Đơn vị
Giao diện

Characidae, Brazil

Cá tetra Amapá

Hyphessobrycon amapaensis

Nhiệt độ
23–28°C
pH
5–7
Bể tối thiểu
60 cm
Độ khó
Khó

Tên khác: Amapa tetra, Cá tetra vạch đỏ, Cá tetra đỏ tươi, Amapá Tetra, Red line tetra, Scarlet tetra, Neon black red stripe tetra

Nhiệt độ
23–28°C
pH
5–7
Độ cứng (dGH)
1–8
Kích thướcCác nguồn ghi khác nhau
3 cm
Bể tối thiểu
60 cm
Độ khó
Khó 6/8
Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Aquarium Glaser: 4 cm
  • Seriously Fish: 3 cm
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Dịch và tổng hợp từ Aquarium Glaser, Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-03.

Nuôi chung

Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Thông tin nhanh

Aquarium Glaser ghi khác bảng dữ liệu: kích thước 4 cm (bảng: 3 cm).

  • Xuất xứ: Brazil
  • Kích cỡ cá thường có: 3-4 cm1

Cá tetra Amapá (Hyphessobrycon amapaensis) là một loài characid nhỏ, sống ở lưu vực sông Preto và sông Maraca thuộc bang Amapá, đông bắc Brazil. Người ta còn gọi nó là tetra 'vạch đỏ' hay tetra 'đỏ tươi'. Loài này trông rất giống cá tetra cờ H. heterorhabdus, nhưng vạch đỏ rộng hơn và vạch giữa có màu trắng hoặc kem. Ngoài tự nhiên, chúng sống ở các con suối savan nước trong, màu nâu nhạt, nền cát và sỏi.2

Có nên mua không?

Cá tetra Amapá là một trong những loài tetra đẹp nhất Nam Mỹ. Những con đánh bắt ngoài tự nhiên có màu cực kỳ rực rỡ. Trong một bể cộng đồng set cho cá Nam Mỹ, khó có loài nào hút mắt bằng nó.1

Cần bể bao lớn?

Bể nhỏ nhất nên dùng là bể có đáy 60 × 30 cm hoặc tương đương (khoảng 54 lít).2

Nước cần thế nào?

Chăm sóc ra sao?

Loài này có lẽ đẹp nhất khi nuôi trong bể nền cát, có thêm vài rễ và cành lũa. Dù vậy, chúng chắc cũng sẽ sống khỏe trong bể trồng cây.

Rải thêm lá khô sẽ làm bể trông tự nhiên hơn nữa. Lá tạo thêm chỗ trú cho cá, và khi lá phân hủy thì các quần thể vi sinh vật cũng mọc lên theo.

Đám vi sinh này có ích vì chúng là nguồn thức ăn thêm cho cả cá lớn lẫn cá bột. Các chất humic tiết ra từ lá mục cũng được xem là có lợi.2

Cho ăn gì?

Nhiều khả năng đây là loài ăn tạp. Ngoài tự nhiên, chúng ăn động vật không xương sống nhỏ, giáp xác, tảo sợi, trái cây rụng và những thứ tương tự.

Trong bể, chúng có thể sống được chỉ với thức ăn khô. Nhưng cũng như phần lớn các loài cá, chúng khỏe nhất khi được ăn đa dạng. Với loài này, thực đơn nên có thêm đồ sống và đông lạnh như ấu trùng muỗi lắc (trùng huyết), lăng quăng (ấu trùng muỗi), Daphnia, Moina, v.v.2

This species is similar to H. heterohabdus but only the red lateral strip tends to extend to the caudal peduncle.
©

Nuôi chung với con gì?

Cá đánh bắt ngoài tự nhiên thường lẫn vài con thuộc loài khác, gọi là cá dính lưới kèm. Lứa cá tetra Amapá này cũng vậy. Nhìn những con lẫn vào, mình biết được tetra Amapá sống chung với những loài nào ngoài tự nhiên. Đó cũng là gợi ý rất chuẩn khi chọn bạn cùng bể cho nó: cá rìu cẩm thạch (Carnegiella strigata), cá bút chì lùn (Nannostomus marginatus) và cá tetra đèn đầu đèn đuôi (Hemigrammus ocellifer).1

Loài này rất hiền. Chúng là lựa chọn lý tưởng cho bể cộng đồng, miễn là bạn chịu tìm hiểu kỹ các loài nuôi chung.

Chúng hợp nhất khi nuôi cùng các loài characid, gasteropelecid, lebiasinid cỡ tương đương, các loài cá da trơn callichthyid hay loricariid cỡ nhỏ hơn, và các loài cichlid cỡ nhỏ đến vừa không săn mồi.

Bạn nên cố mua một đàn có cả đực lẫn cái, ít nhất 8–10 con. Thả thêm vài loài cá bơi đàn khác để chúng thấy an toàn. Đổi lại, bạn sẽ có một bể cá trông tự nhiên hơn.2

Phân biệt đực cái thế nào?

Cá cái trưởng thành có thân cao hơn thấy rõ và to hơn cá đực một chút.2

Sinh sản ra sao?

Đây là loài đẻ rải trứng tự do và không chăm con.

Khi cá bố mẹ khỏe, chúng đẻ khá thường xuyên. Trong bể đã ổn định lâu, có thể sẽ tự xuất hiện vài con cá bột mà bạn không cần làm gì. Còn nếu muốn thu được nhiều cá con nhất, bạn cần làm bài bản hơn.

Cả đàn cá bố mẹ vẫn có thể nuôi vỗ chung một bể. Bên cạnh đó, bạn nên set thêm một bể nhỏ hơn và đổ đầy nước cũ đã ổn định. Bể này để ánh sáng thật yếu. Đáy bể phủ một lớp lưới có mắt đủ to cho trứng lọt qua nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không với tới trứng. Loại thảm cỏ nhựa bán khắp nơi cũng dùng được và cho kết quả tốt, một lớp bi thủy tinh cũng vậy. Một cách khác là trồng kín phần lớn bể bằng cây lá nhỏ như Taxiphyllum spp. hoặc dùng chổi đẻ, kết quả cũng khá ổn.

Nước nên có pH từ hơi axit đến trung tính, nhiệt độ ở mức cao trong khoảng đã nêu ở trên. Bạn nên đặt thêm một lọc sponge chạy bằng sủi khí hoặc một vài cục sủi để cấp oxy và tạo dòng chảy.

Khi cá bố mẹ đã được vỗ tốt, bạn thả vào mỗi bể đẻ một cặp, hoặc một nhóm gồm một hai con đực với vài con cái. Để cá ở đó đến khi thấy trứng (thường là sáng hôm sau).

Thức ăn đầu tiên cho cá bột là trùng đế giày (Paramecium) hoặc thức ăn khô chuyên dụng có hạt đủ mịn (5–50 micron). Khi cá bột đủ lớn để ăn được thì cho ăn thêm Artemia mới nở, giun vi mô (microworm), v.v.2

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Hiện người ta mới chỉ biết loài này ở một khu vực nhỏ thuộc lưu vực sông Preto và sông Maraca, bang Amapá, đông bắc Brazil.

Địa điểm mẫu chuẩn (dịch từ tiếng Đức) được ghi là 'Con suối savan nhỏ trên đường B156 từ Camaipi đến Santa Clara, cách Camaipi khoảng 11 km (khu vực sông Preto). Cách Macapá khoảng 45 km về phía bắc, bang Amapá, Brazil'.2

Môi trường tự nhiên

Mẫu cá được thu ở các con suối nhỏ chảy qua đồng cỏ savan. Nước ở đây trong, màu nâu nhạt, nền cát và sỏi. Cây thủy sinh mọc chìm và cây ven bờ đều rất ít.

Tại địa điểm mẫu chuẩn, pH dao động từ 5,8 đến 6,3, GH và KH đều dưới 1°, độ dẫn điện 9–13 μS và nhiệt độ 24,7–27,2°C.

Sống cùng chỗ còn có loài cùng chi Hyphessobrycon takasei, một loài Nannostomus cf. beckfordi và một số loài chưa định danh thuộc các chi Aequidens, Acestrorhynchus, Leporinus và Rineloricaria.2

Ghi chú

Loài này đôi khi còn được gọi là tetra 'vạch đỏ', tetra 'đỏ tươi' hoặc 'neon black red stripe' tetra.

Nó trông rất giống cá tetra cờ H. heterorhabdus. Loài kia cũng có ba vạch dọc thân, nhưng vạch đỏ tương đối hẹp hơn và vạch giữa màu vàng ánh kim, còn ở H. amapaensis vạch giữa màu trắng hoặc kem. Ngoài ra, vạch dưới (màu đen) của H. amapaensis thường chỉ còn là một đốm vai nằm ngang.

H. amapaensis còn khác H. heterorhabdus ở mấy đặc điểm sau. Xương hàm trên có hai răng, gồm một răng ba mấu và một răng hình nón, trong khi H. heterorhabdus có bốn răng hình nón. Xương răng có năm đến sáu răng ba mấu và bốn đến năm răng hình nón, so với bốn răng ba mấu và ba đến bốn răng hình nón ở loài kia. Vây hậu môn có 18–20 tia phân nhánh (so với 21–23). Hàng vảy dọc có 30–32 vảy (so với 32–34). Số lược mang là 13–17 (so với 19).

Với hai loài giống nó là H. eschwartzae và H. montagi, có thể phân biệt bằng kiểu màu. Ở H. eschwartzae, vạch tối bên thân chạy liền từ đốm vai đến cuống đuôi, còn ở H. amapaensis vạch này thu nhỏ lại hoặc mất hẳn khi về gần cuống đuôi. H. montagi có hai đốm vai rõ rệt, trong khi H. amapaensis chỉ có một.

H. amapaensis thuộc 'nhóm H. heterorhabdus', một nhóm giả định gồm các loài có quan hệ gần trong chi, do Géry (1977) đề xuất. Ban đầu nhóm này có khoảng 15 loài, đặc trưng bởi 'kiểu hoa văn dọc' là một vạch bên thân mảnh, thường sẫm màu. Về sau, nhóm đã được điều chỉnh nhiều lần.

Gần đây nhất, Lima và cs. (2014) đề xuất một nhóm H. heterorhabdus được cho là đơn ngành, chỉ gồm ba loài: Hyphessobrycon heterorhabdus, H. amapaensis và H. eschwartzae. Cả ba loài đều có một đốm vai dài và rõ nét, nối liền với một vạch giữa thân sẫm màu, rõ nét và mờ dần về phía cuống đuôi. Chúng còn có một vạch đỏ chạy dọc thân phía trên đường giữa thân, và nửa trên của mắt màu đỏ.

Kiểu hoa văn này khác với một số loài trong nhóm H. heterorhabdus của Géry, như H. vilmae, H. cachimbensis và H. stegemanni. Các loài đó có một vạch sẫm liền, đặc chạy dọc bên thân và không có đốm vai rõ. Ngược lại, nó lại giống kiểu màu của nhóm H. agulha của Géry. Nhóm này gồm các loài có kiểu màu "nửa dưới thân sẫm, đặc biệt phía trên vây hậu môn, thường có đốm vai kéo dài theo chiều ngang, ít nhiều nối với dải rộng không đối xứng". Các loài trong nhóm là H. agulha, H. loretoensis, H. peruvianus, H. metae và H. herbertaxelrodi.

Hyphessobrycon do Durbin nâng lên trong Eigenmann (1908), ban đầu là một phân chi của Hemigrammus. Điểm khác với Hemigrammus là vây đuôi không có vảy.

Eigenmann (1918, 1921) đã xem xét lại nhóm này. Sau đó Géry (1977) chia ra các nhóm loài nhân tạo dựa trên kiểu màu, và các định nghĩa này đến nay vẫn được dùng rộng rãi, ví dụ nhóm H. agulha, nhóm H. heterorhabdus, v.v. Tuy vậy, không thể coi các nhóm này là những tập hợp đơn ngành, và khái niệm về chúng vẫn liên tục được định nghĩa lại.

Weitzman & Palmer (1997) đưa ra giả thuyết rằng trong chi có một tập hợp đơn ngành, xác định dựa trên kiểu màu và hình thái vây của cá đực. Họ gọi đó là 'nhánh rosy tetra'. Một trong những đặc điểm ủng hộ tính đơn ngành của nhánh này là một vệt sẫm nổi bật trên vây lưng. Một số tác giả coi tập hợp này, cùng các loài có hình thái tương tự, là Hyphessobrycon sensu stricto. Các loài còn lại được xếp vào một nhóm H. heterorhabdus mở rộng hơn rất nhiều.

Các tác giả khác lại đưa ra những quan điểm trái ngược, thường hẹp hơn, về chi này và/hoặc các nhóm loài trong chi. Đến nay vẫn còn nhiều nhầm lẫn. Điều chắc chắn là với cách công nhận hiện nay, Hyphessobrycon là một dòng đa ngành (polyphyletic) chứa nhiều chi.

Chi này đã bắt đầu được tách ra. Malabarba và cs. (2012) đã khôi phục chi Ectrepopterus Fowler, vốn trước đây bị coi là tên đồng nghĩa của Hyphessobrycon. Các tác giả này cũng phân tích quan hệ của chi trong họ Characidae, dựa trên công trình trước đó của Mirande (2010), nhưng lần đầu tiên đưa loài chuẩn H. compressus vào một nghiên cứu kiểu này. Kết quả cho thấy H. compressus gần với các đại diện 'rosy tetra' như H. eques, H. pulchripinnis và H. socolofi hơn là với các loài khác khi đó đang xếp trong chi, gồm Psalidodon anisitsi, H. bifasciatus, H. elachys, H. herbertaxelrodi và H. luetkeni.2

Tài liệu tham khảo

  • Zarske, A. and J. Géry (1998). Hyphessobrycon amapaensis spec. nov., eine neue und mutmassliche Stellvertreterart von Hyphessobrycon heterorhabdus (Ulrey, 1894) aus dem Bundesstaat Amapa in Brasilien (Teleostei: Characiformes: Characidae). Zoologische Abhandlungen; Staatliches Museum für Tierkunde in Dresden 50(1), 19-26
  • Calcagnotto, D., S. A. Schaefer, and R. DeSalle (2005). Relationships among characiform fishes inferred from analysis of nuclear and mitochondrial gene sequences. Molecular Phylogenetics and Evolution 36(1), 135-153
  • Reis, R. E., S. O. Kullander and C. J. Ferraris, Jr. (eds) (2003). Check list of the freshwater fishes of South and Central America. CLOFFSCA. EDIPUCRS, Porto Alegre, i-xi + 1-729
  • Oliveira, C. A., G. S. Avellino, K. T. Abe, T. C. Mariguela, R. C. Benine, G. Orti, R. P. Vari, and R. M. Corrêa e Castro (2011). Phylogenetic relationships within the speciose family Characidae (Teleostei: Ostariophysi: Characiformes) based on multilocus analysis and extensive ingroup sampling. BMC Evolutionary Biology 11(1), 275-300
  • Lima, F. C. T., D. P. Coutinho and W. B. Wosiacki (2014). A new Hyphessobrycon (Ostariophysi: Characiformes: Characidae) from the middle Amazon basin, Brazil. Zootaxa 3872(2), 167-179
  • Géry, J. (1977). Characoids of the World. T.F.H. Publications, Inc., 1-672
  • Weitzman, S. H. and L. Palmer (1997). A new species of Hyphessobrycon (Teleostei: Characidae) from the Neblina region of Venezuela and Brazil, with comments on the putative `rosy tetra clade'. Ichthyological Exploration of Freshwaters 7(3), 209-242
  • Zarske, A. (2014). Zur Systematik einiger Blutsalmler oder "Rosy Tetras" (Teleostei: Ostariophysi: Characidae). Vertebrate Zoology 64(2), 139-167
  • Mirande, J. M. (2010). Phylogeny of the family Characidae (Teleostei: Characiformes): from characters to taxonomy. Neotropical Ichthyology 8(3), 385-568
  • Malabarba, L. R., V. A. Bertaco, F. R. Carvalho & T. O. Litz. (2012). Revalidation of the genus Ectrepopterus Fowler (Teleostei: Characiformes), with the redescription of its type species, E. uruguayensis. Zootaxa 3204, 47-602

Nguồn

  1. Aquarium Glaser aquariumglaser.de
  2. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này, với sự cho phép của họ. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Thiết bị phù hợp

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.