Adrianichthyidae, Indonesia
Cá medaka Wolasi
Oryzias wolasi
Tên khác: Cá gạo neon, Neon Ricefish, Small Neon Ricefish, Cá lúa neon, Cá lúa Wolasi, Wolasi Ricefish
- Nhiệt độ
- 23–27°C
- pH
- 7–8
- Bể tối thiểu
- 45 cm
- Độ khó
- Dễ
Bảng dữ liệu
Xem đủ bảng
- Nhiệt độ
- 23–27°C
- pH
- 7–8
- Độ cứng (dGH)
- 10–20
- Kích thước
- 3,5 cm
- Bể tối thiểu
- 45 cm
- Độ khó
Dễ 2/8 Vì sao?
Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:
- Không gianDễbể từ 45 cm, cá dài 3,5 cm
- NướcDễpH 7–8, 10–20 dGH
- Nhiệt độDễ23–27°C
Độ khó 2/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
- Seriously Fish
- pH
- Seriously Fish
- Độ cứng (dGH)
- Seriously Fish
- Kích thước
Mỗi nguồn ghi một mức
- Aquarium Glaser: 4 cm
- Seriously Fish: 3,5 cm
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
- Seriously Fish
Dịch và tổng hợp từ Aquarium Glaser, Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-08.
Thông tin nhanh
Aquarium Glaser ghi khác bảng dữ liệu: kích thước 4 cm (bảng: 3,5 cm).
Cá lúa neon bắt ngoài tự nhiên thường có sẵn ở cỡ 1,5-2 cm. Lứa cá này rất hiếu động và khỏe mạnh. Chúng thuộc loài O. wolasi. Trước khi loài này được mô tả khoa học, dân chơi cá vẫn gọi nó là O. cf. woworae. Khi trưởng thành, cá dài khoảng 4 cm.1
Cá medaka Wolasi (Oryzias wolasi) mới chỉ được ghi nhận ở bốn địa điểm phía nam Kendari, thuộc Đông Nam Sulawesi, Indonesia. Loài này được phát hiện năm 2009. Trước khi có mô tả khoa học, nó được gọi là O. sp. 'Kendari', O. sp. 'neon' hoặc O. sp. 'Sulawesi'. Cá thuộc nhóm loài O. woworae và sống trong các dòng suối vùng đá vôi, từ những thác nước chảy xiết cho đến các vũng nước còn sót lại của một con sông chỉ có nước theo mùa.2
Cần bể bao lớn?
Chiều dài chuẩn (SL): 3,5 cm. Đáy bể: 45 × 30 cm. Thể tích: khoảng 41 lít.
Muốn nuôi theo đàn thì nên chọn bể có đáy từ 45 × 30 cm trở lên.2
Nước cần thế nào?

Chăm sóc ra sao?
Cá hợp nhất với bể trồng dày cây. Tốt nhất là bể có nền màu tối, vài khóm cây rậm và một số khoảng trống.
Bạn có thể bày thêm rễ cây uốn lượn và lũa. Cá cũng thích có cây nổi trên mặt nước.
Nuôi trong điều kiện như vậy, cá nhiều khả năng sẽ lên màu đẹp nhất. Bể trồng cây còn cho cá bột thêm cơ hội sống sót khi ở chung với cá bố mẹ.2
Cho ăn gì?
Cá không kén ăn, nhưng thức ăn phải vừa cỡ miệng.
Cách cho ăn có vẻ lý tưởng là kết hợp thức ăn khô chất lượng cao loại hạt nhỏ hoặc bóp vụn với thức ăn sống như giun vi sinh (microworm), ấu trùng Artemia hoặc loại tương tự. Người ta cũng thấy cá trưởng thành gặm trên các bề mặt cứng, nên trong tự nhiên khẩu phần của chúng có thể có cả tảo.2
Nuôi chung với con gì?
Cá rất hiền, nhưng vì nhỏ con nên không hợp với nhiều bể cộng đồng.
Nếu muốn nuôi chung, lựa chọn tốt nhất là các loài nhỏ như Microdevario, Pseudomugil và các loài Danio cỡ nhỏ. Tép nước ngọt thuộc giống Caridina và Neocaridina chắc cũng nuôi chung được.
Nếu muốn cho cá sinh sản thì dĩ nhiên nuôi riêng là tốt nhất. Không nên nuôi chung với các loài Oryzias khác vì chúng có thể lai tạp với nhau. Chuyện này đã được chứng minh trong phòng thí nghiệm.
Cá gần như không gây gổ với đồng loại. Khi nuôi đàn từ 8 con trở lên, chúng trông đẹp nhất và cũng mạnh dạn hơn.2
Nuôi chung
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Phân biệt đực cái thế nào?
Cá đực trưởng thành có màu sắc rực rỡ hơn, vây lưng và vây hậu môn dài hơn, thân cũng thon hơn cá cái.
Gai sinh dục của cá đực là một ống ngắn, hơi có hình nón. Ở cá cái, gai sinh dục chia thành hai thùy.2
Sinh sản ra sao?
Loài này khá dễ sinh sản và đẻ khá sai. Cá cái khỏe mạnh có thể đẻ một lứa trứng mỗi vài ngày, thậm chí ngày nào cũng đẻ.
Cá thường đẻ vào sáng sớm. Lúc này cá đực sậm màu lên, mỗi con giữ một vùng lãnh thổ nhỏ tạm thời, đuổi các con đực khác và tìm cách dụ cá cái.
Trứng có chất dính, thường được cá cái đẩy ra thành một khối và được thụ tinh cùng lúc. Sau đó, khối trứng còn treo ở lỗ sinh dục của cá cái một thời gian. Cuối cùng cá cái mới gắn trứng từng quả riêng hoặc từng cụm nhỏ lên cây hay giá thể phù hợp khác.
Các loại cây lá nhỏ như Cabomba, Ceratophyllum hoặc rêu Taxiphyllum là lý tưởng. Tổ đẻ bằng sợi tổng hợp hay các vật thay thế nhân tạo khác cũng dùng được.
Thời gian ấp phần nào tùy nhiệt độ, nhưng thường là 1–3 tuần. Cá bố mẹ thường không để ý đến trứng, nhưng lại ăn cá bột khi cá bột đã bơi được. Dù vậy, nếu bể trồng dày cây thì thường vẫn có một số con sống sót.
Một cách khác là chuyển trứng hoặc cá bột sang một hộp ương riêng, dùng nước lấy từ bể cá bố mẹ.
Khi đã bơi tự do, cá bột ăn được giun vi sinh, ấu trùng Artemia và các loại tương tự.
Nên cẩn thận khi nuôi chung cá con khác lứa. Nếu chênh lệch kích thước đủ lớn, con lớn sẽ ăn con nhỏ.2
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Loài này mới được ghi nhận ở bốn địa điểm thuộc huyện Nam Konawe (Konawe Selatan), phía nam Kendari. Kendari là thủ phủ tỉnh Đông Nam Sulawesi (Sulawesi Tenggara), trên đảo Sulawesi, Indonesia. Bốn địa điểm gồm sông Wolasi, sông Andambao, thác Sumbersari ở quận Moramo và một con suối ven biển lấy nước từ mạch ngầm ở quận Laeya.
Sulawesi là một trung tâm đa dạng đặc biệt của giống Oryzias. Đến nay đã có 17 loài Oryzias đặc hữu ở đây được mô tả.2

Môi trường tự nhiên
Năm 2010, địa điểm mẫu chuẩn trên sông Andambao là một con suối nước ngọt, nước chảy từ chậm đến nhanh. Nền suối gồm bùn, đá nhỏ và xác thực vật, có cỏ mọc vươn lên khỏi mặt nước. Bờ suối là bùn, đá và cỏ.
Ở thác Sumbersari, nước chảy xiết hơn và nhiệt độ đo được là 24 °C.
Năm 2009, nơi cá sống gần Wolasi là lòng một con sông theo mùa đã gần khô cạn. Vào giữa mùa hè, lòng sông chỉ còn vài vũng nước tồn tại quanh năm. Sang những tháng mưa nhiều, nhiều khả năng sông lại chảy thông suốt.
Các địa điểm này đều nằm trong vùng đá vôi. pH dao động từ 7,5 đến 8,5, độ dẫn điện đo được 40–120 µS/cm và nhiệt độ nước 22–29 °C.
Loài cá duy nhất được ghi nhận sống cùng khu vực là Nomorhamphus ebrardtii, một loài cá kìm (họ Hemiramphidae) chuyên săn mồi.2
Ghi chú
Loài này được phát hiện năm 2009. Theo những gì được biết, đến nay nó mới chỉ được thu mẫu cho giới chơi cá cảnh đúng một lần, do Jeffrey Christian của Maju Aquarium, Frank Evers và Hans-Georg Evers thực hiện.
Trước khi có mô tả khoa học, loài này được gọi là O. sp. 'Kendari', O. sp. 'neon' hoặc O. sp. 'Sulawesi'.
Loài này thuộc nhóm loài O. woworae (Parenti và cộng sự, 2013) trong giống Oryzias. Các thành viên trong nhóm có sắc tố từ cam đến đỏ đậm ở mép vây đuôi, mép dưới cuống đuôi và ít nhất là phần sau của gốc vây hậu môn. Thân chúng còn có ánh xanh lam, rõ nhất ở cá đực trưởng thành khi còn sống.
Nhóm này còn có O. asinua. Cũng như O. wolasi, O. asinua khác O. woworae ở hai điểm. Thứ nhất, cá đực có các tia vây lưng ở giữa kéo dài tới điểm cuối của tia vây đuôi chính thứ nhất. Thứ hai, ít nhất là ở cá cái còn sống, biểu mô khứu giác trên mỗi cơ quan mũi có màu cam.
Có thể phân biệt O. wolasi với O. asinua và O. woworae qua thân màu vàng ánh và tương đối cao. Chiều cao thân của O. wolasi đạt 32% SL, trong khi O. asinua chỉ đạt 25% và O. woworae đạt 30%. Cuống đuôi của O. wolasi cũng cao hơn, ở mức 11–12% SL (trung bình 11,2%), so với 9–11% (trung bình 10%) ở O. asinua và 8–11% (trung bình 9,2%) ở O. woworae. Chỉ cá cái mới có biểu mô khứu giác màu cam trên cơ quan mũi.
Ngoài ra, cá đực vào mùa sinh sản có màu sẫm hơn và ngả tím hơn so với O. woworae. Thực ra có thể phân biệt hai loài này ngay từ khi cá mới dài 10 mm SL. Ở O. woworae, sắc tố cam hiện rõ dọc gốc vây hậu môn và lan sang vây đuôi, còn ở O. wolasi những vùng này không có màu (P. Liptrot, trao đổi cá nhân).
Các loài thuộc họ Adrianichthyidae thường được gọi chung là 'cá lúa' (ricefish). Trước đây chúng được xếp vào bộ Cyprinodontiformes, nên bị coi là họ hàng gần của nhóm cá răng nhỏ (toothcarp).
Quan niệm sai này đôi khi vẫn còn, dù từ năm 1981 Rosen và Parenti đã xếp lại chúng vào bộ Beloniformes, nhóm chị em của Cyprinodontiformes.
Loài nổi tiếng nhất trong họ là cá medaka, hay cá lúa Nhật Bản (Oryzias latipes). Loài này đã được dùng rộng rãi làm sinh vật mẫu trong nghiên cứu hệ gen và sinh học thực nghiệm suốt hơn một thế kỷ. Nó cũng là động vật có xương sống đầu tiên giao phối ngoài không gian, vào giữa thập niên 1990.
Hiện họ này chỉ có hai giống là Oryzias và Adrianichthys. Parenti (2008) đã gộp hai nhóm từng được công nhận trước đây là Xenopoecilus và Horaichthys vào Oryzias.
Xenopoecilus trước đây là một nhóm cận ngành gồm ba loài. Trong đó, X. oophorus và X. poptae được chuyển sang Adrianichthys, còn loài thứ ba là X. sarasinorum hiện được công nhận với tên Oryzias sarasinorum.
Ngoài ra, Horaichthys setnai ở Ấn Độ, trước đây là loài duy nhất trong giống của nó, hiện được xếp thành O. setnai.2
Nguồn
2 nguồn và tài liệu tham khảo
- Aquarium Glaser aquariumglaser.de
- Seriously Fish seriouslyfish.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Tài liệu tham khảo
- Herder, F. and S. Chapuis (2010). Oryzias hadiatyae, a new species of ricefish (Atherinomorpha: Belonifornes: Adrianichthyidae) endemic to Lake Masapi, Central Sulawesi, Indonesia. The Raffles Bulletin of Zoology 58(2), 269-280
- Parenti, L. R. (2008). A phylogenetic analysis and taxonomic revision of ricefishes, Oryzias and relatives (Beloniformes, Adrianichthyidae). Zoological Journal of the Linnean Society 154(3), 494-610
- Parenti, L. R. and R. K. Hadiaty (2010). A new, remarkably colorful, small ricefish of the genus Oryzias (Beloniformes, Adrianichthyidae) from Sulawesi, Indonesia. Copeia 2010 (2), 268-273
- Roberts, T. R. (1998). Systematic observations on tropical Asian medakas or ricefishes of the genus Oryzias, with descriptions of four new species. Ichthyological Research 45(3), 213-224
- Takehana, Y., K. Naruse K and M. Sakaizumi (2005). Molecular phylogeny of the medaka fishes genus Oryzias (Beloniformes: Adrianichthyidae) based on nuclear and mitochondrial DNA sequences. Molecular Phylogenetics and Evolution 36(2), 417–428
- Parenti, L. R., R. K. Hadiaty, D. Lumbantobing, and F. Herder (2013). Two New Ricefishes of the Genus Oryzias (Atherinomorpha: Beloniformes: Adrianichthyidae) Augment the Endemic Freshwater Fish Fauna of Southeastern Sulawesi, Indonesia. Copeia 2013(3), 403-4142
Chuẩn bị để nuôi Cá medaka Wolasi
Bể cáTối thiểu 45 cm
Lọc, sủi khí và tạo dòng
Thức ăn
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Video
Oryzias wolasi bij Aquarium Speciaalzaak Utaka1:00, EN
Akvaryum Vlog #313 (Pirinç Balığı Yumurtaları)9:30, TR
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá medaka Wolasi? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.

Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.