Bệnh · đọc khoảng 9 phút
Cá bị bệnh nhung (bụi vàng): dấu hiệu, nguyên nhân, cách chữa và phòng
AquaTome tổng hợp từ 8 nguồn rồi tự viết

Tóm tắt nhanh
- Bệnh nhung, còn gọi là bệnh bụi vàng hay bệnh gỉ sắt, do một ký sinh đơn bào gây ra chứ không phải do nấm. Bệnh lây rất nhanh, đánh vào mang trước và có thể làm chết cá.
- Việc đầu tiên là thay 30–50% nước, đo lại các chỉ số nước, tháo than hoạt tính ra khỏi lọc, rồi nâng nhiệt từ từ lên 29°C trong 24 giờ. Sau đó chữa cả bể cách ly lẫn bể chính cho đến khi cá hết dấu hiệu bệnh.
Bệnh nhung là gì
Bệnh nhung có nhiều tên gọi ở Việt Nam: bệnh nhung, bệnh bụi vàng, bệnh gỉ sắt, nấm velvet. Gọi là "nấm" nhưng thật ra thủ phạm là một ký sinh đơn bào thuộc nhóm tảo giáp (dinoflagellate). Ở cá nước ngọt, đó là Piscinoodinium pillulare, sách cũ gọi là Oodinium. Ở cá biển, tác nhân là Amyloodinium. Tiếng Anh còn gọi bệnh này là gold-dust, rust hoặc coral disease.
Bệnh lây rất mạnh và làm chết cá. Ký sinh này nhiễm được 14 loài cá cảnh nhiệt đới thuộc nhiều họ khác nhau, cả cá chép và cá diếc. Mang là chỗ ký sinh bám và phá nhiều nhất. Khi nhiễm nặng, các phiến mang dính lại với nhau. Đến giai đoạn muộn, mang bị hoại tử và cá chết vì thiếu oxy. Cá còn rất nhỏ và cá đã già chết nhiều nhất khi mắc bệnh.
Muốn chữa đúng thì phải hiểu vòng đời của ký sinh. Vòng đời có ba giai đoạn:
- Thể bám (trophont): bám trên cá và ăn cá.
- Thể nang (tomont): rời khỏi cá, nằm yên dưới đáy bể rồi phân chia thành tối đa 256 cá thể con.
- Thể bơi tự do (dinospore): bơi trong nước để tìm cá mới mà bám.
Chỉ thể bơi tự do là giết được bằng thuốc. Thể bám trên cá và thể nang dưới đáy đều kháng hóa chất, nên thường phải đánh thuốc vài lần. Thể bơi tự do có chất diệp lục, vì vậy nó sống được mà không cần cá miễn là còn ánh sáng. Thể nang thì nằm ngủ trong nền được hàng tuần, có khi hàng tháng.
Tốc độ vòng đời phụ thuộc nhiệt độ. Các nguồn ghi số liệu hơi khác nhau:
| Nhiệt độ | Giai đoạn | Thời gian |
|---|---|---|
| 23–25°C | Thể bám lớn lên rồi rời cá thành thể nang | 3–4 ngày |
| 25°C | Thể bám lớn lên trước khi rời cá | khoảng 6 ngày (nguồn khác) |
| 23–25°C | Thể nang phân chia ra thể bơi tự do | 50–70 giờ |
| 15–17°C | Thể nang phân chia | khoảng 11 ngày |
| 22–25°C | Trọn vòng đời | 10–14 ngày, nước lạnh hơn thì chậm hơn |
Dấu hiệu
Dấu hiệu dễ nhận nhất là một lớp bụi rất mịn trên đầu, thân và vây cá. Lớp bụi này có màu vàng, nâu hoặc hơi xanh lục. Bệnh mới chớm thì chỉ thấy lớp bụi vàng nhạt khi soi đèn chéo. Nhiễm nặng thì lớp bụi dày, trông lại giống bụi trắng. Có khi cả con cá ngả màu gỉ sắt và phủ một lớp nhớt dày.
Mẹo soi: tắt đèn phòng, rọi đèn pin vào cá. Lớp màng vàng hoặc màu gỉ sắt trên vây, thân và mang sẽ hiện rõ hơn nhiều.
Các dấu hiệu khác hay gặp:
- Cá cọ mình vào đồ vật trong bể một cách đột ngột (flashing).
- Cá cụp vây, lờ đờ.
- Cá tụ lại gần mặt nước hoặc gần đầu ra của lọc, có khi ngoi lên đớp khí.
- Mang nhiễm nặng thì cá thở nhanh, nắp mang banh ra.
- Da tiết nhiều nhớt, tróc vảy, có chấm xuất huyết nhỏ li ti và vết loét nhỏ.
- Giai đoạn muộn cá thở gấp và bỏ ăn.
Cần nhớ là bệnh thường bắt đầu ở mang. Vì vậy cá có thể đã bệnh nặng rồi mà trên da vẫn chưa thấy gì.
Phân biệt với bệnh đốm trắng (ich): hai bệnh này dễ nhầm với nhau. Cách chắc chắn là cạo nhớt da hoặc lấy mẫu mang làm tiêu bản ướt rồi soi kính hiển vi. Ký sinh bệnh nhung có hình túi, dài 80–100 µm. Nhỏ dung dịch iod Lugol vào thì thể bám bắt màu xanh đậm, nhìn dễ nhận ra hơn.
Nguyên nhân
Ký sinh thường có sẵn trong bể. Bệnh bùng lên khi sức đề kháng của cá yếu đi. Những thứ hay làm bệnh bùng phát và lây lan gồm:
- Bể, cá hoặc dụng cụ như vợt đã nhiễm bệnh. Hiếm khi thể ngủ của ký sinh đi theo thức ăn tươi đông lạnh.
- Nhiệt độ tụt khoảng 15°F trong vòng một giờ, hoặc nước lạnh dưới khoảng 73°F.
- Bể bẩn, nước kém, nhiệt độ dao động mạnh, bắt cá thô bạo.
- Các bể đặt sát nhau. Thể bơi tự do có thể lây sang bể bên cạnh qua các hạt nước bắn lên không khí.
Betta rừng (wild betta) và các loài cá nước đen (blackwater) đặc biệt dễ mắc bệnh nhung. Một nguồn tiếng Việt còn cho rằng cá vàng và cá ngựa vằn cũng dễ bị hơn.
Làm gì ngay
- Thay 30–50% nước. Đo pH, nhiệt độ, clo, amoniac, nitrit và nitrat.
- Tháo than hoạt tính ra khỏi lọc. Than sẽ hút mất thuốc trong nước.
- Nâng nhiệt từ từ lên 29°C trong 24 giờ để rút ngắn vòng đời ký sinh. Cách này dành cho bể cá nhiệt đới.
- Giảm đèn hoặc tắt đèn.
- Cho muối hồ cá vào nước.
- Tách cá bệnh sang nước sạch. Dù vậy vẫn phải chữa cả hai bể, vì bệnh lây rất dễ.
Chữa
Thuốc trị bệnh phổ rộng thường không ăn thua với bệnh nhung. Các hoạt chất hay dùng cho vào nước gồm đồng sunfat, xanh methylen, formalin, xanh malachite và acriflavine. Phải đánh thuốc liên tục khoảng một tuần, nước lạnh thì lâu hơn. Cứ tiếp tục chữa đến khi cá hết hẳn dấu hiệu bệnh, và chữa cả bể cách ly lẫn bể chính.
Nâng nhiệt
Nước ấm làm vòng đời ký sinh ngắn lại. Mỗi nguồn khuyên một mức nhiệt khác nhau:
- Nâng từ từ lên 29°C trong 24 giờ cho bể nhiệt đới.
- Giữ trên 84°F. Nguồn này cũng nói chưa có bằng chứng nào cho thấy chỉ riêng nhiệt độ cao diệt được ký sinh.
- Có báo cáo cho rằng nâng nước lên 33–34°C thì khống chế được dịch.
- Một blog betta Việt Nam khuyên nâng lên khoảng 21–26°C. Mức này thấp bất thường so với các nguồn khác.
Nâng nhiệt không hợp với mọi loài cá. Cá bị sốc nhiệt thì sức đề kháng còn yếu đi. Betta rừng chịu được mức nhiệt quanh giữa dải 80°F (mid-80s °F) trong một thời gian, còn betta thường (Betta splendens) thì lại thích mức đó.

Đồng
Đồng là thuốc mạnh nhưng dễ dùng sai. Chỉ dùng đồng sunfat khi bạn đo được độ kiềm, tính đúng thể tích bể và cân được hóa chất. Không chắc thì đừng dùng.
- Liều: 0,15 ppm ion đồng, ngâm tối đa 10 ngày, lặp lại nếu cần.
- Cách tính: liều đồng sunfat (mg/L) = độ kiềm tổng (mg/L) chia cho 100. Không dùng nếu độ kiềm dưới 50 mg/L.
- Đồng chelate tự pha: trộn 2 phần axit citric với 1 phần đồng sunfat theo khối lượng. Tính liều theo khối lượng đồng sunfat mà thôi. Đây là cách dùng cho Amyloodinium ở cá biển, cho ra 0,15 ppm ion đồng. FAO cho rằng các cách chữa cá biển kiểu này dùng được cho Piscinoodinium nếu chỉnh liều.
- Nước có tính axit làm đồng độc hơn, nên trong nước axit người ta chuộng đồng chelate. Ở nước ngọt pH dưới 7,0, đồng trên 0,3 ppm có thể làm chết cá, ví dụ cá con Puntius gonionotus.
- Đồng bám vào nền rồi nhả ngược ra nước, nên phải đo nồng độ đồng thường xuyên.
Có nơi chữa betta rừng bằng một loại thuốc đồng bán sẵn, liều khoảng 5 ml cho 5 gallon. Nơi đó ước tính mức này vào khoảng 1,5–2,0 ppm đồng, giữ ở 84°F trở lên trong 30 ngày. Con số ppm này cao hơn rất nhiều so với mức 0,15 ppm ion đồng ở trên. Các nguồn ghi khác nhau, nên bạn làm đúng theo hướng dẫn trên thuốc mình dùng.
Muối
Các nguồn không thống nhất về tác dụng của muối:
- Một nguồn cho rằng muối làm chậm sự sinh sản của ký sinh trong nước ngọt, nhưng một mình muối không dập được dịch.
- Một nguồn khác nói muối gần như không tác dụng lên bệnh nhung. Theo nguồn này, cách nâng nhiệt cộng muối có hiệu quả là nhờ phần nhiệt, còn muối chỉ giúp chống nhiễm trùng thứ phát.
- Một cách làm theo kinh nghiệm dân chơi dùng muối ăn thường (natri clorua, không phải muối biển) với liều 1 cốc cho 20 gallon, kết hợp để bể tối hoàn toàn 7 ngày.
- Tắm muối: 30 g/L natri clorua trong 5–15 phút, chỉ dùng cho loài chịu được muối.
Cá anchor catfish cực kỳ nhạy với muối.
Để bể tối
Chỗ này các nguồn cũng nói ngược nhau. Một số nguồn cho rằng ký sinh cần ánh sáng, nên khuyên để bể tối hoàn toàn 7 ngày song song với thuốc. Một nguồn khác thì cho rằng trùm bể để bỏ đói ký sinh không hiệu quả, vì thể bơi tự do vẫn sống được mà không cần cá khi còn ánh sáng.
Thuốc và cách khác
- Quinine hydrochloride 30 mg/L, dùng riêng hoặc kết hợp xanh malachite theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Salinomycin trộn vào thức ăn ở mức 60 hoặc 90 ppm, cho ăn mỗi ngày trong 16 hoặc 19 ngày. Đây là kết quả thí nghiệm trên cá kiếm trong phòng lab.
- Đèn UV-C chỉ có tác dụng khi bóng tốt, công suất từ 36 W trở lên, bước sóng gần 250 nm và dòng nước chảy qua chậm. Loại UV nhỏ đặt chìm và bóng gần 280 nm không có tác dụng.
Cẩn thận với tép, ốc, cây và cá nhạy thuốc
Đồng sunfat có thể nguy hiểm cho một số loài cá, cây, tép và ốc. Các mức đồng gây hại đã ghi nhận như sau:
- Tép Caridina bị hại ở khoảng 2 µg Cu/L.
- Mức 42 µg Cu/L gây độc cấp cho Denariusa bandata.
- Một nửa số cá Melanotaenia và Ambassis thử nghiệm chết ở 120–200 µg Cu/L.
- Một nửa số tôm Macrobrachium chết ở 160 µg Cu/L.
- Ốc cũng rất nhạy với đồng.
Không dùng xanh malachite cho cá da trơn, cá chạch và cá tetra.
Sai lầm hay gặp
- Ngưng thuốc sớm. Thể nang còn trong nền sẽ nhả ra lứa ký sinh bơi tự do mới và bệnh quay lại.
- Thấy cá hết đốm là tưởng khỏi. Ký sinh vẫn có thể còn trong nước và trong nền.
- Chữa xong ở bể cách ly rồi thả cá về bể chính chưa được chữa. Cá sẽ nhiễm lại.
- Trông cậy vào lá bàng. Lá bàng không có tác dụng gì với ký sinh này.
- Dùng đèn UV công suất thấp hoặc cho nước chảy qua quá nhanh. Loại này không diệt được thể bơi tự do.
- Bể nuôi quá dày. Thể bơi tự do có thể bám lại vào cá trước khi đồng kịp giết chúng.
Phòng
- Cách ly cá mới 10–14 ngày trước khi thả vào bể chính. Cây mới mua về cũng nên cách ly.
- Thả túi cá nổi trên mặt bể khoảng 15 phút trước khi thả cá, để tránh thay đổi nhiệt đột ngột.
- Dùng sưởi để giữ nhiệt ổn định.
- Khử trùng ống hút, vợt, bàn chải đã chạm vào cá bệnh.
- Giữ bể sạch, thay nước đều đặn, đừng nuôi quá dày.
- Tách những con cá hay bắt nạt cá khác ra.
- Nhìn cá mỗi ngày để thấy bệnh sớm.
Một hướng dẫn tiếng Việt cho betta khuyên dùng khoảng 1 muỗng cà phê muối cho 10 L nước để phòng bệnh thường xuyên. Chỉ cho muối vào lúc thay nước.
Khi nào cần lo
Cá thở gấp, nắp mang banh ra, tụ lại ở mặt nước hay đầu ra của lọc, bỏ ăn là dấu hiệu mang đã nhiễm nặng. Lúc này phải chữa ngay, vì bệnh nặng thì mang hoại tử và cá chết ngạt. Cá chết vì bệnh nhung đôi khi còn kèm nhiễm nấm hoặc nhiễm khuẩn thứ phát. Bạn cũng cần để ý hơn nếu bể có cá con, cá già, betta rừng hay cá nước đen. Đừng đợi thấy bụi vàng trên da mới lo, vì bệnh thường bắt đầu ở mang trước.
Câu hỏi thường gặp
Bệnh nhung có phải là nấm không?
Không. Nhiều nơi ở Việt Nam gọi là "nấm velvet", nhưng bệnh này do ký sinh đơn bào gây ra. Ở cá nước ngọt, đó là Piscinoodinium pillulare, sách cũ gọi là Oodinium.
Chỉ dùng muối có chữa khỏi bệnh nhung không?
Phần lớn nguồn cho rằng không. Một nguồn nói muối làm chậm sự sinh sản của ký sinh nhưng không tự dập được dịch. Nguồn khác nói muối gần như không tác dụng, chỉ giúp chống nhiễm trùng thứ phát. Cá anchor catfish cũng rất nhạy với muối.
Có nên tắt đèn, trùm bể khi cá bị nhung?
Các nguồn nói khác nhau. Một số khuyên để bể tối hoàn toàn 7 ngày song song với thuốc vì cho rằng ký sinh cần ánh sáng. Một nguồn khác cho rằng trùm bể để bỏ đói ký sinh không hiệu quả.
Cá hết bụi vàng rồi, ngưng thuốc được chưa?
Chưa chắc. Ký sinh vẫn có thể còn trong nước và trong nền. Thể nang nằm trong nền sẽ nhả ra lứa mới nếu ngưng thuốc sớm. Bạn cứ chữa liên tục khoảng một tuần, nước lạnh thì lâu hơn, và chữa đến khi cá hết hẳn dấu hiệu bệnh.
Bể có tép, ốc thì dùng đồng được không?
Rất rủi ro. Tép Caridina đã bị hại ở khoảng 2 µg Cu/L, còn ốc thì rất nhạy với đồng. Đồng sunfat còn có thể hại cả cây và một số loài cá. Nên tách cá bệnh ra bể riêng mà chữa, nhưng vẫn phải xử lý cả bể chính.
Nguồn tham khảo
- What is velvet (or gold dust disease)? – Aquarium Co-op
- Velvet (fish disease) – Wikipedia
- Piscinoodiniasis – ANGFA Rainbowfish disease prevention and control
- FAO compendium of fish parasites – Piscinoodinium
- Velvet disease (Piscinoodinium sp.) in wild bettas – BW Aquatics
- Dấu hiệu nhận biết cá betta bị bệnh – Mytour
- Cách trị và phòng bệnh nhung (Velvet) ở cá – Thế Giới Cá Cảnh
- Bệnh nấm velvet ở cá betta – Halfmoon Việt Nam





Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.