Sinh sản · đọc khoảng 14 phút

Sewellia lineolata: Cá bám suối vân lưới; Dễ cho đẻ hay chỉ là gặp may?

Theo Loaches Online

Sewellia lineolata: Cá bám suối vân lưới (Reticulated Hillstream Loach). Dễ cho đẻ hay chỉ là gặp may?

Bài tường thuật về việc cho Sewellia lineolata sinh sản.

Sewellia lineolata - Cá bám suối vân lưới - Dễ cho đẻ hay chỉ là gặp may?

Người nuôi trong bài này lần đầu thấy loài cá này vào đầu năm 2004 và biết ngay đây là loài mình phải có. Loại “Chinese Butterfly” (cá bướm Trung Quốc) màu nâu trơn bán ở các cửa hàng cá cảnh, có lẽ là Beaufortia hoặc Gastromyson sp., đã lác đác xuất hiện trong giới chơi cá suốt nhiều năm. Loài đó chưa bao giờ khiến ai xôn xao. S. lineolata thì khác. Màu sắc và hoa văn đẹp của nó hút mắt đến mức đã nhìn là khó rời mắt! Năm 2005, anh may mắn có được một nhóm mười hai con trưởng thành bắt từ tự nhiên. Tiếc là lúc đó anh chưa sẵn sàng, nên cả nhóm được thả vào một bể 57 lít và ghi tên vào danh sách những loài cần “làm cho đẻ”.

Tháng 6 năm 2007, anh chuyển bốn con trưởng thành sang một bể dài 76 lít, nuôi chung với vài con Homaloptera tweediei. Kính sau của bể có một lỗ đường kính khoảng 2 cm ở phía bên phải, cách đáy khoảng 10 cm. Anh lắp qua lỗ này một đầu nối xuyên vách PVC cỡ nửa inch (khoảng 1,3 cm), rồi nối vào đó một đoạn ống cứng dài khoảng 10 cm chĩa vào giữa bể. Đầu ống gắn một co 90° để hướng dòng nước sang bên trái. Một máy bơm chìm có bọt biển tiền lọc nằm trong bể, gần phía bên trái. Ống vinyl nối đầu ra của máy bơm với đầu nối PVC bên ngoài bể. Nhờ vậy nước chảy từ phải sang trái, thành một “dòng suối đồi” giả. Anh hy vọng cách này mô phỏng được chuyển động của nước nơi S. lineolata sống ngoài tự nhiên. Đầu hở của co được bọc lưới nhựa để không con cá nào bơi vào ống. Anh không muốn cá mê dòng chảy đến mức kẹt trong ống hoặc chết trong máy bơm. Bể chỉ đổ hai phần ba nước, vừa đủ để một lọc Hydro-sponge® chạy với luồng khí khá mạnh.

Anh rải khắp đáy bể một lớp mỏng cát nâu mịn lấy từ một con suối gần nhà. Ở khoảng giữa bể rộng 30 cm, ngay trên đường nước chảy qua, anh thêm một lớp sỏi hạt đậu dày 2,5 cm. Phía trên lớp sỏi là một lớp đá sông tròn dày từ 2,5 đến 4 cm. Ý tưởng của anh là nếu cá đẻ, trứng (hoặc cá bột) có thể dễ dàng lọt vào đống sỏi để trốn, không bị cá trưởng thành ăn. Anh thả vào bể một cụm dương xỉ Java to cỡ quả bóng chày. Dòng nước đẩy nó trôi về phía máy bơm và anh để nguyên ở đó. Vài vỏ hàu dẹt nhặt ngoài bãi biển được dựng tựa vào mấy viên đá ở rìa đống sỏi. Chúng vừa làm chỗ trú cho cá trưởng thành, vừa làm chất đệm pH cho nước.

Dương xỉ Java
Dương xỉ Java · Ảnh: Aquarium Co-op, dùng với sự cho phép

Bể sinh sản “Hillstream” nhân tạo, loại bể dài 76 lít

Cùng ngày set bể cho lineolata, anh cũng set một bể khác cho ba cặp Rainbow Shiner (cá shiner cầu vồng, Notropis chrosomus) để thử cho chúng đẻ. Rồi anh bắt đầu nghĩ cá Shiner chắc cũng sẽ thích “dòng suối đồi” này. Vì vậy anh thả một cặp Rainbow Shiner chung với cá bám suối để xem chuyện gì xảy ra.

Để mô phỏng tổ của cá Stone Roller (cá lăn đá, Campostoma sp.), anh dời vài viên đá lớn ở giữa đống đá và đào một hố vừa đặt một đĩa lót chậu hoa bằng đất nung tròn, sâu 2,5 cm, đường kính 10 cm. Đĩa lót nằm cao hơn phần đá còn lại khoảng 1,3 cm. Anh đổ đầy đĩa bằng sỏi hạt đậu, giống loại sỏi mà người ta nói cá Shiner đẻ trứng vào ngoài tự nhiên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2007, nước trong bể ở 23°C, pH 7,0–7,2, GH 200–225 ppm và KH khoảng 70 ppm. Ngoài thuốc khử clo lúc mới cho nước vào, bể không dùng muối hay hóa chất nào khác. Bể nhận ánh sáng đèn huỳnh quang gián tiếp khoảng mười hai giờ mỗi ngày. Con cá nào trông cũng hài lòng với chỗ ở mới. Cặp Rainbow Shiner bơi suốt và đùa nghịch trong dòng nước, còn đám cá bám suối thì trốn biệt. Cá được cho ăn hai lần mỗi ngày, gồm giun đen (blackworm) sống, giun máu (bloodworm) đông lạnh, artemia mới nở còn sống, bọ nước (daphnia) sống và một ít cám vảy nghiền mịn.

Sáng 30 tháng 6, anh thấy hai cặp Rainbow Shiner trong bể sinh sản 57 lít đã đẻ khoảng một trăm trứng vào tổ Stone Roller nhân tạo. Nghĩ rằng cặp Shiner trong bể “suối đồi” 76 lít cũng có thể đã đẻ, anh lấy đĩa lót ra và đổ vào một hộp nhựa đựng giày. Anh bới sỏi ra, cầm một chiếc đèn pin thật sáng và tìm trứng. Nhìn chăm chú vào hộp, anh không thấy gì ngoài chút cặn bẩn và cát. Khi nghiêng hộp một chút, anh tưởng thấy có gì đó cử động. Nhìn thêm vài phút, anh nghĩ có lẽ đó chỉ là mấy giọt nước chảy dưới đáy hộp lúc nghiêng. Để kiểm tra lại, anh kéo hộp ra khỏi mép bàn một nửa để lau khô mặt dưới. Bất ngờ là mặt dưới không hề ướt! Sau mười lăm phút soi đèn pin và bị chính mắt mình đánh lừa, anh tự thuyết phục rằng dưới đáy thật sự có thứ gì đó đang di chuyển. Chuyện này suýt làm anh phát điên (và mù luôn!). Anh gọi cô bạn gái Regina, cũng là dân mê cá, từ nửa phòng cá bên kia của cô sang, bảo cô đeo kính vào xem có thấy gì không.

Cô thấy có thứ chuyển động ngay lập tức. Anh dùng một ống bóp cao su (turkey baster) hút lên thứ mà anh đoán là cá bột, kèm ít cát và cặn, rồi xả vào một cái tô ăn ngũ cốc màu trắng. Anh lấy đầu ống khuấy cho nước trong tô xoáy tròn, toàn bộ cát và cặn dồn lại giữa tô. Chưa tới một phút sau, năm sợi nhỏ xíu, nhỏ nhất mà mắt còn thấy được, vọt ra khỏi đám cặn. Thân chúng màu nhạt, mảnh như sợi tóc, dài chỉ hơn một milimet, có thể là hai. Đó là cá con mới nở! Chúng nhảy từng đợt ngắn trên đáy tô. Regina còn phấn khích hơn cả anh và hét lên “Cá bám suối con!”. Lúc đầu anh cũng nghĩ vậy, rồi sực nhớ ra mình đi tìm thứ gì ngay từ đầu. Anh chưa biết cá Rainbow Shiner mới nở trông ra sao, nên không dám chắc đây là cá bột cá bám suối chứ không phải cá bột Shiner. Anh đổ cá bột lại vào hộp đựng giày, châm đầy nước lấy từ bể sinh sản, thả thêm một nhúm nhỏ dương xỉ Java và một viên sủi khí, rồi cầu mong nuôi lớn được chúng.

Hai ngày sau lần đầu tìm thấy đám cá bột bé xíu này, anh thấy một con cá bột Rainbow Shiner duy nhất, nở từ lứa trứng Shiner đã biết. Con này bơi gần mặt nước và to hơn rất, rất nhiều… Ngay lúc đó anh biết chắc trong tay mình đúng là cá bột cá bám suối! Trong tám ngày, anh kiểm tra đĩa lót hai hoặc ba lần mỗi ngày và lần nào cũng thấy cá bột, mỗi lần từ hai đến sáu con. Anh thả tất cả cá bột mới chung với lứa trước trong hộp đựng giày.

Vài ngày sau khi biết cá đã đẻ, anh bắt cá Rainbow Shiner và H. tweediei ra khỏi bể sinh sản để loại hẳn khả năng chúng ăn cá bột. Anh cũng rút điện máy bơm, vì sợ đám cá bột bé xíu chui lọt qua lớp bọt biển tiền lọc và bị cánh quạt máy bơm nghiền nát.

Vừa chuyển cá bột sang hộp đựng giày để ương, anh bắt đầu băn khoăn không biết cho đám cá bột nhỏ đến khó tin này ăn gì. Anh có thêm cụm dương xỉ Java vào hộp vì nghĩ trong đó có thể có vài “con bọ” nhỏ hoặc tảo cho cá bột ăn. Cũng vì lý do đó, anh hút thêm ít cát từ bể sinh sản sang hộp, kèm APR (thức ăn dạng bột mịn gồm luân trùng và giáp xác chân chèo copepod, trộn với nước cho chìm). Cho chắc ăn, anh đổ thêm ít nước xanh và mùn bọt biển, cùng mấy viên đá nhỏ hơn phủ tảo lấy từ các bể khác trong phòng cá. Artemia mới nở hay giun vi mô (microworm) thì anh không tính tới, vì chúng quá to so với cá bột. Xin nhắc lại, đám cá bột này nhỏ xíu!

Mấy tuần đầu cá bột lớn rất chậm. Đến ngày thứ hai mươi sáu, tức 26 tháng 7, một số con đạt chiều dài tổng 4 mm và thân bắt đầu đầy đặn hơn một chút. Như vậy là lớn hơn lúc mới nở khá nhiều. Nhưng so với tốc độ lớn của hàng trăm loài cá khác mà anh đã cho đẻ qua nhiều năm, chúng vẫn rất nhỏ so với tuổi.

Nhờ chế độ macro của máy ảnh, anh thấy được vài đốm đen trên thân màu nhạt của chúng, thứ mà mắt thường không nhìn ra. Khi cá đạt cỡ này, anh cho thêm giun vi mô (microworm) vào khẩu phần, bên cạnh tất cả những thứ kể trên.

Đến ngày thứ ba mươi bốn, 3 tháng 8, một số con đã dài hơn nửa centimet một chút, và cuối cùng cá cũng bắt đầu lớn nhanh hơn. Anh đưa thêm artemia mới nở vào thực đơn. Trước đây anh từng gặp cảnh thủy tức (Hydra) xuất hiện khi cho ăn artemia quá nhiều. Nếu chuyện đó xảy ra, thủy tức chắc chắn sẽ xóa sổ đám cá bột cá bám suối bé xíu. Vì vậy anh chỉ cho một lượng rất ít.

Ngày thứ bốn mươi mốt, 10 tháng 8, con cá bột lớn nhất thấy được trong hộp ương dài 1 cm chiều dài tổng, tính từ đầu đến mút đuôi. Một số con vẫn chỉ nhỏ bằng nửa centimet! Anh chỉ thả cá bột vào hộp ương trong khoảng tám ngày kể từ lúc tìm thấy con đầu tiên. Thêm nữa, bể “suối đồi” mới set được ba ngày thì đã thấy những con cá bột đầu tiên. Do đó tuổi của các con cá bột trong hộp không thể chênh nhau quá mười một ngày. Với anh, đây là bằng chứng rằng tốc độ lớn của cá non khác nhau khá nhiều giữa các cá thể. Bất ngờ hơn, con lớn nhất trong hộp ương còn lớn hơn cả những con cá bột thấy trong bể sinh sản!

Cá bột dài từ chỉ 2 mm ở ngày thứ 1 đến 1 cm ở ngày thứ 41. Một sợi tóc được đặt cạnh để so sánh, cho thấy đám cá bột này thật sự nhỏ đến mức nào!

Ngày 20 tháng 8, tức ngày thứ năm mươi mốt, anh thả bảy con cá non duy nhất trong hộp ương về lại bể có cá trưởng thành. Suốt một tuần rưỡi trước đó, anh đã thấy ít nhất một con non bơi cùng cá trưởng thành mà chúng có vẻ không hề làm phiền nó. Anh nghĩ tất cả cá non sẽ phát triển tốt hơn trong bể lớn so với cái hộp đựng giày nhỏ, có thể không ổn định. Lúc này anh cũng cắm điện lại máy bơm cho hệ thống “suối đồi” chạy trở lại.

Cuối ngày hôm đó, anh để ý thấy đám cá trưởng thành hoạt động khá sôi nổi. Phải chăng dòng nước chảy lại đã kích thích chúng đẻ? Anh kéo ghế ngồi lặng lẽ quan sát, mong bắt gặp cảnh sinh sản. Anh thấy một con đực đuổi theo một con cái khắp bể. Mỗi lần con cái dừng lại, thường là trên kính, con đực lại nhảy nhót quanh nó và húc đầu vào thân nó. Có vẻ con đực đang cố chui xuống dưới con cái. Nếu nó chui được xuống dưới thân con cái, con cái sẽ bơi đi và con đực bám theo. Cảnh này diễn ra liên tục khoảng một giờ. Sau đó chúng có vẻ hết hứng, hoặc có lẽ đã mệt, và mỗi con đi một ngả. Anh cho rằng đó là một phần của màn tán tỉnh, nhưng anh chưa bao giờ thấy chúng thật sự đẻ.

Tò mò và mong mỏi cuối cùng đã thắng thế. Anh cần xem chúng đã đẻ lại chưa. Chiều hôm sau, anh lấy đĩa lót ra xem có tìm được trứng không. Lần này anh có thêm kính lúp có đèn của thợ kim hoàn, và anh ngạc nhiên với những gì nhìn thấy: một con cá bột dài hơn 2 mm một chút và một quả trứng nhỏ trong suốt có vẻ đã lên mắt! Anh vớt con cá bột ra và để quả trứng lại trong bát nước. Hôm sau, anh thấy một con cá bột dài tổng chỉ 2 mm, mảnh như sợi tóc và gần như trong suốt. Con mới nở này mảnh hơn hẳn con cá bột vớt ra hôm trước. Vì vậy anh tin chúng thuộc các lứa đẻ khác nhau, có thể cách nhau vài ngày. Đến lúc này anh đã nhiều lần tìm thấy cá bột bé xíu, nên anh nghiêng về ý nghĩ rằng loài cá này đẻ đều đặn. Anh đoán sở dĩ không có nhiều cá bột lớn lên trong bể sinh sản là vì cá trưởng thành, anh chị em lớn hơn hoặc bất kỳ loài cá nào khác có mặt trong bể đã ăn chúng.

Một trong những con đực sinh sản, bên cạnh một con cá non 67 ngày tuổi đang hăm hở gặm viên spirulina dạng bánh tròn. Anh nghĩ cho ăn nhiều loại thức ăn khác nhau là rất quan trọng.

Ngày 3 tháng 9, may sao anh đi ngang bể “suối đồi” và thấy một con đực lại đang đuổi theo một con cái. Anh kéo ghế ngồi trước bể. Chỉ vài phút sau, anh thấy một cặp như dính chặt vào nhau bơi ra chỗ nước trống và rung lắc trong vài giây. Mọi thứ diễn ra nhanh đến mức xong rồi anh mới nhận ra chuyện gì vừa xảy ra. Vài phút sau, chúng lặp lại, lần này ở giữa bể về phía kính sau, chỗ anh xem được trọn vẹn cả quá trình. Con đực bơi xuống dưới con cái, sang bên phải nó, và kẹp vây ngực của mình vào giữa vây ngực và vây bụng của con cái. Hai con cuộn nhẹ vào nhau, rung lắc bốn hoặc năm giây, và một dòng khoảng hai mươi quả trứng trắng nhỏ xíu từ chúng rơi xuống đáy. Vài phút sau chúng làm lại lần nữa, nhưng anh không thấy trứng nào rơi ra. Anh quan sát thêm nửa giờ nhưng không thấy chúng đẻ thêm lần nào.

Nghĩ rằng con cái đã hết trứng và cặp cá đã đẻ xong, anh quyết định thử thu một ít trứng trong bể. Anh đã thấy chỗ một số trứng rơi xuống. Anh nhấc lớp đá sông trên cùng ra, cắm ống hút cặn vào lớp sỏi và hút đủ nước để đầy một hộp đựng giày. Lẫn trong ít cặn, cát và giun đen (blackworm) nhỏ, anh hy vọng có cả vài quả trứng! Vì đã dỡ lớp đá sông trên cùng để thu trứng, anh quyết định rải lớp sỏi hạt đậu dày hơn. Anh tính lớp dày hơn sẽ che chở trứng (và cá bột) tốt hơn trong những lần đẻ sau.

Từ đây, anh quyết định để yên bể một thời gian và chỉ xem chuyện gì xảy ra. Nếu cá bột tự xuất hiện mà không phải tốn nhiều thời gian chăm thì quá tuyệt. Đám cá này đã cho anh không biết bao nhiêu giờ thích thú và kinh ngạc. Nhưng anh cũng còn một danh sách chờ khá dài những loài cá định “làm cho đẻ”!

Một cặp Sewellia lineolata: con cái bên trái, con đực bên phải

  • Cá đực và cá cái trưởng thành dễ phân biệt qua hình dạng đầu khi nhìn từ trên xuống hoặc từ dưới bụng lên. Con đực có đầu to và nổi rõ hơn. Đầu con cái như liền vào vây ngực, nên cả phần trước của cá trông tròn. Các con đực trong bể này dài tổng khoảng 5 cm, con cái nhỏ hơn một chút, khoảng 4,5 cm. Bể sinh sản có hai cặp.
  • Xem phần Mô tả loài để có ảnh phân biệt đực cái.
  • Thỉnh thoảng anh thả vào bể sinh sản vài viên đá sông cỡ quả bóng golf phủ tảo, nhặt ở con suối gần nhà. Cá bám suối có vẻ rất mê, len lỏi qua đám tảo và thậm chí nằm luôn trong đó. Thường chỉ vài ngày là đá bị gặm sạch. Dù chúng sẵn sàng ăn giun đen (blackworm) sống và các loại thức ăn đông lạnh nhiều thịt, tảo có thể là phần quan trọng trong khẩu phần của chúng và trong quá trình chuẩn bị sinh sản.
  • Bạn có để ý bài này nhắc đi nhắc lại chuyện cá bột rất nhỏ không? Đó là vì trong ba mươi bốn năm nuôi cá, đây là những con cá bột nhỏ nhất anh từng thấy! Anh đã mất ngủ nhiều đêm liền để nghĩ cách nuôi lớn những con cá bột bé xíu như vậy.
  • Khi có điều kiện phù hợp, anh thấy loài cá này dễ cho đẻ, và chúng đẻ liên tục! Mẹo là tìm cách tách trứng và/hoặc cá bột khỏi tất cả những con cá khác sẽ ăn chúng. Có thể vì vậy mà chỉ có vài báo cáo về chuyện chúng đẻ trong bể nuôi, khi người nuôi tình cờ thấy cá non trong lọc thùng, lọc ngoài hoặc sump (bể lọc phụ). Chỉ cần bắt cá trưởng thành ra sau khi chúng đẻ là đã rất hiệu quả. Nhưng nếu làm vậy, bạn sẽ cần rất nhiều kiên nhẫn. Anh nghĩ bạn sẽ phải chờ khá lâu mới thấy kết quả, tức cá bột, trong bể sinh sản, vì cá bột quá nhỏ. Dù biết chắc trong bể có ít nhất tám con cá non với đủ cỡ, lớn nhất tới 1 cm, anh không thể nào nhìn thấy tất cả cùng lúc. Thấy được một hai con cùng lúc đã là may lắm rồi!

Nếu có dịp sở hữu vài con, bạn cứ mạnh dạn làm đi, bạn sẽ không hối tiếc. Với anh, đây là một trong những loài cá thú vị nhất từng nuôi và cho đẻ thành công.

Nội dung liên quan

  • Sewellia lineolata - Môi trường sống tự nhiên và cách chúng đến với bể cá của chúng ta
  • Nhân giống Sewellia
  • Sewellia lineolata

Thao tác với tài liệu

  • Gửi trang này