Cichlidae, Venezuela

Cá ăn đất Orinoco

Biotodoma wavrini

Tên khác: Orinoco eartheater, Orinoco Eartheater

Nhiệt độ
20–30°C
pH
4–6,5
Độ cứng (dGH)
1–5
Kích thước
10 cm
Bể tối thiểu
150 cm
Độ khó
Vừa 5/8

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-30.

Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Thông tin nhanh

Cá ăn đất Orinoco (Biotodoma wavrini) là một loài cichlid thuộc nhóm geophagine. Chúng sống ở lưu vực sông Orinoco và rio Negro, thuộc Venezuela, Colombia và Brazil. Một nơi sống tự nhiên của loài này là Río Cinaruco, một nhánh nước đen nghèo dinh dưỡng của sông Orinoco. So với B. cupido, loài này có thân dài hơn hẳn. Đốm sẫm bên sườn của nó nằm ngay trên hoặc dưới nhánh trên của đường bên. Ngoài mùa sinh sản, chúng hiền đến bất ngờ. Trên thị trường có các dòng 'Cuao', 'Orinoco', 'San Antonio' và 'Sipapo Ventuari'.

  • Kích thước tối đa: 100 mm SL (chiều dài chuẩn)
  • Kích thước bể: 150 × 45 cm
  • Nhiệt độ: 20–30°C
  • pH: 4,0–6,5
  • Độ cứng: 1–5 dGH

Theo Seriously Fish

Cần bể bao lớn?

Chiều dài chuẩn: 100 mm SL. Đáy bể: 150 × 45 cm. Thể tích: khoảng 304 lít.

Bạn nên chọn bể có đáy từ 150 × 45 cm trở lên.

Theo Seriously Fish

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 20–30°C
  • pH: 4,0–6,5
  • Độ cứng: 1–5 dGH

Theo Seriously Fish

Juveniles from the Slovenian aquarium trade.
Ảnh: Seriously Fish, dùng với sự cho phép

Chăm sóc ra sao?

Tốt nhất là dùng nền cát mịn và mềm, vì cá trong chi này chủ yếu kiếm ăn sinh vật ở đáy. Phần trang trí còn lại phần lớn tùy sở thích. Dù vậy, kiểu bố cục được chuộng nhất thường có ánh sáng khá tối, vài khúc lũa cùng ít rễ hoặc cành cây rải rác. Nếu muốn, bạn có thể đặt thêm một hai viên đá cuội mòn nước để cá có chỗ đẻ.

Chất lượng nước là chuyện quan trọng hàng đầu. Loài cichlid này rất dễ bị ảnh hưởng khi nước xấu đi, nên tuyệt đối không thả chúng vào bể chưa ổn định vi sinh. Muốn nước ổn định, cách tốt nhất là chạy lọc thùng ngoài, sump, hoặc kết hợp cả hai. Ngoài ra, mỗi tuần cần thay ít nhất 50–70% nước.

Nếu chăm sóc không đủ kỹ hoặc cho ăn không đủ chất, cá có thể bị bệnh lỗ đầu và đường bên (HLLE), hoặc còi cọc, chậm lớn.

Phần lọc cơ học nên chọn loại giữ được những hạt nhỏ mà cá khuấy lên. Nếu cát cứ liên tục chạy qua hệ thống, nó có thể làm tắc hoặc làm mòn các bộ phận của máy lọc.

Theo Seriously Fish

Cho ăn gì?

Khẩu phần nên đa dạng, gồm nhiều loại thức ăn chế biến sẵn dạng hạt mịn, chất lượng tốt. Bên cạnh đó, bạn cho thêm thức ăn sống hoặc đông lạnh như trùng huyết (ấu trùng chironomid), trùng chỉ, Artemia, bọ gậy, v.v. Trong số thức ăn khô, ít nhất vài loại nên có nhiều thành phần thực vật như Spirulina hoặc tương tự.

Thức ăn tự làm, đông lại bằng gelatin, đã cho thấy hiệu quả tốt. Ví dụ, bạn có thể trộn thức ăn khô cho cá với hải sản có vỏ xay nhuyễn, trái cây và rau tươi. Sau khi đông, bạn dùng đầu ống pipet sắc hoặc dao nhỏ cắt thành từng miếng tròn vừa miệng cá.

Thay vì một bữa lớn, nên chia ra 3–4 bữa nhỏ mỗi ngày để cá được nhặt nhạnh kiếm ăn như ngoài tự nhiên. Cho ăn kiểu này có vẻ giúp cá lớn nhanh và khỏe nhất.

Theo Seriously Fish

Nuôi chung với con gì?

Ngoài mùa sinh sản, loài này hiền đến bất ngờ. Chúng không ăn cá nào dài hơn vài mm. Vì vậy, số loài nuôi chung được nhiều đến mức không kể hết. Phần lớn các loài hiền lành, ưa điều kiện nước tương tự đều nuôi chung được.

Tuy vậy, bạn nên tránh những loài giữ lãnh thổ, những loài hung dữ, và cả những loài cần nước cứng hơn.

Cá Biotodoma sống thành bầy lỏng lẻo và thường đi theo nhóm, trừ lúc sinh sản. Cá con đặc biệt hay túm tụm lại khi bị đe dọa. Vì thế, bạn nên mua ít nhất 5–8 con. Trong nhóm sẽ hình thành thứ bậc trên dưới rõ ràng, và quan sát chuyện này khá thú vị. Nếu nuôi ít hơn, những con yếu có thể bị con đầu đàn bắt nạt quá mức. Cũng có thể cả nhóm không quen bể và lúc nào cũng nhát, hoảng.

Theo Seriously Fish

Subadult from the U.K aquarium trade..
Ảnh: Seriously Fish, dùng với sự cho phép

Phân biệt đực cái thế nào?

Chuyện này chưa được xác nhận. Người ta cho rằng con đực lớn hơn con cái và có thể có vây dài hơn một chút.

Theo Seriously Fish

Sinh sản ra sao?

Thông tin về sinh sản rất ít. Có thể loài này chưa từng được cho đẻ trong bể. Loài cùng chi B. cupido đẻ trứng lên giá thể, cả cá bố lẫn cá mẹ cùng chăm con. Nhiều khả năng loài này cũng đẻ theo cách tương tự.

Theo Seriously Fish

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Theo những gì biết đến nay, loài này phân bố ở trung và thượng lưu rio Negro thuộc Brazil và Colombia, ở hệ thống Casiquiare thuộc Brazil và Venezuela, và ở lưu vực Orinoco thuộc Venezuela và Colombia.

Nơi thu mẫu chuẩn được ghi là 'thượng lưu Río Orinoco ở Venezuela, giữa San Fernando de Atabapo và Río Casiquiare, Venezuela'. Địa điểm này có vẻ ứng với hạ lưu Río Ventuari, một nhánh của sông Orinoco.

Theo Seriously Fish

Subadult from the Slovenian aquarium trade.
Ảnh: Seriously Fish, dùng với sự cho phép

Môi trường tự nhiên

Một nơi sống tự nhiên của loài này là Río Cinaruco, một nhánh nước đen nghèo dinh dưỡng của sông Orinoco ở tây nam Venezuela. Con sông này uốn khúc quanh co, có nhiều đầm và hồ ngập lũ thông với nhau.

Ở các đầm và hồ ngập lũ, nước chảy yếu hơn so với dòng chính. Nước ở đó cũng đục hơn, ấm hơn, lá mục tích nhiều hơn và có nhiều động vật phù du hơn.

Lưu vực Río Orinoco còn có nhiều loài cá khác đang bán trên thị trường, gồm Brochis delphax, Platydoras costatus, Baryancistrus beggini, Hypancistrus inspector, Panqolus maccus, Panaque nigrolineatus, Hemigrammus rhodostomus, H. stictus, Hyphessobrycon sweglesi, Paracheirodon axelrodi, Pristella maxillaris, Copella nattereri, Heros severus, Mesonauta insignis, Satanoperca daemon và Uaru fernandezyepezi.

Theo Seriously Fish

Ghi chú

Từ nguyên: Biotodoma ghép từ hai chữ Hy Lạp 'βίοτος' nghĩa là 'sống' và 'δῶμα' nghĩa là 'ngôi nhà'. Cái tên ám chỉ chuyện cá trưởng thành giữ cá bột trong mang. Tuy vậy, các loài hiện thuộc chi này không có tập tính đó. wavrini: tên đặt để vinh danh Hầu tước Robert de Wavrin, nhà làm phim tư liệu dân tộc học người Bỉ. Ông đi khắp Nam Mỹ từ 1913 đến 1930 và quay phim lại văn hóa, truyền thống của các bộ tộc bản địa.

Trên thị trường cá cảnh có các dòng 'Cuao', 'Orinoco', 'San Antonio' và 'Sipapo Ventuari'.

B. wavrini và loài cùng chi B. cupido phân biệt được qua dáng thân và vị trí đốm sẫm ở nửa sau thân. B. cupido có thân khá gọn, đốm nằm phía trên nhánh trên của đường bên. Còn B. wavrini có thân dài hơn hẳn, đốm nằm ngay trên hoặc dưới nhánh trên của đường bên.

Năm 1998, Kullander làm một nghiên cứu phát sinh loài dựa trên hình thái. Nghiên cứu này chia họ Cichlidae vùng Tân nhiệt đới thành sáu phân họ. Trong đó, phân họ giả định Geophaginae gồm 16 chi, chia vào ba 'tông':

  • Acarichthyini - Acarichthys và Guianacara.
  • Crenicaratini - Biotoecus, Crenicara, Dicrossus và Mazarunia.
  • Geophagini - Geophagus, Mikrogeophagus, nhóm 'Geophagus' brasiliensis, nhóm 'Geophagus' steindachneri, Gymnogeophagus, Satanoperca, Biotodoma, Apistogramma, Apistogrammoides và Taeniacara.

Về sau, các nghiên cứu phân tử của Farias và cs. (1999, 2000, 2001) đưa thêm Crenicichla và Teleocichla vào Geophaginae. López-Fernández và cs. (2005) cũng đi đến kết quả này. Đây là phân tích phân tử chi tiết nhất về nhóm này cho đến nay, gồm 16 trong 18 chi và 30 loài.

Tuy vậy, kết luận của họ về quan hệ giữa các chi có phần khác với các giả thuyết trước. Có thể tóm lại thành mấy nhóm phân định khá lỏng như sau:

  • Acarichthys và Guianacara là nhóm chị em, nhưng mức ủng hộ yếu.
  • Một "nhánh Satanoperca" có mức ủng hộ tốt, gồm Satanoperca, Apistogramma, Apistogrammoides và Taeniacara.
  • Một "nhánh lớn" gồm Geophagus, Mikrogeophagus, nhóm 'Geophagus' brasiliensis, nhóm 'Geophagus' steindachneri, Gymnogeophagus, Biotodoma, Crenicara và Dicrossus.
  • Một "nhánh crenicarine" gồm Biotoecus và Crenicichla.

Nghiên cứu này không có mẫu nào của Teleocichla hay Mazarunia. Dù vậy, Teleocichla từ lâu đã được xác định là nhóm chị em của Crenicichla. Còn Mazarunia thì trong các công trình trước được xếp gần Dicrossus và Crenicara.

Bài báo còn có một kết luận chính khác. Nó xác nhận Geophaginae là một nhóm đơn ngành, với dấu hiệu rõ ràng là đã trải qua bức xạ thích nghi nhanh.

Theo Seriously Fish

Tài liệu tham khảo

  • Cichocki, F. P. (1977). Tidal cycling and parental behavior of the cichlid fish Biotodoma cupido. Environmental Biology of Fishes 1(2), 159-169
  • Kullander, S. O. (1986). Cichlid fishes of the Amazon River drainage of Peru. Swedish Museum of Natural History, 1-431
  • Reis, R. E., S. O. Kullander and C. J. Ferraris, Jr. (eds) (2003). Check list of the freshwater fishes of South and Central America. CLOFFSCA. EDIPUCRS, Porto Alegre, i-xi + 1-729
  • López-Fernández, H., R. L. Honeycutt, and K. O. Winemiller (2005). Molecular phylogeny and evidence for an adaptive radiation of geophagine cichlids from South America (Perciformes: Labroidei). Molecular Phylogenetics and Evolution 34(1), 227-244
  • Gosse, J.-P. (1963). Description de deux cichlidés nouveaux de la région amazonienne. Bulletin de l'Institut Royal des Sciences Naturelles de Belgique 39(35), 1-7

Theo Seriously Fish

Thiết bị phù hợp

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.