Đơn vị
Giao diện

Anchariidae, Madagascar

Cá Ancharius

Ancharius fuscus

Tên khác: Cá Vaona

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng

Dịch và tổng hợp từ ScotCat, PlanetCatfish. Cập nhật 2026-11-02.

Tóm tắt nhanh

Hồ sơ này chưa đủ thông tin để nói loài hợp với ai: không có dữ liệu về bể tối thiểu, nhiệt độ, pH hay độ cứng nước. Cá trưởng thành 22 cm, ở tự nhiên sống đoạn trung lưu đến thượng lưu sông miền đông Madagascar và chỉ có mặt ở nơi môi trường chưa bị tàn phá nặng. Điểm khó nhất là thiếu thông tin nuôi, nên chỉ nên cân nhắc nếu đã sẵn sàng tự tìm hiểu thêm.

AquaTome tóm tắt từ các nguồn bên dưới.

Thông tin nhanh

  • Tên thường gọi: Vaona
  • Vây lưng có 2 gai và 6-7 tia mềm. Vây hậu môn không có gai, có 14-15 tia mềm. Số đốt sống là 44-46.1

Phân bố tự nhiên

Sống tự nhiên ở: Madagascar1

Nguồn ghi gì
  • Madagascar · ScotCat1: “Africa: widely distributed along eastern-draining rivers of Madagascar.”

GBIF có 2 ghi nhận ngoài tự nhiên, tất cả trong các nước trên.

  • Ghi nhận trong các nước bản địa
  • Nước bản địa
  • Mỗi ô khoảng 160 km.

Dữ liệu: GBIF.org, 2 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-06 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Miền đông Madagascar, vùng Fianarantsoa (21.38169S, 47.89298E).2

Châu Phi: loài này phân bố rộng dọc các con sông chảy về phía đông của Madagascar. Địa điểm thu mẫu chuẩn là Tohizona, Madagascar. Ancharius fuscus có vùng phân bố rộng hơn hẳn mọi loài khác trong họ. Nó có mặt từ vùng Maroansetra ở phía bắc xuống tận vùng cao nguyên đông nam. Các loài Anchariidae còn lại đều mới chỉ được ghi nhận ở một lưu vực duy nhất.1

Môi trường tự nhiên

Ancharius fuscus chỉ sống ở đoạn trung lưu đến thượng lưu của một số lưu vực sông ở bờ đông Madagascar. Nó cũng chỉ xuất hiện ở những nơi môi trường chưa bị tàn phá nặng.1

Ghi chú

Đặc điểm nhận dạng: có mấy điểm giúp phân biệt Ancharius fuscus với các loài Anchariidae khác. Mõm của nó ngắn hơn, chỉ bằng 40,1-45,8% chiều dài đầu, trong khi các loài kia là 47,1-54,3%. Râu hàm trên dài hơn, vươn tới điểm giữa gốc vây ngực. Gai vây ngực có răng cưa suốt dọc mép sau. Thân cá màu xám ánh tím. So với Ancharius griseus, loài này có gai vây lưng ngắn hơn, bằng 14,6-22,6% chiều dài chuẩn so với 22,9-24,3%. Mắt của nó cũng to hơn, bằng 11,4-15,4% chiều dài đầu so với 9,3-10,1%.

Nguồn gốc tên gọi: tên chi Ancharius lấy từ chữ ánchi trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "gần". Cái tên này ý nói chi này trông giống chi Arius (họ Ariidae). Tên loài fuscus là tiếng Latin, nghĩa là sẫm màu hay tối màu.

IUCN: người ta vẫn biết rất ít về số lượng cá thể và tình trạng quần thể của loài này. Ở đâu trong vùng phân bố thì nó cũng không phải loài dễ gặp. Trước đây loài này nằm trong nhóm Thiếu dữ liệu. Nay có đề xuất đánh giá lại và xếp nó vào nhóm Ít quan tâm. Lý do là vùng phân bố ước tính rộng khoảng 63.000 km² và chưa thấy dấu hiệu quần thể suy giảm đáng kể.1

Nguồn

2 nguồn
  1. ScotCat scotcat.com
  2. PlanetCatfish planetcatfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Video

  • Ancharius fuscus0:43, EN

  • Ancharius fuscus1:02, EN