Đơn vị
Giao diện

Cyprinidae, Malaysia

Cá hampala sabana

Hampala sabana

Nhiệt độ
chưa có
pH
chưa có
Bể tối thiểu
chưa có
Độ khó
Khó

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Độ khó
Khó 6/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianKhócá dài 41 cm

Độ khó 6/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Kích thước
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-04.

Thông tin nhanh

Hampala sabana là một loài cá chép sông cỡ lớn, đặc hữu của bang Sabah (Malaysia) ở phía bắc đảo Borneo. Cá sống ở nước chảy, trong và giàu oxy. Có vẻ chúng ưa những đoạn sông sâu hơn, nước chảy chậm hơn. Trên thân cá chỉ có một đốm, và số vảy quanh cuống đuôi nhiều hơn các loài cùng chi. Cá lớn tới 410 mm SL. Loài này ít được biết đến trong giới cá cảnh, và với cỡ đó thì gần như không thể nuôi trong bể.

  • Cần bể rất lớn
  • Cần nuôi theo đàn
  • Phải chọn cá chung bể cẩn thận1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Loài này là đặc hữu của bang Sabah (Malaysia), phía bắc đảo Borneo.

Nơi thu mẫu chuẩn là 'Tributary of Kinabatangan River near Deramakot, Malaysia, Borneo'.1

Môi trường tự nhiên

Đây chủ yếu là cá sống ở sông. Chúng ưa nước chảy, trong và giàu oxy, nền có thể là cát, sỏi, đá hoặc bùn. Có vẻ chúng thích những đoạn sông sâu hơn, nước chảy chậm hơn.

Ở Sabah, những con sông kiểu này thường chảy qua rừng nhiệt đới. Tuy vậy, mấy năm gần đây con người đã làm thay đổi mạnh môi trường nước ngọt ở phần lớn bang này, chẳng hạn phá rừng để trồng cọ dầu hoặc cao su.

Trong hệ thống sông Segama, các loài cá sống cùng khu vực với loài này gồm Luciosoma pellegrini, Nematabramis everetti, Garra borneensis, Gastromyzon lepidogaster, Mystus sabanus và Pangasius tubbi.1

Ghi chú

Loài này ít được biết đến trong giới cá cảnh. Với kích thước lúc trưởng thành, nó gần như không hợp để nuôi trong bể.

Chi Hampala hiện có bảy loài. Trong số đó chỉ có H. macrolepidota là thường gặp trên thị trường cá cảnh, sau đó là H. dispar nhưng ít hơn. H. macrolepidota vừa phân bố rộng nhất ngoài tự nhiên, vừa là loài lớn nhất nhóm. Mới nhìn qua thì các loài trong chi trông khá giống nhau. Ngoại lệ là H. lopezi, loài chỉ có trên một hòn đảo ở Philippines, với một vệt dạng dải rất riêng chạy dọc hai bên thân.

H. macrolepidota dễ nhận ra nhờ kiểu màu. Cá có một dải sẫm dọc bắt đầu từ phía trước vây lưng và kéo xuống quá đường bên. Mép cả hai thùy vây đuôi còn có sọc đen. H. dispar thì chỉ có một đốm sẫm dạng mảng trên thân, và sọc ở mép thùy đuôi kém rõ hơn.

Cá con của hai loài này có thể trông rất giống nhau. Lý do là ở H. dispar non, đốm trên thân kéo dài theo chiều dọc. Cả hai loài cũng đều có một dải sẫm khá rộng ngang cuống đuôi, một dải thứ hai mảnh hơn ngang gốc vây đuôi và một đốm nhỏ phía trên vây hậu môn. Ở H. dispar, tất cả các vệt này đều nhạt hơn. Còn H. macrolepidota có thêm các mảng sẫm phía trên và dưới mắt, cùng một vệt chạy từ gáy xuống tới vây bụng.

H. sabana cũng chỉ có một đốm trên thân. Điểm khác là số vảy quanh cuống đuôi của nó nhiều hơn các loài cùng chi (12-16, thường là 14-16). H. ampalong, H. bimaculata và H. salweenensis khó tách bạch hơn, vì cả ba đều có hai đốm trên thân. H. ampalong có nhiều vảy đường bên hơn H. salweenensis (28-31 so với 26-27). Ở H. bimaculata, các vệt trên thân có hình yên ngựa, và đốm phía trước nằm dưới nửa sau vây lưng. Ở hai loài kia, đốm này nằm dưới điểm bắt đầu của vây lưng.

Cần để ý là ở mọi loài Hampala, các vệt trên thân thường mờ dần khi cá đạt cỡ rất lớn. Trong tương lai cũng có thể sẽ có thêm loài mới được mô tả. Chẳng hạn, một nghiên cứu phát sinh loài công bố năm 2006 kết luận rằng dạng H. bimaculata ở miền trung và miền nam bang Sarawak (Malaysia), đảo Borneo, nên được xem là một loài riêng.1

Nguồn

1 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Ryan, J. R. and Y. B. Esa (2006). Phylogenetic Analysis of Hampala Fishes (Subfamily Cyprininae) in Malaysia Inferred from Partial Mitochondrial Cytochrome b DNA Sequences. Zoological Science 23(10), 893-901
  • Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27, 1-663
  • Inger, R. F. and P. K. Chin (1962). The fresh-water fishes of North Borneo. Fieldiana Zoology v.45, 1-268
  • Martin-Smith, K. M. and H. H. Tan (1998). Diversity of freshwater fishes from eastern Sabah: annotated checklist for Danum Valley and a consideration of inter- and intra-catchment variability. Raffles Bulletin of Zoology 46(2), 573-6041