Khám phá · đọc khoảng 11 phút
Niềm đam mê cichlid
Theo Seriously Fish

Đây là kỳ đầu tiên của một loạt phỏng vấn mà ban tổ chức hy vọng sẽ thành chuyên mục thường kỳ. Khách mời là Michael K. Oliver, chuyên gia về cichlid Malawi, nhà ngư loại học, người chơi cá cảnh và quản trị viên website.
Cyrtocara moorii là một trong hơn 400 loài cichlid được mô tả từ hồ Malawi tính đến nay. © Phil Sieradzan

Michael đã quan tâm đến cichlid Malawi từ lâu. Cả luận văn Thạc sĩ lẫn nghiên cứu Tiến sĩ của ông đều xoay quanh phân loại học hệ thống của cichlid châu Phi.
Ông đã nhiều lần đến hồ, lặn cùng đàn cá và thu mẫu vật cho nghiên cứu khoa học. Ông cũng đã mô tả một số loài đáng chú ý, trong đó có cichlid gỉ sắt (rusty cichlid) Iodotropheus sprengerae và hap đầu vàng lưu huỳnh (sulphur-headed hap) Otopharynx lithobates.

Từ năm 1997, ông còn điều hành trang The Cichlid Fishes of Lake Malawi, Africa. Đây là nguồn tài liệu mở toàn diện không đâu sánh bằng, dành cho bất kỳ ai quan tâm đến hồ này và các loài cá ở đây.
PV: Michael, ông đã nghiên cứu cichlid Malawi gần năm thập kỷ. Ông bắt đầu để ý đến những loài cá này từ đâu, và làm sao ông giữ được niềm đam mê ấy?
MKO: Câu hỏi hay, nhưng không trả lời ngắn được. Mọi chuyện bắt đầu từ chỗ tôi thích cá nói chung, vào khoảng mười hay mười hai tuổi. Tôi đã nghĩ rất nhiều về chuyện nó bắt đầu thế nào, và vì sao lại thế. Tôi lớn lên ở Los Angeles, nhưng nhà không gần biển.
Ký ức đầu tiên của tôi về cá là một bể cá nhỏ trong phòng khám của vị bác sĩ nhi hồi tôi còn bé. Rồi vài lần cả nhà đi Marineland of the Pacific. Đó là một thủy cung (nay không còn nữa) có bể biển khổng lồ, nhiều bể nhỏ hơn nuôi cá từ đủ loại môi trường sống, có cả cá heo và hải cẩu biểu diễn, đủ mọi thứ quen thuộc.
Đứng ngước nhìn cá khế, cá mập và cá Garibaldi màu cam rực bơi quanh chiếc bể khổng lồ ấy, cậu bé chưa tới tuổi teen là tôi hẳn đã bị ấn tượng rất mạnh.
Năm 14 tuổi tôi có bể cá đầu tiên, và chẳng bao lâu đã bắt đầu sưu tầm sách về cá, kể cả sách khoa học. Tôi vào Hội Cá cảnh Los Angeles, sinh hoạt rất tích cực, và cứ vài ngày lại ghé các cửa hàng cá quanh vùng (nghe quen không?).
Đảo Thumbi Đông, nơi Michael thu cichlid lần đầu năm 1968. Ảnh chụp từ chiếc máy bay Britten-Norman Islander của Air Malawi ngay trước khi hạ cánh xuống Monkey Bay năm 1971. © Michael K. Oliver
Đến năm 16 tuổi, tôi biết mình muốn làm nhà phân loại học cá. Tôi biết đến cichlid Malawi cũng trong mấy năm tuổi teen này. Khoảng năm 1966, tôi thấy vài loài mbuna sặc sỡ ở cửa hàng cá gần nhà (tôi nhớ giá 40 USD một con). Tôi cũng nhớ đã đọc một bài viết về chúng trên TFH.
Cha tôi là giáo sư tiếng Anh đại học. Cứ vài năm ông lại có một kỳ nghỉ phép nghiên cứu, và mẹ con tôi đi theo ông khá nhiều. Năm tôi 17 tuổi, cả nhà lên kế hoạch cho một chuyến đi, trong đó có chặng xuyên châu Phi từ nam lên bắc. Tôi thuyết phục được cha cho tôi sắp xếp một điểm dừng ở Malawi. Tôi muốn tận mắt thấy những con cichlid sặc sỡ ấy ngoài tự nhiên.
Tôi viết thư cho Cán bộ Thủy sản Trưởng của Malawi (thư giấy hẳn hoi, bỏ trong phong bì gửi đường hàng không, vì hồi đó là thập niên 1960). Lá thư được chuyển đến Cán bộ Nghiên cứu Thủy sản Cao cấp ở Monkey Bay là ông David Eccles. Ông Eccles mời chúng tôi đến thăm và hứa sẽ giới thiệu cho tôi các loài cá bản địa.
Đúng là giấc mơ thành sự thật! David là một nhà tự nhiên học xuất sắc, và ông tiếp đón bố mẹ tôi với tôi rất chu đáo trong mấy ngày ở Monkey Bay. Ông tổ chức các chuyến thu mẫu ở bờ đá đảo Thumbi Đông, rồi kéo lưới vây ở bãi cát gần đó. Chúng tôi bắt được hàng chục con cichlid thuộc nhiều loài, thêm cá cyprinid (họ cá chép), cá da trơn, và cả Aplocheilichthys johnstoni. Tôi chẳng khác gì đứa trẻ lạc vào… tiệm kẹo cichlid.
Độ đa dạng của cichlid ở đây làm tôi choáng ngợp (hồi đó người ta mới biết vài trăm loài). Được thấy cùng lúc bao nhiêu con cichlid "40 đô" ấy, màu sắc rực rỡ, vừa mới bắt lên từ bãi đá nơi chúng sống, cũng để lại ấn tượng rất sâu. Hai ngày ở cùng Eccles đã hướng những nghiên cứu sau này của tôi vào cichlid Malawi.
Michael mô tả Otopharynx lithobates năm 1989. © Unimati.dk
Nhân tiện kể thêm, ông ấy và tôi đã bắt được mẫu của một loài cichlid nhỏ xinh sống ở bờ đá, trên mình có ba đốm. David không chắc đó là loài gì. Về Los Angeles, tôi tiếp tục tìm cách định danh nó, cả ở Bảo tàng Anh (British Museum), và cuối cùng chứng minh chắc chắn được nó là loài chưa được mô tả. Nhiều năm sau tôi mô tả nó với tên Otopharynx lithobates. Loài này về sau được dân chơi bể ưa chuộng, và nó hoàn toàn xứng đáng.
Với chuyến đi năm 1968 ấy, tôi nghĩ mình là người Mỹ đầu tiên đến hồ Malawi vì cá, kể từ năm 1929, khi hai nhà sưu tầm R. và L. Boulton của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ bắt vài con cá ở Karonga và Deep Bay. Tôi chụp rất nhiều ảnh. Về nhà, tôi viết một loạt ba bài có minh họa về chuyến thăm hồ cho tạp chí The Aquarium, đăng năm 1970.

Thời đó, người ta chỉ xuất khẩu mbuna cho thị trường cá cảnh. Bài viết của tôi nhấn mạnh rằng còn rất nhiều loài cichlid không thuộc nhóm mbuna, màu sắc đẹp và rất hợp nuôi bể.
Năm 1971, tôi gặp Peter và Henny Davies ở Malawi. Họ là những người đầu tiên xuất khẩu cá ở đây. Họ kể rằng chính bài viết của tôi đã thuyết phục họ bắt đầu xuất khẩu các loài "hap" không phải mbuna, và đúng là sau đó nhóm cá này trở nên rất phổ biến.
Còn chuyện giữ niềm đam mê thì một khi đã bắt đầu, làm sao mà tắt được? Tôi thấy ý tưởng biophilia của E. O. Wilson, tức "thôi thúc gắn kết với các dạng sống khác", là có giá trị. Nhưng tôi tin có những người còn bị sự đa dạng sinh học hút hồn theo một kiểu cụ thể hơn nữa.
Tôi chắc chắn thuộc số đó. Ngoài cichlid, tôi còn sưu tầm bọ cánh cứng, nhóm sinh vật nhiều loài đến mức cichlid đứng cạnh cũng thành nghèo nàn!
Ngoài cichlid Malawi, Michael còn một niềm đam mê lớn nữa là bọ cánh cứng, chẳng hạn loài Neoclytus scutellaris này. © Michael K. Oliver
PV: Phân loại học cichlid ở hồ này đã hoàn chỉnh tới đâu? Ông có nghĩ vẫn còn phát hiện mới không?
MKO: Ồ, chắc chắn còn nhiều loài chưa ai khám phá. Tính đến nay, khoảng 400 loài cichlid đã được mô tả từ hồ Malawi.
Ngoài ra còn 450 đến 500 loài nữa được cho là loài mới. Người ta đã thu mẫu, chụp ảnh dưới nước, hoặc cả hai, nhưng chúng vẫn chưa được mô tả. Gần như chuyến nào đến một bờ đá hẻo lánh cũng có phát hiện mới, và các đợt kéo lưới ở vùng nước sâu chưa từng lấy mẫu cũng vậy.
Dựa vào những gì thấy được gần đây ở các nhóm cá khác, nhiều khả năng người ta cũng sẽ tìm ra một số loài ẩn (cryptic) nằm ngay trong những gì hiện được xem là một loài duy nhất, vốn xác định theo hình thái.
Ngoài chuyện nhận diện và đặt tên cho đủ các loài, phần lớn chi tiết về quan hệ phát sinh chủng loại giữa chúng vẫn chưa rõ. Khi hiểu rõ hơn, chắc chắn phân loại ở cấp chi của chúng sẽ phải sửa đổi trên diện rộng.
PV: Gần đây ông mô tả một loài mới có nhiều điểm thú vị. Ông kể thêm về nó được không?
MKO: Hemitaeniochromis brachyrhynchus là loài thứ hai của chi này được mô tả. So với H. urotaenia, loài được biết đến nhiều hơn, dạng mới đặt tên này có giải phẫu khá kỳ lạ.
Phần đầu trông như bị dồn lại phía trước mắt. Lý do là xương lệ, xương nằm nông ở mặt ngoài giữa mắt và hàm trên, cực kỳ hẹp. Vì vậy con cá có cái mõm ngắn khác thường (brachyrhynchus nghĩa là mõm ngắn). Mắt nó cũng to bất thường.
Michael gần đây mô tả Hemitaeniochromis brachyrhynchus, loài hiện chỉ biết qua hai mẫu vật. © Michael K. Oliver
Bằng chứng gián tiếp cho thấy rất có khả năng H. brachyrhynchus là loài ăn trứng/cá bột (paedophage). Đây là nhóm cichlid chuyên cướp và ăn trứng hoặc cá con mà cá mẹ đang ấp trong miệng.
Nhưng đến giờ mới biết có hai mẫu vật, ngay cả màu sắc lúc còn sống ra sao cũng còn là bí ẩn. (Bản mô tả được đăng dưới dạng bài báo truy cập mở. Ai muốn tìm hiểu thêm về loài cichlid này có thể tải miễn phí tại http://www.mapress.com/zootaxa/2012/f/zt03410p050.pdf.)
PV: Hiện nay người ta còn bắt cá Malawi hoang dã cho thị trường cá cảnh không, và chuyện đó có gây hại cho quần thể tự nhiên không?
MKO: Có, ít nhất là cơ sở lớn ở Kambiri Point gần Salima, Malawi, do Stuart Grant quá cố lập nên (xem http://lakemalawi.com).
Thiệt hại nặng nhất mà giới bắt cá cảnh gây ra cho quần thể tự nhiên có lẽ là chuyện vợ chồng Davies cố ý chuyển cichlid từ vùng này sang vùng khác của hồ khoảng 40 năm trước, chỉ vì tiện cho họ. Ví dụ, họ bắt các loài cichlid đặc hữu của đảo Likoma rồi thả ở đảo Thumbi Tây, cách đó hơn 200 km.

Hành động ích kỷ và đáng lên án này đã mở đường cho lai tạp và cạnh tranh giữa những loài vốn không bao giờ gặp nhau ngoài tự nhiên. Nó cũng làm rối thêm nỗ lực tìm hiểu các kiểu phân bố tự nhiên của cichlid, vốn đã cực kỳ phức tạp.
Tôi không biết trường hợp nào mà bắt quá tay cho thị trường cá cảnh đã đe dọa nghiêm trọng một quần thể cichlid ở hồ Malawi. Nhưng vì một số loài có quần thể rất nhỏ, một hoạt động thu bắt thiếu trách nhiệm chắc chắn có thể kéo một quần thể (thậm chí cả một số loài) xuống dưới mức tự duy trì được.
Hồ Malawi là nơi sống của vô số loài cichlid, và có lẽ hơn một nửa trong số đó vẫn chưa được khoa học mô tả. © Sarah Depper
PV: Ông có nghĩ quá trình hình thành loài của cichlid hồ Malawi sẽ có lúc dừng lại không? Và liệu có loài nào hiện nay sẽ tự biến mất vì quá trình hình thành loài vẫn đang diễn ra?
MKO: Chừng nào hồ Malawi còn cichlid, chúng sẽ còn tiếp tục phân hóa và hình thành loài mới. Động lực chắc chắn đến từ mực nước hồ lên xuống liên tục, lúc cô lập, lúc nối lại các đoạn bờ đá. Ngoài ra còn những yếu tố khác, như cá cái thay đổi sở thích về màu sắc của cá đực.
Tuyệt chủng cũng là một quá trình tự nhiên. Chắc chắn đã có nhiều loài xuất hiện rồi biến mất trong hồ, và sẽ còn nhiều loài như thế nữa.
Tôi thích hình dung thế này. Vài chục triệu năm nữa, hai mảng kiến tạo kẹp hồ Malawi ở giữa sẽ tiếp tục tách xa nhau, mảng Rovuma ở phía đông và mảng Nubia chính ở phía tây. Khi đó hồ sẽ thông ra phía nam Ấn Độ Dương, và một số cichlid tương lai sẽ thích nghi rồi tràn vào các rạn san hô.
PV: Theo ông, thách thức lớn nhất mà hồ phải đối mặt trong tương lai là gì?
MKO: Tiếc là tôi nghĩ có vài thách thức.
- Đánh bắt thương mại quá mức vẫn tiếp diễn ở phía nam (lưới vây, lưới kéo), và có lẽ đã đẩy một số loài cichlid đến tuyệt chủng, một số khác đến bờ vực. Ở vài khu vực, nghề cá thủ công của dân làng ven hồ cũng đã thành mối đe dọa đáng kể. Giờ đây người ta dùng rộng rãi loại lưới rất dài, mắt nhỏ, bắt cả cichlid non với số lượng lớn. Xem video: http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=VGe-f2kH3Yg
- Bùn đang bồi lắng trong hồ do nước chảy tràn từ đồng ruộng, nhất là ở phía tây nam gần Salima.
- Ô nhiễm hóa chất từ nông nghiệp cũng có thể tăng lên. Tác hại sẽ nặng hơn vì thời gian lưu nước của hồ (thời gian để toàn bộ nước được thay mới) rất dài, do hồ chỉ có một cửa thoát là sông Shire.
- Dầu tràn từ các hoạt động khoan dầu dự kiến ở phía bắc là một mối lo tiềm tàng.
PV: Theo ông, đi thực địa ở Malawi thì những món đồ quan trọng nhất cần mang theo là gì?
MKO: E là lâu lắm rồi tôi không đến đó. Vài gợi ý hiển nhiên thế này. Để ngắm cá, bạn cần ống thở và kính lặn (lắp tròng theo toa nếu cần), cùng một chiếc áo vest neoprene. Nếu lặn SCUBA thì cần bộ điều áp cấp hai, máy tính lặn, thẻ chứng chỉ lặn, sổ nhật ký lặn, có thể thêm máy ảnh. Ngoài ra là pin dự phòng (có thể là pin sạc, kèm bộ sạc) và thẻ nhớ kỹ thuật số dự phòng.
Người dân địa phương thân thiện, hay giúp đỡ, và họ luôn quý vài món quà rẻ tiền như đồng hồ đeo tay hay áo thun.
Rhamphochromis là một loài cá thực phẩm quan trọng, và Michael hết lời giới thiệu nó! © Alexandra Tyers
PV: Câu cuối, có lẽ không tránh được: cá hay khoai tây chiên (fish or chips)?
MKO: Cả hai chứ! Nói riêng ở hồ Malawi, khó có gì bằng cá tilapia tươi từ hồ đem nướng. Nhưng mcheni (Rhamphochromis) hun khói cũng rất ngon, dù khá nhiều xương. Đến usipa (Engraulicypris sardella) phơi khô cũng có hương vị thú vị, ăn một lần cho biết (chắc sẽ dễ ăn hơn nếu bạn thích vị mật…).
PV: Mmmm, mật! Michael, thật vinh dự khi ông là khách mời đầu tiên của loạt phỏng vấn này. Cảm ơn ông rất nhiều và chúc ông mọi điều tốt đẹp nhất trong năm 2013!
MKO: Cảm ơn các bạn rất nhiều vì đã cho tôi vinh dự là người đầu tiên được phỏng vấn! Với tôi đây là một trải nghiệm hoàn toàn vui vẻ.



Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.