Setup bể · đọc khoảng 7 phút
Có thể nuôi bao nhiêu cá trong một bể cá? Quy tắc thả thêm cá
Theo Aquarium Co-op

Một trong những câu hỏi hay gặp nhất, mà cũng khó trả lời nhất, là bể 40 lít (10 gallon) nuôi được bao nhiêu cá. Bể 75 lít (20 gallon) thì sao, còn bể 200 lít (55 gallon) thì thế nào? Chắc bạn cũng đoán được, cỡ bể nào cũng có vô số cách phối cá. Cho dễ hình dung, trước hết mình sẽ điểm qua ba yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến mật độ cá. Sau đó là vài nguyên tắc chung để thả số lượng cá vừa phải cho bể.
#1 Lượng chất thải
Nếu bạn chưa quen với chu trình nitơ trong bể thì có thể hiểu đơn giản thế này. Cá ăn vào rồi thải ra chất thải. Vi khuẩn có lợi và cây thủy sinh sẽ phân hủy chỗ chất thải đó. Khi chất thải tích tụ lại, nước xấu đi, cá có thể bệnh, thậm chí chết. Vì vậy đừng thả nhiều cá tới mức chính chất thải của chúng làm chúng bệnh. Có mấy cách để giảm lượng chất thải trong bể như sau:
Vi khuẩn có lợi tự sinh ra trong bể. Chúng ăn các chất thải độc như amoniac, rồi cuối cùng chuyển hóa thành những chất ít độc hơn như nitrat. Lọc là một trong những chỗ vi khuẩn có lợi thích trú ngụ nhất. Vì thế bạn cần một bộ lọc đủ mạnh và hợp với cỡ bể. Bạn có thể tìm hiểu thêm về cách chọn loại lọc phù hợp cho bể của mình.
Nếu lọc mới mua và bể mới set, trong bể chưa có đủ vi khuẩn có lợi để xử lý chất thải của cá và giữ nước sạch. Lúc này bạn nên chạy chu trình nitơ cho bể trước để cá có môi trường sống khỏe mạnh. Muốn chu trình chạy nhanh hơn, bạn có thể xin vật liệu lọc đã dùng từ một bể cũ, hoặc mua vi khuẩn nitrat hóa sống về châm.
Cây thủy sinh

Cây thủy sinh cũng lấy được chất thải nitơ độc ra khỏi nước. Cây dùng các hợp chất nitơ làm thức ăn và lấy chỗ dinh dưỡng đó để ra thêm lá. Bể càng nhiều cây thì càng chịu được nhiều cá. Nhìn chung, cây mọc nhanh như cây thân đứng và cây nổi hút chất thải nitơ nhanh hơn cây mọc chậm. Một “khu rừng” cây rậm rạp, đang lên tốt có thể hút rất nhiều chất thải độc từ phân cá, thức ăn thừa và các chất hữu cơ dư thừa khác.
Chăm sóc bể
Muốn cá khỏe, bạn nên dùng que thử amoniac và que thử đa chỉ tiêu để kiểm tra chất thải nitơ. Mức an toàn là amoniac 0 ppm, nitrit 0 ppm và nitrat dưới 40 ppm. Khi vi khuẩn có lợi và cây không xử lý chất thải kịp, bạn phải tự tay “đổ rác”. Cách làm là hút bớt nước cũ ra rồi thêm nước mới đã khử clo. Bạn định thay nước bao lâu một lần? Mỗi tuần, hai tuần, hay thậm chí mỗi tháng một lần? Thay nước càng thường xuyên thì bể càng nuôi được nhiều cá.
Thức ăn
Thức ăn cho cá không phải loại nào cũng như nhau. Thức ăn rẻ tiền thường dễ rã và có nhiều chất độn mà cá không tiêu hóa được, nên tạo ra nhiều chất thải hơn. Thức ăn tốt như cám viên nhỏ chất lượng cao hay thức ăn đông lạnh thì ngược lại. Chúng ít tạo chất thải nên người ta hay gọi là thức ăn “sạch”. Dù vậy, kể cả khi chỉ cho ăn đồ tốt, bạn vẫn nên nhớ rằng cho bể ăn càng nhiều thì cá càng thải nhiều phân, bất kể bể có nhiều cá nhỏ hay chỉ một con cá lớn. Ngoài ra, có những loài ăn rất “bừa” và hay để lại vụn thức ăn. Vụn này sẽ thối trong nước nếu không ai vớt ra. Nếu nuôi loài ăn bừa như cá oscar, bạn thử thả thêm vài con cá dọn bể. Chúng sẽ hăng hái dọn sạch phần thức ăn thừa.
#2 Không gian bơi
Trước đây người mới chơi hay nghe khuyên theo quy tắc mỗi 2,5 cm (1 inch) chiều dài cá cần khoảng 4 lít (1 gallon) nước. Quy tắc này chủ yếu chỉ đúng với các loài cá cộng đồng nhỏ, dài khoảng 2–7 cm. Ví dụ, mười con tetra dài 2,5 cm gộp lại cũng không to bằng một con oscar dài 25 cm. Nếu định nuôi cá lớn, bạn phải tính đến không gian bơi.

Cá vàng dòng fancy có thể dài tới 20 cm, nên bể 75 lít loại dài thường được coi là cỡ tối thiểu cho chúng. Bể cỡ này cho cá khoảng 76 cm để bơi qua lại và 30 cm bề ngang để quay đầu thoải mái. Cá ông tiên thì khác. Thân nó dẹt theo chiều đứng, dài 15 cm và cao 20 cm. Vì vậy bể 110 lít cao 46 cm sẽ hợp với cá ông tiên hơn. Cá ông tiên trưởng thành có thể cao tới 20 cm, nên bạn cần chọn bể đủ cao cho chúng.
Bạn nên tìm hiểu cỡ bể tối thiểu của từng loài định nuôi. Nếu điều kiện cho phép thì chọn cỡ lớn nhất trong mức khuyến nghị. Có loài như cá ngựa vằn chỉ dài 5 cm nhưng bơi rất hăng, nên cần nhiều chỗ bơi hơn. Có loài lại là cá săn mồi kiểu rình rập, thân to hơn nhưng ít di chuyển, nên cần ít chỗ hơn. Ngoài ra, một số loài là cá đàn và thích sống theo nhóm ít nhất 6 đến 10 con. Bạn cần tính xem cả đàn như vậy sẽ thải ra bao nhiêu.
Cuối cùng, bạn nên xem loài đó lớn tối đa được bao nhiêu. Phần lớn cá ngoài cửa hàng là cá còn nhỏ. Khi trưởng thành, chúng có thể lớn gấp đôi, thậm chí gấp ba. Vì vậy bể phải đủ chỗ bơi cho cá lúc đã lớn hẳn.
#3 Độ hung dữ
Yếu tố cuối cùng cần để ý là độ hung dữ của cá. Với cichlid châu Phi, bí quyết là thả đông cá hơn và thu hẹp chỗ bơi. Khi đó sẽ không con nào đủ chỗ để chiếm và giữ lãnh thổ riêng. Có thể bạn sẽ phải bày thêm nhiều đồ trang trí và cây để chắn tầm nhìn. Cách này cũng làm hẹp chỗ bơi, nhưng bù lại những con yếu dễ trốn khỏi con đầu đàn hơn.
Một ví dụ khác là cá betta trong bể cộng đồng. Betta thường lượn ở tầng trên của bể. Nếu cá khác bơi gần mặt nước, tức là lấn vào lãnh thổ của nó, betta có thể trở nên hung hăng. Trường hợp này bạn nên chọn bạn cùng bể là những loài bơi ở tầng giữa và tầng đáy. Chúng sẽ ít khi đụng mặt con betta.

Cách xác định mật độ cá phù hợp
Giả sử bể đã chạy xong chu trình nitơ, tức là đã có đủ vi khuẩn có lợi và/hoặc cây đang lên tốt. Lúc này, cách dễ nhất để biết thả thêm được bao nhiêu cá là đo nitrat và giữ nó luôn dưới 40 ppm. Chẳng hạn bạn có bể 75 lít trồng cây và muốn bắt đầu thả cá cộng đồng. Các bước như sau:
- Chọn những loài cá và động vật không xương sống bạn muốn nuôi. Sau đó kiểm tra xem chúng có hợp nhau không về tính tình, kích thước, độ hung dữ, điều kiện sống và chế độ ăn.
- Đặt ra một lịch thay nước cố định và theo đúng lịch đó.
- Thả loài bạn thích nhất trước. Nếu đó là cá đàn, bạn nên thả số lượng tối thiểu được khuyến nghị trước để chắc chắn bể chịu được lượng chất thải.
- Đo nitrat mỗi tuần trong 2 đến 3 tuần liền. Khi đã chắc nước vẫn tốt và nitrat luôn dưới 40 ppm, bạn thả loài mình thích kế tiếp.
- Lặp lại bước 3–4 mỗi khi muốn thả thêm loài mới.
Nhiều người mới chơi thích mua thật nhiều cá một lúc. Thực ra lúc đầu thả ít cá bao giờ cũng tốt hơn, có điều kiện thì mua thêm sau. Thả từng đợt chậm rãi như vậy còn cho đàn vi khuẩn có lợi thời gian thích nghi và sinh sôi kịp với số cá.
Bạn nên nhắm tới một bể thưa cá. Những bể ổn định nhất thường nhiều cây và ít cá. Nó giống như một khu rừng đầy cây mà chỉ có vài con hươu.
Bạn cũng nên nhớ bể cá là một hệ sinh thái sống và sẽ thay đổi theo thời gian. Một số loài đẻ khá dễ. Khi số cá tăng vọt, chất thải có thể tăng theo, và có thể bạn sẽ phải bớt cá ra cho cân bằng. Cây khỏe cũng lớn dần lên. Cây lớn làm giảm chất thải nhưng lại lấn bớt chỗ bơi. Mỗi lần thả thêm cá mới, độ hung dữ trong bể cũng có thể thay đổi. Và chính bạn rồi cũng sẽ thay đổi. Khi có thêm kinh nghiệm, bạn có thể nuôi bể đông cá hơn mà cá vẫn an toàn.



Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.