Chăm sóc · đọc khoảng 8 phút
Ốc nón nước ngọt trong bể cá: giữ lại hay loại bỏ?
Theo Aquarium Breeder

Ốc nón nước ngọt (chi Acroluxus) là vị khách quen trong bể thủy sinh. Có người ghét cay ghét đắng mấy con ốc tí hon này. Cũng có người chẳng bận tâm, còn coi chúng là đội dọn bể bổ sung, thậm chí là nguồn thức ăn sống.
Ốc nón nước ngọt là loài ăn mùn bã vô hại và góp phần giữ bể nước ngọt sạch sẽ. Chúng trông không đẹp mắt trong bể trưng bày, nhưng bạn không cần phải căng thẳng. Ốc nón không gây rắc rối gì và thường tự biến mất sau một thời gian.
Tiếc là thông tin về ốc nón nước ngọt trên mạng hoặc là nội dung độn chữ, hoặc thiếu sót. Vì vậy phần dưới đây bổ sung thêm thông tin và đính chính một vài điều sai lệch.
Nội dung gồm đặc điểm của ốc nón nước ngọt, chúng là con gì, chúng vào bể bằng cách nào, và những biện pháp hiệu quả để kiểm soát số lượng của chúng.
Nguồn gốc tên gọi
Tên “Limpet” chưa rõ gốc gác và có thể chỉ là từ nguyên dân gian. Dù vậy, nhiều người cho rằng nó có gốc Latin, từ chữ ‘Lampreda’.
Chữ ‘Lampreda’ ghép từ ‘Lambere’ nghĩa là “liếm” và ‘Petra’ nghĩa là “đá”.
Vì thế Limpet có thể hiểu là “liếm đá”.
Ốc nón nước ngọt là gì?
Ốc nón nước ngọt là một nhóm đa dạng gồm các loài thân mềm chân bụng sống dưới nước, thuộc họ Acroloxidae.
Chúng phân bố rộng khắp thế giới.
Chúng ưa vùng nước ngọt tĩnh hoặc chảy chậm, có nhiều cây cỏ thủy sinh.
Về mặt tiến hóa, nhóm này khá trẻ. Người ta cho rằng họ Acroloxidae xuất hiện từ kỷ Phấn Trắng (khoảng 70 triệu năm trước).
Cách nhận biết ốc nón nước ngọt
Ốc nón nước ngọt là loài thân mềm rất nhỏ, vỏ dẹt và có hình nón. Chúng thường dài không quá 8 mm, cao và rộng không quá 4 mm.
Những đặc điểm nhận dạng của chúng gồm:
- Vỏ mỏng, thuôn dài, hình chiếc mũ và không có vòng xoắn.
- Màu vỏ từ mờ trong, vàng xám cho đến nâu. Ốc non gần như trong suốt và rất dễ vỡ.
- Đỉnh vỏ chếch về phía sau, lệch sang trái.
- Các đặc điểm còn lại giống với toàn chi. Khoang phổi đã thoái hóa, còn mang thứ cấp và lỗ sinh dục nằm ở bên phải cơ thể.
- Chúng có khoang áo thích nghi để thở không khí và hoạt động như một lá phổi. Dù vậy, ốc nón nước ngọt không bò lên mặt nước để lấy khí. Chúng trao đổi khí trực tiếp với nước qua da và qua mang thứ cấp (trông như những mấu da hình chiếc lá).
- Tim có hai ngăn, gồm một tâm thất và một tâm nhĩ nằm sát bên phải tâm thất.
- Mắt nằm trên một đôi xúc tu, và đôi xúc tu này không co rút lại được.
Ốc nón vào bể bằng đường nào?
Ốc nón nước ngọt là tay “đi nhờ” chuyên nghiệp. Chúng có thể theo vào bể từ những nguồn bạn không ngờ tới nhất, và người chơi thường mang chúng vào mà không hề hay biết.
Chúng rất dễ theo cây, đá và lũa vào bể, nhất là đồ lấy từ tự nhiên về. Có khi ốc nón còn theo vật nuôi mới vào bể (bám trên vỏ ốc khác) hoặc nằm sẵn trong túi nước của người bán.
Vì vậy, bạn cần khử trùng hoặc cách ly mọi thứ mới mua về trước khi cho vào bể.
Thức ăn và nguyên nhân chính khiến ốc nón sinh sôi
Đã vào được bể thì sớm muộn gì chúng cũng sẽ ở lại và sinh sôi, nhất là khi bể có đủ một vài điều kiện.
Ốc nón ăn mùn bã, và chúng cần có thức ăn thì mới phát triển và sinh sản được.
Vì thế, cho ăn quá tay, tảo mọc nhiều (nhất là tảo đốm xanh) và bể bẩn sẽ tạo ra môi trường lý tưởng cho chúng.
Chẳng hạn, khi chất thải hữu cơ hay thức ăn thừa lọt xuống nền, tép và ốc trong bể có thể không với tới. Còn ốc nón nhờ thân nhỏ nên chui vào đó khá dễ dàng.
Tập tính của ốc nón nước ngọt
Ốc nón sống khá kín đáo. Chúng chủ yếu hoạt động về đêm.
Nếu ban ngày bạn đã nhìn thấy chúng thì đến đêm sẽ có hàng chục con bò trên cây và thành bể.
Ốc nón rất lười vận động. Chúng bò rất chậm.
Đặc điểm:
- Không hiếu động
- Hiền lành
- Có đào bới, chui rúc trong nền
Sinh sản của ốc nón nước ngọt
Ốc nón nước ngọt là loài thân mềm lưỡng tính đực trước (protandrous). Nghĩa là cùng một cá thể sẽ chuyển từ đực sang cái trong quá trình lớn lên. Vì thế chúng không thể tự thụ tinh trong cơ thể để sinh sản.
Sau khi thụ tinh, mỗi con chỉ đẻ một bọc trứng. Mỗi bọc chứa trung bình từ 1 đến 12 trứng hình bầu dục.
Từ lúc giao phối đến lúc đẻ trứng mất 3–5 tuần. Ốc con nở ra cần 1,5–2 tháng để hình thành vỏ.
Theo nghiên cứu, ốc nón có thể sống đến 2 năm. Riêng các loài châu Âu thuộc chi Acroluxus chỉ có vòng đời một năm.
Ốc nón có nguy hiểm cho tép, cá và ốc không?
Không. Ốc nón nước ngọt hoàn toàn vô hại. Chúng đơn giản là không có khả năng làm hại cá, tép, ốc hay bất kỳ con vật nào khác trong bể.
Ngược lại, trong một số trường hợp chúng còn là nguồn thức ăn lành mạnh.
Vì vậy, có một ít ốc nón trong bể là hoàn toàn bình thường. Bạn chỉ cần bận tâm khi chúng sinh sôi quá đông.
Cách loại bỏ ốc nón nước ngọt
Ốc nón là một phần tự nhiên và có ích của hệ sinh thái trong bể. Dù vậy, nhiều người chơi vẫn hốt hoảng khi thấy chúng và muốn diệt sạch càng sớm càng tốt.
I. Chăm bể kỹ hơn
Ốc nón sinh sôi mạnh khi có nhiều thức ăn. Vì vậy bạn cần chăm chút khâu vệ sinh và bảo dưỡng bể. Đây phải là ưu tiên số một.
- Hút nền thường xuyên sẽ loại bớt được một lượng ốc nón đáng kể.
- Dọn xác cây, chất thải của vật nuôi và thức ăn thừa của cá, vì ốc nón ăn chính những thứ này.
- Giữ lượng tảo trong bể ở mức thấp. Thấy tảo bám thì cạo đi.
II. Đừng cho ăn quá tay, xem lại lịch cho ăn
Hãy xem lại lịch cho ăn. Rất có thể bạn đang cho vật nuôi ăn quá nhiều, và bạn cần giảm bớt lượng thức ăn.
Nếu còn thức ăn thừa, hãy vớt ra để ốc nón không tìm thấy.
Cho ăn ít hơn thì chất thải cũng ít hơn. Nước nhờ đó giữ được chất lượng, đồng thời nguồn thức ăn của ốc nón cũng bị cắt gián tiếp nên chúng không bùng phát được.
III. Đừng nuôi quá dày
Nuôi quá nhiều cá và động vật không xương sống sẽ làm chất thải dư thừa tăng lên. Nước bể xấu đi, còn ốc nón thì có điều kiện sống tốt hơn.
Lượng thức ăn trong bể quyết định số lượng ốc nón, nên kiểm soát chúng khá dễ. Ốc nón cũng khá dễ thua các loài ốc nước ngọt khác khi tranh giành thức ăn. Không có thức ăn, ốc nón sẽ tự biến mất.
IV. Bắt bằng tay
Bạn có thể bắt ốc nón ra khỏi bể bằng tay, nhưng đây không nên là cách chính.
Thực tế cho thấy chỉ bắt bằng tay thì không hiệu quả. Kể cả khi bạn lau sạch kính, chúng cũng sẽ sớm quay lại, vì chúng hoạt động về đêm và có thể trốn ở khắp nơi.
Thêm một chuyện nữa là ốc nón đã bám vào kính thì rất khó gỡ ra, kể cả khi dùng ngón tay!
Lưu ý. Bạn có thể dùng ngón tay bóp nát ốc nón để cho tép và ốc ăn. Có điều đừng bóp quá nhiều con một lúc. Nếu vật nuôi không ăn hết trong 1 ngày thì đó là cho ăn quá nhiều.
V. Dùng thiên địch
Dĩ nhiên có một số loài ăn ốc nón. Tuy nhiên, vì ốc nón rất nhỏ lại hoạt động về đêm, các loài này không thể dọn sạch hoàn toàn ốc nón trong bể.
Dù vậy, những loài cá, ốc và tép sau thỉnh thoảng có thể ăn ốc nón:
- Cá tứ vân
- Cá betta
- Cá nóc đậu
- Ốc thợ săn (ốc sát thủ)
- Tép râu
- Tép càng đỏ

VI. Dùng hóa chất
Thật lòng thì không nên dùng hóa chất để diệt ốc nón. Lý do là nhiều loại thuốc có gốc đồng. Chúng có thể làm hại cây và giết luôn cả đàn tép của bạn.
Còn nếu bạn ghét ốc nón đến mức không chịu nổi, bạn có thể dùng bất kỳ loại hóa chất nào thường được khuyên dùng để diệt ốc nước ngọt trong bể.
Các loại thuốc có thể diệt ốc nón nước ngọt
- No-Planaria
- Hydrogen Peroxide (oxy già)
- Esha Gastropex
- Panacur
- Canine Dewormer
Liều lượng khuyến nghị có trong bài “Cách loại bỏ ốc khỏi bể tép”.
Kết luận
Ốc nón nước ngọt không phải kẻ thù của bể thủy sinh. Qua hoạt động hằng ngày, chúng góp phần giữ bể sạch sẽ, và đó là điều đáng ghi nhận.
Cũng dễ hiểu khi nhiều người chơi lâu năm chấp nhận mấy con ốc tí hon này như một phần tự nhiên của thú chơi.
Số lượng ốc nón trong bể tỷ lệ thuận với lượng thức ăn có sẵn cho chúng. Hết thức ăn, chúng sẽ biến mất trong vài tháng, thậm chí vài tuần.
Điểm trừ duy nhất là chúng có thể gây khó chịu và làm bể kém đẹp.
Tài liệu tham khảo
- Shirokaya, Alena & Takhteev, Vadim. (2018). ОПРЕДЕЛИТЕЛЬ БРЮХОНОГИХ МОЛЛЮСКОВ СЕМЕЙСТВА ACROLOXIDAE THIELE, 1931 (PULMONATA: HYGROPHILA) ОЗЕРА БАЙКАЛ, С ЗАМЕЧАНИЯМИ ПО ЭКОЛОГИИ И РАСПРОСТРАНЕНИЮ ВИДОВ УЧЕБНОЕ ПОСОБИЕ.
- Hunter, W. Russell. “On the growth of the fresh‐water Limpet, Ancylus fluviatilis Müller.” In Proceedings of the Zoological Society of London, vol. 123, no. 3, pp. 623-636. Oxford, UK: Blackwell Publishing Ltd, 1953.
- Clarke, Arthur Haddleton. “The freshwater molluscs of the Canadian Interior Basin.” Malacologia 13, no. 1 (1973): 1-509.






Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.