Khám phá · đọc khoảng 10 phút
Giải phẫu bên trong của ốc
Theo Aquarium Breeder

Đây là phần thứ hai trong loạt bài về giải phẫu ốc. Phần thứ nhất đã nói về cấu tạo bên ngoài.
Bên trong cơ thể ốc có nhiều hệ cơ quan phức tạp, gồm hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh và sinh sản. Phần lớn các cơ quan này nằm gọn trong khối nội tạng.
Bạn đang học sinh học hay chỉ đơn giản là tò mò về tự nhiên thì phần dưới đây cũng sẽ cho bạn một cái nhìn thú vị về cấu tạo của loài vật đáng chú ý này.
Ghi chú nhanh về cấu tạo bên trong của ốc
| Hệ cơ quan | Bộ phận | Cấu tạo | Chức năng |
|---|---|---|---|
| Áo ốc | Áo ốc (mantle) | Tế bào tiết xà cừ, tế bào tuyến, tế bào biểu mô | Sửa chữa và duy trì vỏ |
| Tuyến nhầy | Tuyến nhầy | Tế bào tiết | Giảm ma sát khi di chuyển, dùng để giao tiếp và tự vệ |
| Hệ tiêu hóa | Thực quản | Lớp niêm mạc bên trong, lớp cơ ở giữa và lớp mô liên kết bên ngoài | Đẩy thức ăn xuống dạ dày |
| Hệ tiêu hóa | Dạ dày | Lớp tế bào lót bên trong tiết enzym, lớp cơ trơn ở giữa và lớp mô liên kết bên ngoài | Tiêu hóa |
| Hệ tiêu hóa | Tuyến tụy gan (tuyến tiêu hóa) | – | Tham gia tiêu hóa và tạo enzym giải độc các chất có hại |
| Hệ tiêu hóa | Ruột | – | Hấp thu chất dinh dưỡng từ thức ăn đã tiêu hóa |
| Hệ tiêu hóa | Hậu môn | – | Thải chất cặn bã |
| Hệ hô hấp | Mang (loài sống dưới nước), phổi (loài sống trên cạn) | – | Hô hấp |
| Hệ thần kinh | Hệ thần kinh trung ương | Não và một cặp dây thần kinh (hạch thần kinh, ganglia), dây thần kinh | Điều khiển các cơ quan nội tạng |
| Hệ thần kinh | Hệ thần kinh ngoại biên | Sợi trục thần kinh (axon) | Điều khiển cử động của cơ |
| Hệ tuần hoàn | Tim | Một tâm nhĩ và một tâm thất | Bơm huyết dịch (hemolymph) |
| Hệ tuần hoàn | Mạch máu | Động mạch chủ và mao mạch | Đưa huyết dịch (hemolymph) giàu oxy đi khắp cơ thể |
| Hệ tuần hoàn | Huyết dịch (hemolymph) | – | Chất lỏng tuần hoàn chủ yếu, vận chuyển oxy |
| Hệ sinh sản | Tinh hoàn (ở con đực) | – | Tạo tinh dịch |
| Hệ sinh sản | Buồng trứng (ở con cái) | – | Tạo trứng |
| Hệ sinh sản | Lỗ sinh dục (gonopore) | – | Lỗ mở để tế bào và dịch sinh sản thoát ra khi giao phối |
Khối nội tạng
Khối nội tạng là phần trung tâm của cơ thể ốc. Trong đó có nhiều cơ quan bên trong như hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn và hệ sinh sản. Khối này nằm dưới vỏ và được áo ốc che chở. Áo ốc là một lớp mô mỏng bọc bên ngoài khối nội tạng.
2.1. Áo ốc (mantle)
Mặt trong vỏ ốc được lót bằng một lớp mô mỏng gọi là áo ốc (mantle). Khi ốc lớn lên, lớp áo này tiết ra những lớp canxi cacbonat mới. Suốt đời con ốc, mô áo cũng lo việc sửa chữa và duy trì vỏ.
Áo ốc nằm ở mặt dưới cơ thể. Nó cũng tạo nên miệng vỏ (aperture), tức chỗ ốc thò thân ra ngoài.
Áo là bộ phận chủ chốt trong cấu tạo của ốc. Vỏ lớn lên được và được che chắn tốt đều là nhờ lớp áo này.
2.2. Tuyến nhầy
Tuyến nhầy ở mỗi loài ốc có cấu tạo không giống nhau. Nó còn khác nhau tùy vị trí của tuyến trên cơ thể.
Lưu ý. Có loài tập trung tuyến nhầy ở chân. Có loài lại có tuyến nằm ở áo ốc hoặc ở những phần khác của cơ thể.
Các tuyến này tiết ra chất nhầy đặc và dính. Đây là một hỗn hợp phức tạp gồm glycoprotein, nước và chất điện giải. Chất nhầy có nhiều công dụng quan trọng với con ốc.
- Công dụng chính là bôi trơn khi ốc bò. Chất nhầy làm giảm ma sát giữa chân ốc và bề mặt bên dưới, nhờ vậy ốc trượt êm cả trên chỗ thô ráp hay lồi lõm.
- Chất nhầy còn giữ cho ốc khỏi mất nước, khỏi nhiễm trùng và khỏi những tác động bất lợi khác từ môi trường.
- Ốc cũng dùng chất nhầy để giao tiếp và tự vệ. Vệt nhầy ốc để lại mang tín hiệu hóa học, và những con ốc khác có thể lần theo vệt này để tìm thức ăn hoặc bạn tình. Chất nhầy cũng có thể chứa hóa chất tự vệ để xua kẻ săn mồi hoặc ký sinh trùng.
2.3. Hệ tiêu hóa
So với nhiều loài động vật khác, hệ tiêu hóa của ốc khá đơn giản. Dù vậy, nó lấy chất dinh dưỡng từ thức ăn khá hiệu quả. Hệ tiêu hóa bắt đầu từ miệng, nằm ở mặt dưới của đầu.
Thực quản
Sau khi ốc nuốt, thức ăn đi qua thực quản rồi xuống dạ dày để tiêu hóa tiếp.
Thực quản của ốc là một ống cơ nối miệng với dạ dày. Các cơ trên thành thực quản co giãn để đẩy thức ăn đi dần về phía dạ dày.
Thực quản là bộ phận quan trọng của hệ tiêu hóa. Nó đảm nhận khâu nuốt và chuyển thức ăn đi.
Dạ dày
Vào đến dạ dày, thức ăn trộn với enzym tiêu hóa và tiếp tục bị phân giải.
Dạ dày của ốc chỉ là một túi cụt đơn giản. Ở đây quá trình tiêu hóa tiếp tục nhờ nước bọt. Phần lớn công đoạn tiêu hóa lại diễn ra ở tuyến tiêu hóa chính, gọi là tuyến tụy gan.
Tuyến tiêu hóa này tiết ra enzym và nhiều chất khác để tiêu hóa thức ăn. Nó cũng giải độc những chất có hại mà ốc có thể lỡ nuốt phải. Nói cách khác, tuyến này chiếm phần lớn khoang nội tạng và làm cả việc của gan lẫn tụy trong hệ tiêu hóa của ốc.
Gan ở các loài động vật khác không làm được như vậy. Tuyến tụy gan của ốc vừa tiết dịch tiêu hóa, vừa dự trữ chất dinh dưỡng, lại còn gánh phần việc chính của cả quá trình tiêu hóa.
Từ dạ dày, thức ăn đi xuống ruột. Tại đây cơ thể hấp thu chất dinh dưỡng.
Ruột
Ruột hấp thu chất dinh dưỡng từ phần thức ăn đã tiêu hóa đi xuống từ dạ dày.
Ruột là một ống dài cuộn lại, nằm trong khối nội tạng, ngay cạnh tuyến tiêu hóa chính là tuyến tụy gan.
Chất cặn bã còn lại sau khi hấp thu sẽ ra khỏi cơ thể ốc qua hậu môn.
Bài tiết
Thật ra ốc không có hậu môn đúng nghĩa như nhiều loài động vật khác.
Chất thải ra ngoài qua một lỗ nhỏ gọi là lỗ thở (pneumostome). Lỗ này thường nằm ở bên phải cơ thể ốc, gần khoang áo.
2.4. Hệ hô hấp
Ốc là động vật thân mềm chân bụng thở bằng không khí, dù chúng sống dưới nước hay trên cạn. Tuy vậy, môi trường sống và lối sống khác nhau nên hệ hô hấp của ốc nước và ốc cạn cũng không giống nhau.
Ốc nước
Ốc nước thở bằng mang. Mang là cấu trúc chuyên lấy oxy từ nước và nằm bên trong khoang áo. Khoang áo là khoảng trống giữa khối nội tạng (các cơ quan bên trong) và vỏ.
Trong khoang áo có một mạng lưới mạch máu nhỏ gọi là biểu mô hô hấp (mô có rất nhiều mạch máu). Khí được trao đổi ở chính chỗ này.
Ốc bơm nước vào khoang áo rồi đẩy ra ngoài qua ống xi-phông. Khi nước chảy qua, mang lấy oxy và nhả khí cacbonic ra.
Ốc cạn
Ốc cạn thì khác. Chúng thở bằng một lá phổi đơn giản, thực chất chỉ là một cái túi nhiều mạch máu nằm gần tim.
Ốc hít không khí qua một lỗ nhỏ ở bên thân gọi là lỗ thở (pneumostome). Không khí vào phổi, rồi oxy khuếch tán vào máu. Theo chiều ngược lại, khí cacbonic khuếch tán từ máu sang phổi rồi thoát ra ngoài qua lỗ thở.
Thông tin thú vị. Ốc nước chỉ thở bằng mang. Còn một số loài ốc cạn có thể thở thêm một phần qua da, nhất là khi trời ẩm.
2.5. Hệ thần kinh
Hệ thần kinh của ốc tương đối đơn giản. Đó là một mạng lưới tế bào thần kinh (nơron) nối với các thụ thể cảm giác khắp cơ thể, và nối cả với cơ lẫn các cơ quan khác.
Hệ thần kinh của ốc có thể chia thành các phần chính sau:
- hệ thần kinh trung ương (CNS)
- hệ thần kinh ngoại biên (PNS).
CNS gồm não và một cặp dây thần kinh chạy dọc thân. PNS gồm các nơron cảm giác nhận kích thích và các nơron vận động điều khiển cử động của cơ.
CNS. CNS gồm não, là trung tâm xử lý, cùng một cặp dây thần kinh chạy dọc thân. Hai dây thần kinh này chuyển thông tin về não và từ não đi ra. Nhờ chúng mà ốc cảm nhận được môi trường xung quanh và phản ứng cho phù hợp.
PNS. PNS gồm các nơron cảm giác nhận nhiều loại kích thích từ bên ngoài và các nơron vận động điều khiển cử động của cơ.
CNS và PNS phối hợp với nhau nên ốc phản ứng với môi trường nhịp nhàng và hiệu quả.
Não
Não ốc nằm gần phía trước cơ thể và chia thành nhiều vùng riêng. Mỗi vùng xử lý một loại thông tin cảm giác, chẳng hạn tín hiệu thị giác hay khứu giác. Các vùng này cũng điều khiển nhiều hành vi và cử động khác nhau.
Dây thần kinh
Các dây thần kinh của ốc chạy dọc thân và nối với các hạch thần kinh (ganglia), tức những cụm tế bào thần kinh. Mỗi hạch điều khiển những việc cụ thể như ăn, di chuyển và sinh sản. Các hạch còn nối với nơron cảm giác và nơron vận động của PNS, nhờ vậy ốc phản ứng nhanh khi môi trường thay đổi.
Dây thần kinh truyền xung điện đi khắp cơ thể. Nhờ đó các cơ quan và mô liên lạc được với nhau và hoạt động ăn khớp.
Hệ thần kinh của ốc có một điểm đặc biệt là sợi trục khổng lồ. Đây là những tế bào thần kinh chuyên biệt, đường kính lớn gấp nhiều lần các nơron khác trong cơ thể. Sợi trục khổng lồ điều khiển các cử động cơ nhanh, ví dụ như lúc ốc phản xạ chạy trốn.
2.6. Hệ tuần hoàn
Ốc có hệ tuần hoàn hở.
Tim ốc là một khối cơ nằm phía trên hệ tiêu hóa. Nó gồm một tâm nhĩ và một tâm thất.
Ốc không có máu. Thay vào đó, chúng có huyết dịch (hemolymph), một chất lỏng làm nhiệm vụ tương tự. Huyết dịch mang oxy và chất dinh dưỡng đến các cơ quan và mô, đồng thời mang chất thải đi.
Trong hệ tuần hoàn của ốc, huyết dịch chảy từ tim vào xoang máu (hemocoel), là khoang chứa các cơ quan trong cơ thể. Huyết dịch tắm trực tiếp lên các cơ quan và mô rồi mới quay về tim.
2.7. Hệ sinh sản
Ốc sinh sản hữu tính theo hai kiểu chính là lưỡng tính và phân tính (đơn tính).
- Ốc lưỡng tính mang cả cơ quan sinh sản đực lẫn cái. Chúng có thể lưỡng tính đồng thời hoặc lưỡng tính tuần tự.
- Ốc phân tính (đơn tính) có giới tính riêng biệt. Mỗi con hoặc là đực, hoặc là cái.
Hệ sinh sản của ốc nằm trong khối nội tạng, tức phần chứa các cơ quan bên trong. Hệ này thường có cả cơ quan bên trong lẫn bên ngoài.
Cơ quan bên trong gồm tinh hoàn (ở con đực) để tạo tinh trùng và buồng trứng (ở con cái) để tạo trứng. Chúng nằm trong khối nội tạng và thông ra ngoài qua một lỗ gọi là lỗ sinh dục (gonopore).
Ở ốc lưỡng tính, lỗ sinh dục thường nằm bên thân, gần đầu. Lúc giao phối, hai con ốc tiến sát lại nhau và thò cơ quan sinh sản ra ngoài. Chúng trao đổi tinh trùng cho nhau, nên con nào cũng thụ tinh được cho trứng của con kia.
Sau khi thụ tinh, trứng phát triển thành phôi có vỏ bọc, gọi là “nang trứng” (capsule). Ốc thường đẻ nang trứng ở chỗ ẩm và kín đáo, chẳng hạn dưới đá hay trong khe nứt. Tùy loài, ốc có thể đẻ vài nang lớn hoặc rất nhiều nang nhỏ. Thời gian trứng phát triển cũng có thể dài ngắn khác nhau.
Thông tin thú vị. Một số loài ốc còn có một cấu trúc chuyên biệt gọi là phi tiêu tình yêu (love dart). Đây là một mũi nhỏ và sắc mà ốc dùng trong lúc giao phối. Phi tiêu tình yêu do cơ quan sinh sản đực tạo ra. Người ta cho rằng nó làm tăng khả năng thụ tinh thành công, vì nó làm thay đổi đường sinh sản của con ốc nhận.
Kết luận
Cấu tạo của ốc phản ánh môi trường sống đa dạng và cách sinh tồn của chúng. Từ các tuyến chuyên tiết chất nhầy cho đến hệ thần kinh và cơ quan sinh sản phức tạp, ốc đã tiến hóa ra nhiều kiểu thích nghi để sống tốt ở những môi trường khác nhau.
Hiểu được cấu tạo của ốc rồi, ta càng thấy rõ tự nhiên phức tạp và đa dạng đến mức nào.



Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.