này thụ tinh trong. Cả con đực lẫn con cái đều có nhú sinh dục đặc trưng. Tuy vậy, hình như hiện chưa có mấy thông tin chi tiết.1
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Vùng phân bố chưa rõ. Nơi thu mẫu chuẩn chỉ ghi là 'Loreto, Peru', vì bộ mẫu chuẩn lấy từ một lô cá cảnh nhập khẩu xuất phát từ Iquitos, vùng Amazon ở tây bắc Peru.
Khi mô tả loài, Zarske (2010) cho biết thông tin về nguồn gốc của cá trên thị trường không thống nhất. Có nguồn nói cá được bắt ở một nhánh nước đen của sông Ampiyacu gần Pebas. Có nguồn lại khẳng định cá vốn sống ở sông Nanay gần Iquitos.1
Môi trường tự nhiên
Người ta cho rằng loài này sống trong môi trường nước đen, nhưng các chi tiết khác chưa ai xác nhận. Dù vậy, nhiều khả năng cá sống ở các suối nhỏ trong rừng và các nhánh sông phụ chứ không ở dòng sông lớn.
Quanh Iquitos, những nơi như vậy thường có nước đen trong, nhuộm màu tanin và có tính axit. Độ cứng và độ dẫn điện của nước gần như không đáng kể.
Nền đáy có thể là cát hoặc bùn, với nhiều cành cây đổ và rễ cây ngập trong nước, cùng những lớp lá mục dày.
Phần lớn mặt đất rừng mưa ở vùng Loreto bị ngập một phần thời gian trong năm. Vì vậy cá cũng có thể sống ở các vùng ngập này.
Cùng kiểu môi trường này còn có các loài thuộc chi Nannostomus, Copella, Rivulus và Apistogramma.1
Ghi chú
Loài này không mấy khi có hàng và rất được dân chơi cá cảnh săn đón. Trên thị trường, nó có tên 'crystal rainbow tetra' và 'orange-tailed glass tetra'.
Trước đây có lúc người ta gọi nó là một loài Heterocharax hoặc Tyttocharax.
Hiện nay đây là loài duy nhất trong chi. Chi này tách biệt với các chi characid khác nhờ tổ hợp các đặc điểm sau. Thân không có vảy (trần), trừ con đực trưởng thành có một vảy túi ở gốc vây đuôi (vảy này không nằm trên vây). Vây lưng có 2 tia cứng và 7 tia mềm. Vây hậu môn có 4 tia cứng và 22–24 tia mềm. Các tia vây hậu môn thứ 4–10 có móc phía trước khá lớn, còn các vây khác không có móc. Xương hàm trên dài và hẹp, phần trước có 5–8 răng hình nón. Xương tiền hàm và phần trước hàm dưới có các răng hình nón xếp không đều, một phần chìa ra ngoài miệng. Cá có 34–35 đốt sống (4+8+22–23).
Vảy túi của con đực gồm 17–21 gờ (radii) xếp theo chiều đứng và che phủ một cấu trúc lồi. Chưa rõ cấu trúc này có phải là tuyến tiết pheromone hay không.
Trochilocharax được xếp vào phân họ Stevardiinae, một phân họ vẫn còn mang tính giả định. Zarske (2010) còn lập riêng tông danh nghĩa Trochilocharacini cho chi này. Dù vậy, quan hệ họ hàng gần của nó trong họ Characidae vẫn chưa rõ.
Characiformes là một trong những bộ cá nước ngọt đa dạng nhất, hiện có gần 2000 loài hợp lệ thuộc 19 họ.
Vì sự đa dạng rất lớn về phân loại và hình thái này, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn khi xác định quan hệ di truyền giữa các nhóm. Nhiều chi đến giờ vẫn ở tình trạng incertae sedis (chưa rõ vị trí phân loại).
Thêm một trở ngại nữa là trong nhiều trường hợp, cách duy nhất để gỡ những vấn đề này là nghiên cứu thật kỹ từng nhóm riêng lẻ.
Các kỹ thuật phát sinh chủng loại phân tử hiện đại đã mang lại một số tiến triển. Tuy vậy, rất ít nghiên cứu loại này có đưa vào các thành viên của phân họ Stevardiinae như T. ornatus.
Oliveira và cộng sự (2011) kết luận họ Characidae gồm ba nhánh lớn, cộng thêm chi Spintherobolus. Chi Spintherobolus là nhóm chị em với toàn bộ các characid còn lại.
Kết quả này giống một phần với kết quả của các tác giả trước đó như Malabarba và Weitzman (2003). Nhóm này xếp Stevardiinae vào nhánh 'A', cùng với phân họ Glandulocaudinae và một số chi khác.
Dựa trên nghiên cứu đặc điểm hình thái, Menezes và Weitzman (2009) cũng coi Stevardiinae và Glandulocaudinae là hai phân họ riêng biệt. Tuy nhiên, phần lớn các phân tích phân tử gần đây lại đề xuất mở rộng Stevardiinae. Phân họ mở rộng sẽ gộp cả Glandulocaudinae (vốn là nhóm đơn ngành), tất cả các thành viên khác của nhánh 'A' (Miranda, 2009) và loài Markiana nigripinnis (Oliveira và cộng sự, 2011).1
Tài liệu tham khảo
- Zarske, A. (2010). Der Kolibrisalmler - Trochilocharax ornatus gen. et spec. nov. - ein neuer Salmler aus Peru (Teleostei: Characiformes: Characidae). Vertebrate Zoology 60(2), 75-98
- Calcagnotto, D., S. A. Schaefer, and R. DeSalle (2005). Relationships among characiform fishes inferred from analysis of nuclear and mitochondrial gene sequences. Molecular Phylogenetics and Evolution 36(1), 135-153
- Menezes, N. A. and S. H. Weitzman (2009). Systematics of the Neotropical fish subfamily Glandulocaudinae (Teleostei: Characiformes: Characidae). Neotropical Ichthyology 7(3), 295-370
- Oliveira, C. A., G. S. Avellino, K. T. Abe, T. C. Mariguela, R. C. Benine, G. Orti, R. P. Vari, and R. M. Corrêa e Castro (2011). Phylogenetic relationships within the speciose family Characidae (Teleostei: Ostariophysi: Characiformes) based on multilocus analysis and extensive ingroup sampling. BMC Evolutionary Biology 11(1), 275-300
- Mirande, J. M. (2009). Weighted parsimony phylogeny of the family Characidae (Teleostei: Characiformes). Cladistics 25(1), 1-401
Nguồn
- Seriously Fish seriouslyfish.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này, với sự cho phép của họ. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá tetra chim ruồi? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.
Gửi ảnh Cá tetra chim ruồi của bạn
Thiết bị phù hợp
- Bể cábể cá 45cmShopeeLazadaTiki
- Bể cábể thủy sinh miniShopeeLazadaTiki
- Thức ănartemiaShopeeLazadaTiki
- Thức ănthức ăn khô cỡ nhỏ cho cá nhỏShopeeLazadaTiki
- Nền và lácát nền thủy sinhShopeeLazadaTiki
- Nền và lálá bàng khôShopeeLazadaTiki
- Bộ test nướcbộ test pHShopeeLazadaTiki
- Bộ test nướcmáy lọc nước ROShopeeLazadaTiki
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.