Đơn vị
Giao diện

Cichlidae, Brazil

Cá Retroculus xinguensis

Retroculus xinguensis

Nhiệt độ
26–32°C
pH
6–8
Bể tối thiểu
210 cm
Độ khó
Khó

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
26–32°C
pH
6–8
Độ khó
Khó 6/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianKhóbể từ 210 cm, cá dài 20 cm
  • NướcDễpH 6–8, 1–12 dGH
  • Nhiệt độVừanước ấm · 26–32°C
  • Tính cáchKhósăn mồi
  • Bầy đànDễđàn từ 5 con

Độ khó 6/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-06.

Thông tin nhanh

Retroculus xinguensis là một loài cichlid ưa nước chảy xiết (rheophilic). Chúng sống ở lưu vực sông Xingu, Brazil, ngoài ra còn có vài ghi nhận ở lưu vực sông Tapajós. Môi trường sống của chúng là ghềnh thác và những đoạn sông nước trong, chảy xiết. So với các loài cùng giống, loài này dễ nhận ra nhờ các vạch sẫm màu rất rõ trên vây đuôi. Thỉnh thoảng mới có người nhập loài này về bán. Muốn nuôi, bạn cần một bể lớn bày theo kiểu dòng sông đang chảy, nhiệt độ nước 26–32 °C.

  • Cần dòng chảy mạnh, lọc phải luân chuyển toàn bộ nước trong bể 8–12 lần mỗi giờ
  • Cần bể dài ít nhất 2 m1

Cần bể bao lớn?

Bạn cần một bể có đáy tối thiểu 210 × 60 cm hoặc tương đương, tức khoảng 756 lít.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 26–32°C. Trong nước mát hơn, loài này sẽ không phát triển tốt.
  • pH: 6,0–8,0
  • Độ cứng: 1–12 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Các loài Retroculus không hợp với bể cộng đồng thông thường. Chúng cần một bể bày theo kiểu dòng sông đang chảy. Nếu muốn cho cá sinh sản thì nền nên là cát mịn trộn sỏi nhỏ (xem mục 'Sinh sản'). Bạn có thể bày thêm đá, đá tảng, rễ cây, cành cây và cây thủy sinh. Cây thì nên chọn loại khỏe, trồng bám được lên vật trang trí.

Nhóm cichlid này không chịu được chất thải hữu cơ, nước phải thật sạch thì cá mới khỏe. Nước cũng nên giàu oxy hòa tan và chuyển động mạnh. Vì thế bạn cần gắn thêm máy tạo dòng, bơm và các thiết bị tương tự khi cần. Một máy tạo dòng kiểu linear flow (thổi dòng chảy thẳng) cũng rất có ích. Thay nước 30–70% mỗi tuần là việc bắt buộc.

Cá đánh bắt tự nhiên có thể khá yếu sau khi nhập về và dễ mắc bệnh đốm trắng. Do đó bạn có thể phải cách ly chúng khá lâu.1

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, R. xinguensis ăn chủ yếu các loài động vật không xương sống sống dưới đáy nước. Phần lớn trong số đó là ấu trùng muỗi lắc (Chironomidae), ấu trùng cánh lông (Trichoptera) và ấu trùng phù du (Ephemeroptera).

Trong bể, bạn cho cá ăn thức ăn chế biến sẵn loại hạt mịn, chất lượng tốt. Kèm theo đó là trùng huyết (ấu trùng muỗi lắc), trùng chỉ, Artemia, Gammarus, bọ gậy, giun đất nhỏ và các loại tương tự, cho ăn sống hoặc đông lạnh. Trong các loại thức ăn khô, ít nhất vài loại nên có nhiều thành phần thực vật như Spirulina hoặc tương tự. Thức ăn dạng gelatin, tự làm hay mua sẵn, cũng đã cho thấy hiệu quả tốt. Muốn cá lớn nhanh và đẹp nhất, bạn nên chia ra 3–5 bữa nhỏ mỗi ngày thay vì cho ăn một bữa thật nhiều.

Các loài Retroculus chủ yếu kiếm ăn ở đáy. Dù vậy, chúng cũng sẵn sàng đớp mồi trôi lơ lửng theo dòng nước và cả cá nhỏ. Chúng còn hay ngậm từng ngụm nền rồi lọc qua mang để lấy thức ăn.1

Adult males often raise themselves onto their ventral fins; apparently a territorial posture.
©

Nuôi chung với con gì?

Ngoài lúc sinh sản, loài này khá hiền. Tuy vậy, chúng có thể ăn thịt những con cá nhỏ hơn trong bể. Trừ khi bể thật lớn, tốt nhất bạn nên nuôi chung với các loài cá hiền bơi ở tầng nước mở thay vì ghép với các loài sống đáy khác.

Đây là loài thích sống chung. Ngoài mùa sinh sản, chúng thường tụ thành đàn lỏng lẻo. Cá con đặc biệt có bản năng bầy đàn rất mạnh. Lý tưởng nhất là mua một nhóm 5–8 con. Trong nhóm sẽ hình thành thứ bậc trên dưới khá rõ. Nếu nuôi ít con hơn, những con yếu có thể bị con đầu đàn ức hiếp quá mức. Cũng có khi cả nhóm không ổn định được và lúc nào cũng nhát, hoảng hốt.1

Nuôi chung

Tính cách
Săn mồi
Đàn tối thiểu
5 con

Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Phân biệt đực cái thế nào?

Cá đực trưởng thành thon hơn cá cái thấy rõ. Chỗ dễ nhìn nhất là đoạn bụng giữa vây bụng và vây hậu môn. Ở cá đực, đoạn này gần như thẳng, còn ở cá cái thì tròn. Ngoài ra, cá đực trưởng thành có vây bụng to hơn và nhiều sắc đỏ hơn. Có vẻ chúng dùng vây bụng khi phô diễn tranh lãnh thổ. Lúc đó cá chống vây bụng xuống để nâng người lên, trông to hơn đối thủ.

Vào mùa sinh sản, toàn thân cá lên màu đậm hơn. Hai bên đầu, vây lưng, vây hậu môn và vây bụng chuyển sang đỏ rực.

Nhìn bên ngoài thì không phân biệt được đực cái ở cá con và cá choai.1

Sinh sản ra sao?

Đây là loài đẻ trứng trên nền, cả bố lẫn mẹ cùng chăm con. Người chơi đã cho chúng sinh sản thành công trong bể. Có vẻ không cần tác nhân kích thích đặc biệt nào để cá đẻ. Điều cốt yếu là cho ăn tốt và chăm bể thật kỹ, thay nước nhiều mỗi tuần.

Nếu không mua được cá trưởng thành đã biết rõ đực cái, tốt nhất bạn nên bắt đầu với một nhóm cá nhỏ và để chúng tự bắt cặp. Bạn cũng cần kiên nhẫn. Cá phải mất ít nhất một năm, thường là hai năm hoặc lâu hơn, mới thành thục.

Cá đực là bên tán tỉnh trước, thường bắt đầu vài ngày trước khi đẻ. Khi đã thành cặp, hai con cùng nhau đào một hoặc vài hố lớn dưới nền. Cá thường đẻ trong một trong các hố này. Cá cái đẻ ra từng đợt trứng, rồi cá đực bơi vào thụ tinh. Cặp cá lặp lại như vậy nhiều lần cho đến khi đẻ được khoảng 200 trứng hoặc hơn.

Trứng rất dính và chẳng mấy chốc đã bị cát bám kín. Đẻ xong, cá bố mẹ phủ lên trứng một lớp sỏi nhỏ, mẩu lũa nhỏ hoặc các mảnh vụn khác. Cũng có khi chúng đẻ trứng vào một đống vật liệu như vậy đã gom sẵn từ trước. Trong thời gian ấp, cá bố mẹ thường xuyên dời 'tổ' này sang chỗ khác. Chúng dùng lại các hố cũ hoặc đào hố mới.

Sau 3–4 ngày, trứng bắt đầu nở. Cá bột nằm lại trong tổ cho đến khi tiêu hết túi noãn hoàng. Khi cá bột đã bơi tự do, bạn có thể cho ăn ấu trùng Artemia mới nở và các loại thức ăn cỡ tương tự. Người ta từng thấy một số cặp lùa cá bột về lại tổ trước khi trời tối. Chúng giữ thói quen này trong khoảng vài tuần sau khi đẻ. Cá bố mẹ còn hay khuấy tung từng mảng nền, nhiều khả năng là để mồi lộ ra cho cá bột ăn.1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Đến nay vẫn chưa rõ loài này phân bố rộng đến đâu. Phần lớn các ghi nhận nằm ở hạ lưu sông Xingu thuộc bang Pará, miền bắc Brazil. Trong số đó có cả đoạn trung lưu và hạ lưu của sông Iriri, phụ lưu lớn của Xingu. Dù vậy, nơi thu mẫu định danh lại nằm ở bang Mato Grosso, ngược lên thượng nguồn vài trăm km.

Ngoài ra còn có vài ghi nhận ở ba con sông khác. Sông Jamanxim là một phụ lưu lớn của sông Tapajós và thoát nước từ cùng dãy núi với sông Iriri. Kế đến là sông Arapiuns. Cuối cùng là sông Maués Açu, cũng là một phụ lưu bờ phải, đổ vào dòng chính Amazon ở phía thượng nguồn so với Tapajós và thông với sông Madeira.

Nơi thu mẫu định danh là 'Rio Xingú, at Cachoeira von Martius, northern border of Mato Grosso, Brazil'.1

Môi trường tự nhiên

Đây là loài ưa nước chảy xiết, sống ở ghềnh thác hoặc những đoạn sông nước trong, chảy mạnh. Những nơi như vậy thường có rất nhiều đá tảng to nhỏ đủ cỡ. Dọc hai bên bờ có những vũng nước lặng với nền cát hoặc sỏi.1

Ghi chú

Loài này thỉnh thoảng mới xuất hiện trên thị trường cá cảnh.

Có thể phân biệt loài này với các loài cùng giống nhờ kết hợp nhiều đặc điểm. Vây lưng có 16–17 tia cứng và 10–11 tia mềm. Vây hậu môn có 3 tia cứng và 6–7 tia mềm. Hàng vảy giữa thân có 37–41 vảy. Cá có 10–12 lược mang, và trên xương ceratobranchial thứ năm không có lược mang (R. lapidifer và R. septentrionalis thì có). Hàng gai thịt phía trước trên bộ phận vomero-palatine xếp không đều, đôi khi tạo thành hàng thứ hai (R. septentrionalis không có hàng này, còn ở các loài khác thì hàng này xếp đều). Vây đuôi có các vạch sẫm rõ rệt (R. lapidifer không có vạch, còn ở R. acherontos các vạch mờ và mảnh).

Eigenmann và Bray (1894) là những người đầu tiên đưa ra chẩn đoán cho giống Retroculus. Sau đó Landim và cộng sự (2015) mở rộng chẩn đoán này, vì loài mới họ mô tả là R. acherontos có hình thái ít chuyên hóa hơn các loài cùng giống. Cụ thể, thân nó ít dẹt hơn, mõm ít nhọn hơn và mắt nằm lệch về phía trước hơn. Phần bụng của nó tròn, và vảy bụng không nhỏ hẳn so với vảy hông.

Theo chẩn đoán mới, các loài trong giống này khác các nhóm cichlid khác ở hai đặc điểm riêng có. Thứ nhất, phần dày lên của xương epibranchial thứ nhất đỡ thùy epibranchial (ở các nhóm khác, thùy này nằm trên xương epibranchial thứ hai hoặc trên phần mở rộng dạng tấm của xương epibranchial thứ nhất). Thứ hai, vòm miệng có bộ phận vomero-palatine (ở các nhóm khác, vòm miệng không có cấu trúc chuyên biệt rõ rệt).

Giới phân loại xem Retroculus là dòng tách nhánh sớm nhất trong cichlid Tân nhiệt đới và là nhóm chị em với giống Cichla. Nhánh gồm hai giống này được coi là nhánh gốc so với các cichlid Tân nhiệt đới còn lại. Dù trông khá giống, Retroculus không thuộc phân họ Geophaginae, một phân họ vẫn còn mang tính giả định.1

Nguồn

1 nguồn
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Chuẩn bị để nuôi Cá Retroculus xinguensis

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Video

  • Meet The Xingu Rapids Cichlid - Retroculus xinguensis!13:42, EN

  • old video of Retroculus xinguensis eating shrimps0:21, EN

  • SOUTH AMERICAN CICHLIDS - Retroculus Xinguensis1:09, EN

  • Retroculus Xinguensis baby dancing 😜0:15, EN