Khám phá · đọc khoảng 11 phút
Vì lợi ích của than bùn... Đã đến lúc ngừng dùng than bùn trong bể cá
Theo Seriously Fish

Chắc chắn đã đến lúc người chơi cá thôi dùng than bùn trong bể. Đây là một nguồn tài nguyên quý giá và không thể tái tạo.
Ảnh vệ tinh đảo Borneo chụp ngày 19/8/2002. Trong ảnh có thể thấy khói bốc lên từ các khu rừng đầm lầy than bùn đang cháy © Jacques Descloitres
Thú chơi cá cảnh có vô số loài cá nước ngọt, và rất nhiều loài trong số đó đến từ rừng nhiệt đới Nam Mỹ, châu Phi và Đông Nam Á. Nhắc đến nơi chúng sống, người ta thường hình dung những con suối, những vũng nước trong rừng đầy than bùn, nước đen (blackwater) màu như nước trà.
Ngoài màu đặc trưng, loại nước này thường có tính axit, giàu chất humic và nghèo dinh dưỡng. Phần lớn vi sinh vật cũng khó sống trong đó. Vì vậy dân chơi thường cố tái tạo những điều kiện tự nhiên này trong bể để cá khỏe và sinh sản tốt nhất.
Có vài cách làm phổ biến. Một trong những cách được dùng rộng rãi nhất là cho than bùn tự nhiên vào bể. Than bùn có thể ở dạng 'rêu' than bùn, dạng hạt hay viên nén, nằm trong các sản phẩm lỏng kiểu 'chiết xuất nước đen', hoặc hiếm hơn là dạng sợi thô chưa tinh chế.
Phần lớn than bùn dùng cho bể cá hình thành từ rêu thuộc chi Sphagnum. Loại này có bán cả dạng khô lẫn dạng đã qua xử lý © Ragesross
Thế nhưng dùng than bùn ở bất kỳ dạng nào có lẽ cũng đáng để cân nhắc lại. Lý do như sau…

Than bùn là gì và vì sao nó quan trọng?
Than bùn là vật liệu hữu cơ hình thành từ xác thực vật phân hủy chưa hết trong điều kiện ngập úng. Ở đó xác thực vật tích tụ nhanh hơn tốc độ phân hủy.
Than bùn thường hình thành ở đầm lầy than bùn (bog), đầm lầy (swamp) và những môi trường tương tự. Những nơi này thiếu oxy nên vi sinh vật khó hoạt động, và xác thực vật phân hủy chậm hẳn.
Than bùn càng tích tụ thì càng giữ được nhiều nước. Nhờ vậy đầm lầy than bùn lan rộng dần.
Đầm lầy than bùn có Sphagnum chiếm ưu thế thường có tính axit © James K. Lindsey
Bình thường, xác thực vật khi phân hủy sẽ thải ra carbon dioxide, một loại khí nhà kính. Nhưng trong một đầm lầy than bùn hay đầm lầy thiếu oxy như vậy, phần carbon này nằm lại ở dạng carbon và bị 'khóa' trong đó, không thoát ra khí quyển.

Vì thế các hệ sinh thái giàu than bùn là những kho chứa carbon khổng lồ trên quy mô toàn cầu, một chức năng môi trường thiết yếu. Riêng phần than bùn còn lại ở Vương quốc Anh đã chứa nhiều carbon hơn toàn bộ rừng châu Âu cộng lại.
Theo ước tính gần đây nhất, các vùng đất than bùn trên thế giới chứa khoảng 650 Gt (gigatấn) carbon. Con số này gấp khoảng 80 lần lượng phát thải hằng năm của ngành nhiên liệu hóa thạch, vốn vào khoảng 8 Gt.
Than bùn cũng tích tụ dần qua hàng nghìn năm. Một khi đã khai thác thì không thể thay thế, nên hoàn toàn không thể coi nó là tài nguyên tái tạo hay bền vững.
Bên cạnh đó, các hệ sinh thái giàu than bùn là nơi sống của những quần xã sinh vật đa dạng và độc đáo. Mất đi rồi thì không bao giờ lấy lại được.
Cây Bog Asphodel, Narthecium ossifragum, là loài điển hình của vùng đất ẩm giàu than bùn ở Tây Âu © Colin Dunlop
Chẳng hạn, nhiều loài thực vật ở đầm lầy than bùn rất chuyên biệt. Tiêu biểu là cây gọng vó (sundew) ăn thịt, Drosera spp., và cây bắt ruồi (Venus flytrap), Dionaea muscipula. Các chi cây thủy sinh nổi tiếng như Cryptocoryne và Barclaya cũng có nguồn gốc từ rừng đầm lầy than bùn Đông Nam Á.

Tính chất vật lý và hóa học của than bùn tùy vào loại thực vật tạo nên nó. Than bùn dùng cho bể cá thường khai thác ở Canada. Thành phần chủ yếu của nó là rêu thuộc chi Sphagnum, thường gọi là rêu than bùn hay rêu đầm lầy.
Đầm lầy than bùn Sphagnum thường có tính axit. Nguyên nhân là loài rêu này hay hút các cation như canxi, magiê và đồng thời nhả ra hydro.
Loại đầm lầy này có nhiều dạng khác nhau. Đầm lầy 'chuỗi' (string bog) gồm một loạt gờ và đảo nhô cao. Ở đầm lầy 'nhô cao' (raised bog), than bùn ở phần trung tâm tích tụ cao hơn mức nước có thể dâng tới và tạo thành mái vòm hay gò. Còn ở đầm lầy 'nổi' (floating bog), thảm thực vật kết thành một lớp dày nổi trên mặt nước hoặc trên lớp than bùn rất ướt bên dưới.
Các loài cây ăn thịt như cây Drosera sp. này rất phổ biến ở đầm lầy than bùn. Trong điều kiện đó, nitơ, phốt pho và các chất dinh dưỡng khác thường khan hiếm, nên cây lấy chúng từ côn trùng bắt được © Colin Dunlop
Những loại đất ngập nước than bùn khác có thể có nước trung tính đến kiềm, với nồng độ khoáng hòa tan tương đối cao. Thảm thực vật ở đó thường là cói và cỏ.
Người ta thường gọi chúng là fen (đầm lầy kiềm) chứ không phải bog (đầm lầy axit). Cả hai loại gọi chung là mire (đầm lầy than bùn nói chung).

Than bùn trên thế giới đến từ đâu?
Những vùng đất than bùn rộng nhất nằm ở vùng cận Bắc Cực (boreal) và cận cực, nhất là tây bắc châu Âu, tây Siberia, miền trung Canada và Alaska.
Châu Phi nhiệt đới và Đông Nam Á cũng có những vùng đất than bùn quan trọng. Vài năm gần đây, người ta còn xác nhận vùng đất thấp phía tây Amazon có những mỏ than bùn rộng lớn, dù trước đây nơi này hiếm khi được để ý.
Một đầm lầy than bùn dạng thảm (blanket bog) nguyên sơ điển hình ở Scotland, Vương quốc Anh © Colin Dunlop
Than bùn bị khai thác vì sao, bằng cách nào và đến mức nào?
Con người đã dùng than bùn làm nguồn năng lượng ít nhất 2000 năm. Ngày nay than bùn vẫn bị đào với khối lượng công nghiệp, sấy khô rồi đem dùng trong làm vườn và làm nhiên liệu.

Cách truyền thống là cắt bằng tay với một loại xẻng chuyên dụng gọi là sleán hay slane. Cắt theo kiểu này thì lớp than bùn vẫn tiếp tục phát triển được sau khi thu hoạch.
Cắt tay rất vất vả và tốn thời gian. Bù lại, than bùn vẫn phục hồi được phần nào, vì cách này thường chỉ làm ở quy mô khá nhỏ.
Thời nay phổ biến hơn là khai thác bằng máy ở quy mô công nghiệp, dùng máy khoan xoắn (auger, còn gọi là máy làm xúc xích) hoặc máy xúc kèm phễu. Riêng cách dùng máy xúc đặc biệt gây hại. Nó rút cạn nước sâu trong lớp than bùn rất nhanh, lột sạch thảm thực vật bề mặt và phá hủy toàn bộ vùng đất ngập nước, không thể phục hồi.
Thu hoạch than bùn bằng máy thường gây tổn hại không thể đảo ngược cho môi trường sống đầm lầy than bùn. Hãy so sánh cảnh này với ảnh trước © M. J. Richardson
Chẳng hạn ở Vương quốc Anh, đầm lầy than bùn bị tháo nước và đào mương. Thêm vào đó, vào thập niên 1980 ngành giấy đã thiếu cân nhắc khi cố trồng cây vân sam sitka trên các đầm lầy này. Kết quả là hơn 90% diện tích đã mất, từ hơn 95.000 hecta (ha) ban đầu chỉ còn 6000 ha.
Các vùng đất than bùn cũng bị phá để nhường chỗ cho những dự án nông nghiệp quy mô lớn. Mấy thập kỷ qua, kiểu khai thác này đã làm suy giảm khả năng lưu trữ carbon và đa dạng sinh học. Nó làm tăng phát thải carbon, đẩy nhanh sự nóng lên toàn cầu và đẩy hàng nghìn loài đến bờ tuyệt chủng.
Thấy rõ nhất có lẽ là cảnh phá rừng hàng loạt và đốt rừng đầm lầy than bùn ở Đông Nam Á. Tình trạng này vẫn tiếp diễn đến nay. Ví dụ điển hình là 'Dự án Mega Rice' (Mega Rice Project, viết tắt MRP) thất bại của chính phủ Indonesia vào cuối thập niên 1990.

Năm 1997, các đám cháy ở Kalimantan và Sumatra thải vào khí quyển 0,81–2,57 Gt carbon, chiếm 13–40% lượng phát thải carbon toàn cầu năm đó. Chúng cũng gây ra màn khói mù Đông Nam Á năm 1997.
Một khu vực từng là rừng đầm lầy than bùn ở tỉnh Riau, Indonesia (Sumatra), sau khi bị đốt để trồng cọ dầu © Aid Environment
MRP đã bị bỏ dở và về sau bị coi là một trong những thảm họa môi trường lớn của thời đại. Dù vậy, nạn phá và đốt đất than bùn vẫn tiếp diễn khắp Đông Nam Á. Một giả thuyết dự báo rằng với tốc độ mất mát hiện nay, đến năm 2040 khu vực này sẽ không còn mỏ than bùn nào.
Nếu chuyện đó xảy ra, các loài đặc hữu sẽ biến mất trên diện rộng, một mất mát thảm khốc. Trong số đó có hàng loạt loài cá cảnh nổi tiếng thuộc các chi Betta, Parosphromenus, Rasbora, 'Puntius', Boraras, Sundadanio và Pangio. Nhiều loài trong số này vốn đã có nguy cơ tuyệt chủng.
Người nuôi cá đâu có lỗi gì mấy trong chuyện này, đúng không?
Dĩ nhiên là không. Nhưng có thật sự cần góp tay phá hủy một môi trường sống tự nhiên quan trọng như vậy không?

Lượng than bùn ngành cá cảnh dùng hoàn toàn không thấm vào đâu so với lượng dùng làm sản phẩm làm vườn hay nhiên liệu. Có điều, thú chơi cá vốn tiêu thụ tài nguyên, và bỏ than bùn là một bước tích cực để thú chơi này bớt đi tính chất đó.
Nhiều người nuôi cá cũng quan tâm đến thiên nhiên. Trước một vấn đề môi trường có thật như thế này, có lẽ đã đến lúc nhìn lại thói quen dùng than bùn trong bể và tìm những thứ thay thế vừa hữu ích vừa bền vững hơn.
Nhiều loài Betta chỉ sống ở rừng đầm lầy than bùn (chuyên biệt về môi trường sống) và đang biến mất cùng nơi sống của chúng © Haji Badaruddin
Nhưng nếu cá của mình đến từ môi trường chịu ảnh hưởng của than bùn, chẳng lẽ không cần cho than bùn vào bể?
Thực ra trong hầu hết trường hợp, câu trả lời là không.
Tính chất hóa học của than bùn phụ thuộc vào loại thực vật tại chỗ, môi trường lắng đọng và mức độ phân hủy. Chẳng hạn, pH của than bùn thường dao động từ 4,0 đến 7,0, nhưng đôi khi xuống tới 3,0.

Vì vậy, bất kỳ loại than bùn hay sản phẩm từ than bùn nào cho vào bể cũng cực kỳ khó giống với than bùn ở nơi cá sống ngoài tự nhiên.
Than bùn hình thành từ các loài cói như Carex spp. thường trung tính hoặc kiềm chứ không phải axit © Hermann Schachner
Các thành phần hữu cơ chính của than bùn thường được gọi chung là chất humic. Một thành phần chủ yếu trong đó là axit humic, và người ta thường cho rằng chất này quan trọng với các loài sống tự nhiên trong môi trường nước đen.
Thế nhưng axit humic thực ra là hỗn hợp phức tạp của nhiều axit khác nhau chứ không phải một chất đơn lẻ. Nó hình thành khi xác thực vật nói chung bị phân hủy sinh học, không riêng một nhóm thực vật cụ thể nào.
Trong bể cá, bạn có thể đạt hiệu quả tương tự bằng lá khô hoặc nón cây tống quán sủi (alder). Cả hai đều nhả axit humic khi để phân hủy trong nước.
Bạn cũng có thể tự đi nhặt lá và nón cây cho đỡ tốn tiền. Rõ ràng dùng lá khô và nón cây thân thiện với môi trường hơn than bùn.

Nón cây tống quán sủi (alder) mang lại những lợi ích tương tự than bùn trong bể cá, và bạn có thể tự thu thập © Anneli Salo
Hơn nữa, với lượng thường dùng trong bể cá, than bùn không làm thay đổi đáng kể hóa học nước. Nó cũng không phải cách hữu ích để axit hóa nước, và lá hay nón alder cũng vậy. Cái lợi thật sự nằm ở các hóa chất nó nhả ra, vốn được cho là tốt cho một số loài cá.
Trong nước cứng hơn, những lợi ích này giảm đi. Muốn có pH đủ thấp cho các loài cá nước đen nhạy cảm, thường phải dùng máy lọc thẩm thấu ngược (RO) hoặc thiết bị lọc nước khác, nhiều khi kèm thêm các chất như axit photphoric.
Lúc đó bạn có thể dùng lá hoặc nón alder để tạo điều kiện tối ưu. Chúng mang lại phần lớn lợi ích giống than bùn.

Còn cá killifish thì sao?
Xưa nay người ta vẫn dùng than bùn làm giá thể để cá killifish sống theo mùa (annual killifish) đẻ trứng và để lưu trữ trứng. Nhưng vẫn có vài lựa chọn thay thế, và phổ biến nhất có lẽ là xơ dừa (coir).

Xơ dừa (coir) có thể dùng để lưu trữ trứng cá killifish © Matias Miika
Xơ dừa làm từ lớp vỏ sợi bao quanh trái dừa, về cơ bản là phụ phẩm công nghiệp. Nó không hoàn toàn thân thiện với môi trường, nhưng ít nhất được xem là tài nguyên tái tạo.
Xơ dừa thường được vận chuyển dưới dạng kiện nén, viên, tấm hoặc đĩa. Nó rẻ và là giá thể tuyệt vời cho trứng. Có điều xơ dừa hay khô nhanh hơn than bùn, nên nếu đã quen dùng than bùn, có thể bạn phải thử nghiệm đôi chút mới đạt kết quả tốt nhất.
Tài liệu tham khảo
- Lähteenoja, O. and K. H. Roucoux. 2010. Inception, history and development of peatlands in the Amazon Basin. Past Global Changes News 18(1): 27-29
- Joosten, H., M-L. Tapio-Biström and S. Tol (eds.). 2012. Peatlands - guidance for mitigation updated report. FAO and Wetlands International: 1-100
- Billett, M., D. J. Charman, J. M. Clark, C. Evans, M. Evans, N. Ostle, F. Worrall, A. Burden, K. Dinsmore, T. Jones, N. McNamara, L. Parry, J. Rowson, and R. Rose. 2010. Carbon balance of UK peatlands: current state of knowledge and future research challenges. Climate Research 45: 13–29
Cảm ơn Colin Dunlop đã góp ý.



Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.