Khám phá · đọc khoảng 8 phút
Cá barb Nam Á - hướng dẫn về danh pháp mới
Theo Seriously Fish

Sau một nghiên cứu gần đây, một số loài cá cảnh quen thuộc đã có tên khoa học mới. Dưới đây là hướng dẫn nhanh về những thay đổi này.
Tạp chí 'Ichthyological Exploration of Freshwaters' vừa đăng trong số mới nhất một bản rà soát toàn diện các loài Puntius ở Nam Á. Theo kết quả rà soát, phần lớn chi Puntius bị tách ra và nhiều loài chuyển sang các chi khác. Giới ngư học đã chờ thay đổi này từ lâu. Dù vậy, người chơi cá vẫn dễ bị rối, vì nhiều loài bị đổi tên đang rất phổ biến trong giới chơi cá. Chuyện này khá phức tạp, nên dưới đây có một hướng dẫn nhỏ giải thích các nhóm mới.
Chuyện gì đã xảy ra và vì sao lại đổi nhiều đến vậy?
Nói gọn, các loài trước đây thuộc Puntius ở vùng Nam Á phía nam dãy Himalaya đã được sắp xếp lại thành năm chi, trong đó có ba chi mới. Vì thế hầu hết các loài này giờ mang tên khác. Phải sắp xếp lại là vì Puntius từng được xem là một nhóm đa ngành (polyphyletic). Nghĩa là nhóm này gồm nhiều dòng di truyền riêng biệt, ngày trước bị gộp chung chỉ vì bề ngoài giống nhau. Giờ người ta đã biết các dòng này không xuất phát từ cùng một tổ tiên chung.
Các kết luận này từ đâu mà có?
Nghiên cứu kết hợp phân tích chi tiết về hình thái, xương và di truyền. Nhóm nghiên cứu so sánh 30 loài Puntius được cho là hợp lệ với nhau, rồi so tiếp với 9 loài thuộc 6 chi cá chép khác. Cách phân loại mới dựa trên kết quả của những phân tích đó.
Các chi mới là gì và phân biệt chúng thế nào?
Puntius
Giờ đây Puntius sensu stricto chỉ còn những loài không có râu mõm (rostral barbels). Tia vây lưng không phân nhánh cuối cùng của chúng có thể yếu hoặc cứng nhưng luôn nhẵn. Đường bên của chúng hoàn chỉnh, với 22-28 vảy có lỗ. Nhóm này gồm P. chola (Hamilton, 1822), P. dorsalis (Jerdon, 1849), P. kelumi Pethiyagoda, Silva, Maduwage & Meegaskumbura, 2008, P. layardi (Günther, 1868), P. mahecola (Valenciennes, in Cuvier & Valenciennes, 1844), P. pugio Kullander, 2008, P. sophore (Hamilton, 1822), P. terio (Hamilton, 1822) và P. thermalis (Valenciennes, in Cuvier & Valenciennes, 1844). Một số loài Nam Á khác có cùng các đặc điểm chẩn đoán cơ bản (nhìn từ bên ngoài) cũng được tạm xếp vào đây. Tuy vậy, trong số này chỉ có P. sahyadriensis Silas 1953 là được biết đến nhiều trong giới chơi cá. Cá barb hai chấm P. bimaculatus (Bleeker, 1863) và cá barb cherry P. titteya Deraniyagala, 1929 cũng có các đặc điểm trên nên vẫn ở lại chi này. Điểm khác của hai loài này so với mọi loài Puntius còn lại là chúng không có thóp sau thượng xương (postepiphysial fontanelle) và chỉ có 7 tia vây lưng phân nhánh. P. denisonii và P. chalakkudiensis nhiều khả năng sau này sẽ được tách sang một chi riêng. Hiện hai loài này vẫn ở lại Puntius vì nghiên cứu không kiểm tra mẫu vật nào của chúng.

Systomus
Năm 1996, Walter Rainboth đề xuất chuyển một số loài Puntius ở Đông Nam Á sang chi Systomus. Đây là một chi được lập từ thế kỷ 19, gồm những loài có gai vây lưng răng cưa, có 2 hoặc 4 râu và dưới 12 lược mang. Tên này không được chấp nhận rộng rãi trong sách báo cá cảnh. Trong ngư học thì nó ngày càng được dùng nhiều hơn. Nhiều loài thường được gọi theo tên này, và một số taxon mới mô tả được xếp thẳng vào chi. Trong nghiên cứu mới, Systomus dành cho những loài có cả râu hàm trên (maxillary) lẫn râu mõm (rostral). Tia vây lưng không phân nhánh cuối cùng của chúng cứng (hóa xương) và có răng cưa. Đường bên hoàn chỉnh, với 27-34 vảy. Chi này gồm S. asoka (Kottelat & Pethiyagoda,1989), S. compressiformis (Cockerell, 1913), S. jayarami (Vishwanath & Tombi Singh, 1986), S. martenstyni (Kottelat & Pethiyagoda, 1991), S. orphoides Valenciennes, in Cuvier & Valenciennes 1842, S. pleurotaenia (Bleeker, 1863), S. sarana (Hamilton, 1822), S. spilurus (Günther, 1868) và S. timbiri (Deraniyagala, 1963). Ngoài ra còn có một loài chưa được mô tả, gọi là 'Puntius sp. Richmondi'. S. orphoides là loài phân bố ở Đông Nam Á duy nhất còn ở lại Systomus.
Dravidia
Chi mới Dravidia mang tên người Dravidian ở miền nam Ấn Độ. Các loài trong chi có cả râu mõm lẫn râu hàm trên. Đường bên của chúng hoàn chỉnh, với 18–26 vảy có lỗ. Vây lưng có 4 tia không phân nhánh và 8 tia phân nhánh, trong đó tia không phân nhánh cuối cùng nhẵn. Xương dưới ổ mắt 3 (infraorbital 3) sâu và chồng một phần lên xương trước nắp mang. Chúng cũng không có xương uroneural tự do và không có thóp sau thượng xương. Các loài danh nghĩa thuộc Dravidia gồm D. afasciata (Jayaram, 1990), D. fasciata (Jerdon, 1849), D. kannikattiensis (Arunachalam & Johnson, 2003), D. melanampyx (Day, 1865) và D. pradhani (Tilak, 1973). Tuy vậy, hiện chỉ có D. fasciata và D. kannikattiensis được chính thức công nhận là hợp lệ. Loài trước đây gọi là Puntius fasciatus giờ là Dravidia fasciata.
Dawkinsia
Dawkinsia mang tên nhà sinh học tiến hóa nổi tiếng Richard Dawkins. Các loài trong chi không có râu mõm. Đường bên của chúng hoàn chỉnh, với 18-22 vảy có lỗ. Cá con có kiểu màu gồm ba vạch đen trên thân. Chi này gồm những loài trước đây thuộc 'nhóm Puntius filamentosus', giờ có tên là D. arulius (Jerdon, 1849), D. assimilis (Jerdon, 1849), D. exclamatio (Pethiyagoda & Kottelat, 2005), D. filamentosa (Valenciennes, in Cuvier & Valenciennes, 1844), D. rohani (Rema Devi, Indra & Marcus Knight, 2010), D. rubrotinctus (Jerdon, 1849), D. singhala (Duncker, 1912), D. srilankensis (Senanayake, 1985) và D. tambraparniei (Silas, 1954).
Pethia
Chi mới thứ ba có tên Pethia vì trong tiếng Sinhala, người bản địa gọi các loài cá chép nhỏ như vậy. Các loài Pethia không có râu mõm. Râu hàm trên thì không có hoặc rất nhỏ. Tia vây lưng không phân nhánh cuối cùng của chúng cứng và có răng cưa. Cuống đuôi có một đốm đen, và hai bên thân thường có các đốm, chấm hoặc vạch đen. Xương dưới ổ mắt 3 sâu và chồng một phần lên xương trước nắp mang. Chi này có 23 loài, trong đó có những loài cá cảnh quen thuộc như P. conchonius (Hamilton, 1822), P. cumingii (Günther, 1868), P. gelius (Hamilton, 1822), P. nigrofasciata (Günther, 1868), P. padamya (Kullander & Britz, 2008), P. stoliczkana (Day, 1871) và P. ticto (Hamilton, 1822). Các loài còn lại gồm P. atra (Linthoingambi & Vishwanath, 2007), P. bandula (Kottelat & Pethiyagoda, 1991), P. didi (Kullander & Fang, 2005), P. erythromycter (Kullander, 2008), P. khugae (Linthoingambi & Vishwanath, 2007), P. macrogramma (Kullander, 2008), P. manipurensis (Menon, Rema Devi & Viswanath, 2000), P. melanomaculata (Deraniyagala, 1956), P. nankyweensis (Kullander, 2008), P. nigripinnis Knight, Rema Devi & Arunachalam, 2012, P. phutunio (Hamilton, 1822), P. pookodensis (Mercy & Jacob, 2007), P. punctata (Day, 1865), P. reval (Meegaskumbura, Silva, Maduwage & Pethiyagoda,2008), P. shalynius (Yazdani & Talukdar, 1975), P. thelys (Kullander, 2008) và P. tiantian (Kullander & Fang, 2005). Về sau, 'Puntius' meingangbii Arunkumar & Tombi Singh, 2003, 'P.' muvattupuzhaensis Jameela Beevi & Ramachandran, 2005, 'P.' narayani (Hora, 1937), 'P.' ornatus Vishwanath & Laisram, 2004, 'P.' setnai Chhapgar & Sane, 1992 và 'P.' yuensis Arunkumar & Tombi Singh, 2003 cũng có thể được xếp vào chi này. Loài cá barb ruby đen phổ biến giờ đổi tên thành Pethia nigrofasciata.

Có loài Puntius nào nằm ngoài bản rà soát không?
Có. Đó là hầu hết các loài bản địa Đông Nam Á. Theo cách hiểu hiện nay, trong số đó chỉ có P. brevis (Bleeker, 1849) là thành viên của chi Puntius. Trong các loài trước đây thuộc Systomus, chỉ có S. orphoides là thành viên của chi này theo cách chẩn đoán mới. Những loài còn lại cần được chuyển sang chỗ khác, và hiện đang được xếp vào nhóm incertae sedis, tức chưa xác định được vị trí phân loại. Tạm thời, cách tốt nhất là gọi chúng là ‘Puntius‘, đặt tên chi trong dấu ngoặc kép để cho thấy cách dùng này còn đang bị nghi vấn. Cơ sở tri thức cũng dùng theo quy ước này. Trong số đó có những loài cá cảnh rất quen thuộc như 'P.' tetrazona, 'P.' oligolepis và 'P.' lateristriga.
Vấn đề này sẽ được giải quyết thế nào?
Một bản hiệu chỉnh các loài 'Puntius' Đông Nam Á đang được chuẩn bị. Kottelat và Tan (2011) đã nhắc ngắn gọn đến bản này khi mô tả loài Systomus (hiện là 'Puntius') xouthos.
Vậy cá của mình bị đổi tên thì nên gọi là gì, và tìm nó trong Cơ sở tri thức bằng cách nào?
Danh pháp khoa học hiện hành luôn được khuyến khích sử dụng, vì vậy lời khuyên ở đây là dùng các tên mới. Các hồ sơ loài liên quan trong Cơ sở tri thức cũng đang được sửa lại cho khớp với những thay đổi này, và việc sửa sẽ sớm xong. Dù vậy, lúc đầu các tên mới có thể chưa được giới chơi cá chấp nhận rộng rãi. Có thể đoán là nhiều người nuôi sẽ vẫn gọi cả nhóm là Puntius, vì sách và tạp chí in trước bản rà soát ghi tên như vậy. Thêm nữa, khi tên cũ đã quá quen thì những thay đổi phân loại lớn có thể khó được chấp nhận. Có người đơn giản là không biết về các thay đổi. Cũng có người thích tiếp tục dùng (sai) Barbus hay Capoeta. Đây là những tên hợp lệ, nhưng giờ dùng cho các nhóm cá khác. Ngoài ra, danh sách của các nhà buôn hiếm khi cập nhật các tổ hợp tên khoa học mới. Người dùng vẫn có thể tìm các loài này bằng tên Puntius, cả trên chính trang web lẫn qua công cụ tìm kiếm. Nhờ một số giải pháp kỹ thuật, kết quả trả về sẽ giống nhau.




Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.