Bệnh · đọc khoảng 7 phút
Cá ngộ độc amoni, nitrit: dấu hiệu, cách cứu cá và phòng
AquaTome tổng hợp từ 6 nguồn rồi tự viết
Tóm tắt nhanh
- Ngộ độc amoni và nitrit xảy ra khi chất thải tích trong bể nhanh hơn tốc độ vi sinh lọc xử lý kịp. Thường gặp nhất là ở bể mới set, bể cho ăn quá tay hoặc bể vừa rửa lọc.
- Việc đầu tiên là test amoni, nitrit, pH và nhiệt độ. Sau đó tăng sục khí, thay ít nhất 50% nước bằng nước đã khử clo cùng nhiệt độ, rồi ngưng cho ăn.
- Nếu thủ phạm là nitrit, muối thường (không i-ốt) chặn được tác hại ở phần lớn cá nước ngọt. Dù vậy, một số loài như cá tetra và cá voi chịu mặn kém.
Là gì
Bộ test amoni thường đo tổng amoni (TAN). Con số này gộp hai dạng: amoniac tự do (NH3) rất độc và amoni (NH4+) ít độc hơn nhiều. Phần NH3 tăng lên khi pH và nhiệt độ tăng, và pH ảnh hưởng mạnh hơn. Bộ test không đo thẳng NH3, nên muốn biết bạn phải tính từ TAN, pH và nhiệt độ.
Nitrit đi qua mang vào máu, biến hemoglobin thành methemoglobin. Methemoglobin không mang được oxy, nên cá có thể chết ngạt ngay trong nước nhiều oxy. Người ta gọi đây là bệnh máu nâu. Oxy hòa tan thấp làm cá khó thở hơn nữa. Nhiệt độ cao cũng làm nitrit độc hơn. Ở cá chẽm, LC50 (nồng độ làm chết một nửa số cá thử nghiệm) giảm từ 274 mg/L ở 17 °C xuống 154 mg/L ở 27 °C. Amoni cũng độc hơn khi nước ấm và pH cao. Hai vấn đề amoni và nitrit hay đi cùng nhau.
Đọc kết quả test
- Cá nước ngọt thường chịu được TAN dưới 1 mg/L. Cá biển thường chịu được TAN dưới 0,5 mg/L.
- Ở phần lớn bể nhà, TAN 1,0 chưa phải chuyện lớn, trừ khi pH trên 8,5.
- NH3 tính ra dưới 0,05 mg/L thường không coi là có hại. Từ 0,05 mg/L trở lên thì NH3 có thể làm tổn thương mang. Khoảng 2 mg/L NH3 đủ giết nhiều loài cá.
- Nitrit trên 0,1 mg/L được xếp vào mức độc, nhất là trong nước ngọt ít clorua.
- Một nguồn khác ước tính mức nitrit-nitơ an toàn lâu dài là 0,5000–2,5000 mg/L cho cá và động vật không xương sống nước ngọt vùng ấm, và 0,0125–0,5000 mg/L cho cá nước lạnh.
- Phần lớn bộ test nitrit ghi kết quả dưới dạng nitrit-nitơ. Muốn đổi ra NO2 thì bạn nhân kết quả với 3,3.
Dấu hiệu
Ngộ độc amoni:
- Cá lừ đừ, ăn ít hoặc bỏ ăn.
- Màu cá sẫm lại.
- Khi ngộ độc cấp, cá bơi xoay vòng, mất phương hướng, bơi giật như co giật.
- Có khi cá chết hàng loạt rất đột ngột.
- Soi kính hiển vi thấy tế bào mang tăng sinh, tế bào clorua phình to và các phiến mang dính vào nhau.
Ngộ độc nitrit:
- Mang chuyển màu nâu sô-cô-la, máu sẫm bất thường. Màu này có thể chỉ hiện ra khi methemoglobin đã lên cao.
- Cá tìm chỗ nhiều oxy: tụ lại chỗ nước sục mạnh hoặc ngoi lên mặt nước đớp khí.
- Mang bị tổn thương và cơ bị phù nề.
Cá đớp khí trên mặt nước không chắc là do nitrit. Thiếu oxy hay bệnh mang cũng gây ra cảnh này. Cách phân biệt là test nước.
Nguyên nhân
- Bể mới: vi sinh lọc chưa kịp hình thành. NH3 tăng trong 2–3 tuần đầu, rồi NO2 có thể tăng theo sau.
- Cho ăn quá tay, nuôi quá dày, thức ăn thừa hoặc cá chết nằm trong bể.
- Lọc hỏng hoặc vi sinh chết: rửa vật liệu lọc dưới vòi nước máy, thay vật liệu cũ bằng vật liệu mới, hay thả cá vào bể lọc chưa chín. Thuốc kháng khuẩn và một số hóa chất khác cũng làm hại vi sinh lọc.
- Nước nguồn có amoni hoặc cloramin. Khử cloramin bằng natri thiosunfat sẽ nhả amoni ra. Vì vậy thay nước nhiều lần có thể đẩy amoni lên, nhất là khi lọc còn mới hoặc đang hỏng.
- Bể cũ ít thay nước: axit hữu cơ kéo pH xuống, thường dưới 6, và ăn hết độ kiềm. Lúc đó TAN có thể vượt 20 mg/L.
Làm gì ngay
- Test amoni và nitrit, kèm cả pH và nhiệt độ. Test luôn nước nguồn xem có amoni và cloramin không, vì thay nước có thể đưa thêm amoni vào bể.
- Tăng sục khí bằng sủi khí, venturi hoặc chỉnh đầu ra của lọc hướng lên mặt nước. Amoni làm mang bị kích ứng, nên cá cần thêm oxy.
- Thay nước bằng nước đã khử clo, cùng nhiệt độ và thông số gần giống nước bể. Một nguồn khuyên thay ít nhất 50% ngay khi thấy NH3 cao. Nguồn khác ghi 50–75%. Thay nước pha loãng amoni rất nhanh, nhưng hiệu quả có thể không giữ được lâu.
- Nếu TAN trên 5 mg/L và pH dưới 7, bạn chuyển cá sang một bể sạch có cùng nhiệt độ và pH. Nếu để cá lại, amoni có thể bất ngờ hóa độc khi pH tăng lên.
- Ngưng cho ăn, hoặc giảm hẳn lượng ăn cho tới khi xử lý xong.
- Tìm và xử lý thủ phạm: cá chết, cho ăn quá tay, nuôi quá dày hay lọc hỏng.
- Test tiếp và thay nước từng phần cho tới khi các chỉ số về bình thường. Amoni có thể tăng lại, và nitrit hay kéo tới ngay sau đó.
Cá bị bệnh máu nâu hồi phục nhanh khi được chuyển sang nước ít nitrit.
Chữa
Muối cho ngộ độc nitrit. Ở mang, clorua tranh chỗ với nitrit, nên muối chặn được cá chết khi nitrit tăng vọt ở nhiều loài cá nước ngọt. Các mốc trong dữ liệu như sau:
- Clorua gấp ít nhất 20 lần nồng độ nitrit-nitơ đủ chặn độc tính nitrit ở cá trê Mỹ (channel catfish), và có lẽ ở phần lớn loài nước ngọt.
- Người nuôi cá trê Mỹ thường giữ clorua ở 50–100 mg/L bằng natri clorua để phòng bệnh máu nâu.
- Một bài của dân chơi Việt ghi khoảng 20 ppm clorua là đủ phòng ngộ độc nitrit.
- Nhiều hồ và bể giữ sẵn nồng độ muối 1–3 ppt (1 g/L = 1 ppt), nhờ vậy cá ít bị ngộ độc nitrit hơn. Bài của dân chơi Việt cũng ghi 1–3 g muối mỗi lít khi ngâm dài ngày.
Bạn dùng muối hột thường, không dùng muối i-ốt. Cẩn thận với cá tetra và cá voi (elephantnose) vì hai nhóm này không chịu được nước mặn cao. Ở bể nước lợ và nước biển, thêm muối được coi là không khả thi.
Chất khóa amoni. Vật liệu lọc zeolite hoặc dung dịch trung hòa amoni cho bạn thêm thời gian trong ngắn hạn. Có thể thêm men vi sinh nếu muốn. Với bể cũ ít thay nước và pH thấp, nên thay nước mạnh tay kèm dung dịch trung hòa amoni, để amoni không bất ngờ hóa độc khi pH tăng lên.
Có loại dung dịch khử clo khóa được amoni, nitrit và nitrat ở dạng không độc mà vi sinh lọc vẫn dùng được. Dung dịch này không loại bỏ các chất đó khỏi nước. Hướng dẫn của nhà sản xuất ghi như sau:
- Liều chuẩn là 5 mL (1 nắp) cho 200 L. Mỗi vạch ren trên nắp khoảng 1 mL.
- Tác dụng khóa kéo dài tối đa 48 giờ. Châm lại sau mỗi 24–48 giờ, hoặc mỗi 24 giờ nếu amoni hay nitrit vẫn tăng.
- Khi nitrit tăng đột ngột, hoặc amoni hay nitrit trên 2 ppm, được dùng tới 5 lần liều thường.
- Nước trên 30 °C mà clo hoặc amoni thấp thì dùng nửa liều.
- Nhà sản xuất nói họ chưa hiểu hết cơ chế khử độc nitrit và nitrat của sản phẩm. Hiệu quả chủ yếu dựa vào phản hồi của khách hàng.
Sai lầm hay gặp
- Rửa vật liệu lọc dưới vòi nước máy, hoặc thay hết vật liệu cũ bằng vật liệu mới. Làm vậy dễ khiến amoni tăng vọt.
- Thay nước liên tục bằng nước máy có cloramin mà chỉ dùng thuốc khử clo thông thường. Amoni sẽ cứ thế tăng dần.
- Đọc kết quả bộ test nitrit-nitơ như thể đó là NO2. Đọc như vậy thì nitrit thực tế bị đánh giá thấp. Bạn phải nhân với 3,3.
- Châm chất khóa amoni một lần rồi thôi. Hiệu lực chỉ kéo dài tối đa 48 giờ. Không châm lại thì amoni và nitrit sẽ nhả ngược vào nước.
Phòng
- Bể mới: test TAN và nitrit mỗi ngày, thay nước thường xuyên cho tới khi lọc chín. Thường mất khoảng 6 tuần.
- Lọc đã chín khi TAN và nitrit lên đỉnh rồi giảm, sau đó nitrat tăng.
- Không nuôi dày, không cho ăn quá tay, nhất là ở bể mới. Bạn có thể dùng vi sinh nitrat hóa bán sẵn, nuôi vi sinh bằng thức ăn cá hoặc amoni clorua trước khi thả cá, hoặc thả cá từ từ.
- Giữ độ kiềm ít nhất 100 mg/L ở bể nước ngọt, và giữ đủ oxy trong khối lọc.
- Giữ oxy hòa tan trên 3 mg/L cho loài vùng ấm và trên 5 mg/L cho loài nước lạnh. Nhờ đủ oxy, vi sinh chuyển nitrit thành nitrat tốt hơn.
- Nếu nước máy có cloramin, dùng thuốc khử clo làm cho cloramin. Loại này khóa luôn phần amoni nhả ra. Test cả clo tự do lẫn clo tổng.
- Test nitrit đều đặn. Bộ test rẻ cũng cho kết quả khá chính xác.
Ở Việt Nam
Bên nuôi trồng thủy sản trong nước gọi ngộ độc nitrit là bệnh máu nâu. Bệnh gặp ở nước ngọt nhiều hơn nước lợ hay nước mặn. Dân chơi Việt hay dùng muối hột để chống nitrit, và không dùng muối i-ốt. Nitrit độc hơn khi nước nóng, nên mùa nóng rủi ro cao hơn.
Loài nhạy cảm
- Cá trê Mỹ rất nhạy với nitrit. Nhóm cá thái dương (cá vược miệng rộng, bluegill) thì chịu khá tốt.
- Loài nước lạnh nhạy với nitrit hơn nhiều. LC50 của cá hồi vân (0,24–11,0 mg/L) thấp hơn cá trê Mỹ (7,1–44,0 mg/L) từ bốn lần trở lên.
- Tôm càng nước ngọt rất nhạy với nitrit, với LC50 96 giờ là 8,6 mg/L nitrit-nitơ.
- Cá biển cũng không hoàn toàn an toàn. Cá hồng Mỹ (red drum) đã từng bị bệnh máu nâu do nitrit.
Câu hỏi thường gặp
Bộ test báo amoni 1 mg/L, cá có nguy hiểm không?
Cá nước ngọt thường chịu được TAN dưới 1 mg/L. Ở phần lớn bể nhà, TAN 1,0 chưa phải chuyện lớn, trừ khi pH trên 8,5. Mức độc thật sự nằm ở phần NH3, và phần này tăng theo pH và nhiệt độ.
Làm sao biết cá đớp khí là do nitrit hay do thiếu oxy?
Nhìn bên ngoài thì khó phân biệt, vì nitrit cao, thiếu oxy và bệnh mang đều làm cá ngoi lên đớp khí. Bạn test nước là biết. Ngộ độc nitrit còn làm mang chuyển màu nâu sô-cô-la, nhưng màu này có thể hiện ra muộn.
Dùng muối gì và bao nhiêu để chống nitrit?
Bạn dùng muối hột thường, không dùng muối i-ốt. Các nguồn ghi mốc khác nhau: clorua gấp ít nhất 20 lần nitrit-nitơ, clorua 50–100 mg/L ở trại cá trê, khoảng 20 ppm clorua theo một bài của dân chơi Việt, hoặc 1–3 g/L khi ngâm dài ngày. Cá tetra và cá voi chịu mặn kém.
Thay nước rồi mà amoni vẫn tăng là sao?
Nếu nước máy có cloramin, khử bằng thuốc thông thường sẽ nhả amoni ra, nên càng thay nước amoni càng tăng. Bạn test nước nguồn và dùng thuốc khử clo làm cho cloramin. Amoni cũng có thể tăng lại khi lọc chưa chín hoặc chưa xử lý xong thủ phạm.
Châm chất khóa amoni rồi có cần thay nước nữa không?
Có. Chất khóa chỉ giữ amoni và nitrit ở dạng không độc tối đa 48 giờ, chứ không loại bỏ chúng. Bạn phải châm lại sau mỗi 24–48 giờ và vẫn tiếp tục test, thay nước từng phần cho tới khi các chỉ số về bình thường.
Nguồn tham khảo
- Merck Veterinary Manual – Environmental Diseases in Aquatic Systems
- Practical Fishkeeping – What should I do if I detect ammonia?
- Global Seafood Alliance – Nitrite toxicity affected by species susceptibility, environmental conditions
- Bioaqua.vn – Độc tính nitrit bị tác động bởi tính nhạy cảm của loài và các điều kiện môi trường
- Seachem – Prime product page
- Guppy Nhật Minh – Muối hột không thể thiếu cho cá cảnh



Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.