Đơn vị
Giao diện

Poeciliidae, Mexico

Cá kiếm xanh

Xiphophorus hellerii

Tên khác: Cá đuôi kiếm, Swordtail, Cá kiếm Yucatan, Cá đuôi kiếm Yucatan, Green swordtail, Yucatan swordtail, Cá kiếm Wien Lyra, Cá kiếm lyra Vienna, Wien Lyra swordtail, Cá kiếm guentheri Golden Stream, Cá kiếm Golden Stream, Golden Stream swordtail, Cá kiếm

Nhiệt độ
16–28°C
pH
7–8
Bể tối thiểu
120 cm
Độ khóCác nguồn ghi khác nhau
Dễ

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
16–28°C
pH
7–8
Kích thướcCác nguồn ghi khác nhau
14 cm
Tuổi thọ
3–5 năm
Độ khóCác nguồn ghi khác nhau
Dễ 2/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianKhóbể từ 120 cm, cá dài 14 cm
  • NướcDễpH 7–8, 10–25 dGH
  • Nhiệt độDễ16–28°C
  • Tính cáchVừahơi dữ, hay cắn vây
  • Bầy đànDễđàn từ 4 con

Độ khó 2/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Seriously Fish: 16–28°C
  • The Spruce Pets: 18–28°C
  • Aquarium Breeder: 22–26°C
pH

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Seriously Fish: 7–8
  • The Spruce Pets: 7–8,5
  • Aquarium Breeder: 7–8
Độ cứng (dGH)

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Seriously Fish: 10–25
  • The Spruce Pets: 12–30
  • Aquarium Breeder: 5–20
Kích thước

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Seriously Fish: 14 cm
  • The Spruce Pets: 10 cm
  • Aquarium Breeder: 12 cm
Tuổi thọ

Mỗi nguồn ghi một mức

  • The Spruce Pets: 3–5 năm
  • Aquarium Breeder: 5 năm
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Seriously Fish: 4
  • The Spruce Pets: 2
  • Aquarium Breeder: 2

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish, The Spruce Pets, Aquarium Breeder, Aquarium Glaser. Cập nhật 2026-11-02.

Thông tin nhanh

Cá kiếm xanh (Xiphophorus hellerii) là loài cá đẻ con, quê ở đông nam Mexico, Guatemala, Belize và Honduras. Đây là một trong những loài cá cảnh dễ nhận ra nhất thế giới, và tiệm cá nào cũng có. Người ta đã chọn giống và lai nó với X. maculatus, X. variatus để tạo ra vô số dòng cá cảnh, nhiều đến mức khó mà kể hết. Tên loài hay bị viết sai thành X. helleri.1

Aquarium Breeder ghi khác bảng dữ liệu: kích thước 12 cm (bảng: 14 cm).

  • Tên: cá kiếm (cá kiếm xanh)
  • Họ: Poeciliidae, cá nước ngọt đẻ con
  • Độ khó: dễ nuôi, dễ sinh sản
  • Nitrat: dưới 60
  • Tầng bơi: tầng trên và tầng giữa
  • Thức ăn: ăn tạp
  • Tính khí: hiền
  • Màu sắc: dạng hoang dã màu xanh ô liu hoặc nâu nhạt. Các dòng cá cảnh có màu đỏ, cam, đen, vàng, đốm, neon, bạch tạng, bạc, xanh dương, v.v.

Mô tả

Xiphophorus hellerii là loài cá cỡ vừa, nhiều màu và bơi lội hiếu động. Con đực trưởng thành thường nhỏ hơn con cái. Con đực dài tới 8–9 cm, còn con cái thường dài khoảng 10–12 cm.

  • Thân cá thon dài, dẹt hai bên, lưng hơi cong.
  • Miệng cá nhỏ và hếch lên, có răng nhỏ để gắp và xé thức ăn.
  • Dáng thân giống các loài cá đẻ con khác, với vây hậu môn, vây lưng và vây đuôi nổi rõ.
  • Màu nền thường là xanh ô liu hoặc nâu nhạt.
  • Cả con đực lẫn con cái đều có một sọc ngang đặc trưng chạy giữa thân, từ gốc đuôi lên tới đầu. Sọc này có màu xám tối, nâu hoặc đỏ. Ở một số dòng có thể có thêm 2 sọc đỏ nhạt nằm phía trên sọc giữa và một sọc nằm phía dưới.
  • Con đực có phần phụ ở đuôi thẳng và rất dài, đôi khi dài gần bằng thân. Các tia dưới của vây đuôi kéo dài thành một "thanh kiếm" rất dễ thấy, thường có màu.

Các dòng nuôi

Qua nhiều năm chọn lọc, người ta đã tạo ra cá kiếm với đủ màu (đỏ, cam, đen, vàng, đốm, neon, bạch tạng, bạc, xanh dương, v.v.) và đủ kiểu vây (hifin, sailfin, lyretail, v.v.). Hiện trên thị trường có hơn 50 dòng, và dòng mới vẫn ra đều đặn. Phần lớn các dòng hiện có ra đời chủ yếu nhờ lai cá kiếm với cá platy.

Tuổi thọ

Chưa có số liệu chính xác về tuổi thọ của loài này ngoài tự nhiên. Người ta cho rằng cá hoang dã sống khoảng 2–3 năm. Trong bể nuôi, nếu chăm đúng cách và môi trường phù hợp, cá có thể sống tới 5 năm hoặc lâu hơn một chút. Tuổi thọ còn tùy vào kẻ săn mồi, di truyền, chất lượng nước, chế độ ăn và cách chăm sóc nói chung.3

Có nên mua không?

Cá bán ngoài thị trường là cá nhân giống ở Đông Nam Á.

Phân loài Xiphophorus hellerii guentheri được mô tả từ mẫu ở Guatemala. Ở Đức, người ta thường gọi chung cá kiếm có đốm là "guentheri". Dòng "Golden Stream" không khớp với hình dung thông thường về guentheri. Tuy vậy, cái tên này đã được giới chơi cá đẻ con chấp nhận rộng rãi, nên nếu không thật cần thiết thì cũng chẳng nên đổi. Điều quan trọng hơn nhiều là giữ cho dòng cá này thuần chủng khi nhân giống. Có giữ thuần thì sau này mới nghiên cứu được hành vi và di truyền của cá hoang dã. Dòng đột biến nhân tạo và cá lai thì hiện đã có quá đủ rồi.4

Cá kiếm là loài cá cộng đồng dễ nuôi, nổi tiếng là hợp với người mới chơi. Chúng sống chung được với nhiều loài cá khác và chịu được nhiều kiểu môi trường. Qua nhiều thế hệ lai tạo, giờ cá kiếm có rất nhiều dòng khác nhau.

Một số trang web và cửa hàng cá cảnh bán những dòng "đặc biệt" mà nơi khác không có. Nhiều dòng độc lạ này ra đời nhờ cho phối cận huyết qua nhiều thế hệ. Bề ngoài của chúng có thể rất nổi bật. Nhưng bên trong, chúng cũng có thể yếu hơn, sức đề kháng kém và tuổi thọ ngắn.2

A male swordtail (Xiphophorus hellerii) fish.
©

Cần bể bao lớn?

Bể nhỏ nhất nên dùng có mặt đáy 120 × 30 cm hoặc tương đương, tức khoảng 108 lít.1

The Spruce Pets ghi khác bảng dữ liệu: bể tối thiểu 75 lít (bảng: 120 cm).

Bể tối thiểu cho cá kiếm là khoảng 75 lít. Đây là loài bơi nhiều, vì vậy bạn đừng bày quá nhiều đồ trang trí chắn đường bơi của chúng. Đồ trang trí và cây nên gom ở khoảng nửa dưới đến 2/3 chiều cao bể. Phần trên cứ để trống cho cá bơi.2

Aquarium Breeder ghi khác bảng dữ liệu: bể tối thiểu 60 lít (bảng: 120 cm).

Cá kiếm khá to nên không hợp với bể nhỏ. Bể tối thiểu là 60 lít cho 1 con đực và 3–4 con cái.

Cá kiếm rất hay nhảy. Muốn cá không nhảy ra ngoài, bạn nên đậy nắp bể, hạ mực nước thấp xuống, thả cây nổi và tránh làm cá bị stress.3

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 16–28°C
  • pH: 7,0–8,0
  • Độ cứng: 10–25 dGH1

Aquarium Breeder ghi khác bảng dữ liệu: nhiệt độ 22–26°C (bảng: 16–28°C).

Cá kiếm chịu được dải nhiệt độ, độ mặn, độ cứng và lượng oxy hòa tan khá rộng. Cá khỏe thật, nhưng những nhu cầu cơ bản của chúng vẫn phải được đáp ứng. Bạn nên chạy chu trình nitơ cho bể trước khi mang cá về, sau đó đo chất lượng nước bằng bộ test.

  • Nhiệt độ: cá kiếm chịu được nhiệt độ dao động rất rộng. Theo một nghiên cứu, ngưỡng nhiệt độ thấp gây chết nằm trong khoảng 5,5–11,3°C. Như vậy không có nghĩa là nhiệt độ bể được phép lên xuống nhiều đến thế trong thời gian ngắn. Sức chịu đựng của cá phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ mà cá đã quen. Cá quen nước lạnh hơn sẽ chịu được mức tối thiểu thấp hơn so với cá quen nước ấm. Trong bể, cá sống khỏe nhất ở 22–26°C.
  • pH: cá thích nước hơi kiềm, pH lý tưởng là 7,0–8,0.
  • Độ cứng: cá sống được trong mọi loại nước nhưng thích GH 5–20.
  • Dòng chảy: không bắt buộc. Cá kiếm thích dòng chảy vừa phải, nhưng chỗ nào trong bể chúng cũng sống ổn.

Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến dáng cá trong giai đoạn đầu phát triển. Nuôi ở nhiệt độ cao, cá có đầu và thân cao hơn. Ở nhiệt độ thấp, cá có đầu nhọn, đuôi dài hơn và vây ngực nằm lệch về phía lưng, tạo thành thân hình thoi.3

Swordtail fish profile
©

Chăm sóc ra sao?

Cá kiếm không kén cách trang trí, nhưng chúng thường trông đẹp nhất trong bể trồng dày cây, nền màu tối. Các dòng hoang dã cũng hợp với bể bố trí giống một con suối, có đá cuội nhẵn do nước mài và vài tảng đá nhỏ.

Bạn có thể thả thêm ít cây nổi và vài gốc hoặc cành lũa cho ánh sáng vào bể dịu bớt. Cá có vẻ thích kiểu bố trí này, và bể cũng trông tự nhiên hơn.

Lọc không cần quá mạnh. Dù vậy, cá có vẻ thích nước trong bể có dòng chảy nhẹ.1

Cá kiếm sống tốt trong nhiều kiểu set bể khác nhau. Chúng dễ tính nên rất hợp với người mới. Màu sắc sặc sỡ của chúng cũng làm bể cộng đồng nào thêm bắt mắt. Bạn thả thêm cây giả hoặc cây thật thì cá sẽ có thêm chỗ trốn.2

Mỗi tuần bạn thay 20–25% nước. Tỷ lệ phù hợp có thể khác đi tùy loại lọc và các yếu tố khác của bể. Nước mới cho vào ít nhất phải được khử clo. Thuốc khử clo (ví dụ Seachem Prime) thì cửa hàng thú cưng nào cũng bán.

Về muối, một số người chơi khuyên cho 1–1,5 thìa cà phê muối thủy sinh cho mỗi 4,5 lít nước (để phòng bệnh, v.v.), nhưng đây không phải chuyện bắt buộc. Nếu dùng muối, mỗi lần thay nước bạn chỉ bù phần nước đã rút ra bằng nước có pha muối. Khi nước bay hơi, muối vẫn ở lại trong bể, nên lúc châm bù nước bay hơi thì không cần thêm muối.3

Cần thiết bị gì?

  • Ánh sáng: không đòi hỏi gì đặc biệt. Cá kiếm hoạt động ban ngày, nhịp sinh hoạt khớp theo chu kỳ sáng tối và giờ cho ăn. Bạn cứ chỉnh đèn theo nhu cầu của cây trong bể.
  • Nền: không đòi hỏi gì đặc biệt. Loại nền nào cũng dùng được, nhưng nền tối màu làm cá trông nổi bật hơn.
  • Cây và đồ trang trí: ngoài tự nhiên, nơi cá sống có rất nhiều cây cỏ. Cây cho cá chỗ trốn tốt, nhờ đó cá vui vẻ và hay bơi đùa. Bạn nên dựng lại khung cảnh đó trong bể. Cây nổi, cây giả, lũa, lá khô và đá nhỏ đều tạo thêm được chỗ trốn cho cá.
  • Bể cá bột: nên có bể riêng cho cá bột, dùng lọc mút xốp (sponge filter) và dòng chảy nhẹ.3
Swordtail male and female
©

Cho ăn gì?

Người ta đã mổ dạ dày cá hoang dã để xem chúng ăn gì. Kết quả cho thấy đây là loài ăn tạp, ăn đủ loại động vật không xương sống dưới nước lẫn trên cạn, mùn hữu cơ, tảo và các phần khác của thực vật.

Nuôi trong bể, cá kiếm không kén ăn, cho gì cũng ăn. Bạn nên cho ăn đa dạng, gồm thức ăn khô loại tốt và thêm thức ăn sống hoặc đông lạnh cỡ nhỏ như Daphnia, Artemia và ấu trùng muỗi lắc (trùng huyết).1

Cá kiếm ăn tạp và thích được ăn đa dạng. Tùy nhiệt độ nước, bạn có thể cần cho ăn 2-3 lần mỗi ngày. Nhiều loài cá nhiệt đới kiếm ăn rải rác suốt cả ngày, vì thế cho ăn ít bữa không phải cách hay. Cá kiếm ăn tốt phần lớn các loại cám viên nhỏ dành cho bể cộng đồng. Thỉnh thoảng bạn cho thêm thức ăn đông lạnh hoặc thức ăn sấy đông thì chúng cũng rất thích.2

Xiphophorus hellerii là loài ăn tạp, kiếm ăn vào ban ngày. Các nghiên cứu phân tích thức ăn trong dạ dày cho thấy cá ăn cả côn trùng trên cạn lẫn côn trùng dưới nước, kèm thực vật phù du và một ít tảo lớn. Cá con ăn nhiều động vật không xương sống dưới nước, động vật phù du và thực vật phù du hơn. Cá trưởng thành thì ăn nhiều thực vật hơn.

Trong bể, cá kiếm ăn được nhiều loại thức ăn như spirulina, artemia (Artemia salina), ấu trùng artemia, bo bo, ruồi giấm và cyclops.

Người ta đã thử cho cá ăn thức ăn có các mức Spirulina khác nhau (0, 1, 3, 5 và 8%). Kết quả cho thấy mức Spirulina càng cao thì tốc độ lớn, chiều dài thân trung bình và khối lượng cá càng tăng. Nhóm cá ăn mức 8% phát triển tốt hơn các nhóm ăn mức thấp hơn. Spirulina chứa 60–70% protein theo khối lượng. Đây là nguồn vitamin B12 và beta-carotene giàu nhất, đồng thời giàu axit béo thiết yếu và khoáng chất. Trong spirulina có các axit amin thiết yếu (62%) như isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine. Các thí nghiệm khác cho thấy khẩu phần ít protein (20% và 30%) cho tốc độ tăng trưởng riêng thấp nhất so với khẩu phần 40% và 60%. Giữa mức 40% và 60% thì không có khác biệt đáng kể.

Cải thiện màu sắc

Carotenoid là sắc tố tự nhiên tan trong chất béo, chủ yếu do thực vật tổng hợp, kể cả thực vật phù du và tảo. Chúng tạo ra các sắc vàng, cam và đỏ. Cá không tự tổng hợp được carotenoid mà phải lấy từ thức ăn. Vì thế bạn nên chọn thức ăn có chất lên màu như astaxanthin, ví dụ copepod Bắc Cực hoặc TetraColor®.

Tần suất và lượng thức ăn

Cho cá trưởng thành ăn hai lần một ngày, còn cá bột ăn 3 lần một ngày. Cá bột ăn nhiều và lớn rất nhanh. Hãy theo "quy tắc năm phút", tức là cá phải ăn hết thức ăn trong vòng 3–5 phút.

Cây thủy sinh

Cá kiếm hoàn toàn không phá cây. Chúng không ăn cây sống khỏe mạnh.3

Nuôi chung với con gì?

Khi nuôi trong không gian chật, một nhóm cá đực thường tự phân ngôi thứ với nhau. Chúng có thể dành khá nhiều thời gian chỉ để giữ chỗ đứng của mình trong đàn.1

Cá kiếm sống theo nhóm thì khỏe nhất, vì vậy mỗi bể nên có ít nhất 4-5 con. Bạn có thể nuôi lẫn nhiều dòng với nhau. Vài loài có thể nuôi chung là cá neon, cá chạch coolie hoặc cá chuột Corydoras.

Cá kiếm đực có thể chiếm lãnh thổ và trở nên hung hăng với cá khác. Cá kiếm tuy nhỏ con nhưng bạn vẫn phải chừa đủ rộng chỗ cho cả đàn.2

Tính xã hội

Cá kiếm là loài thích sống theo đàn và nuôi được trong bể cộng đồng cùng các loài hiền khác. Nên nuôi theo nhóm ít nhất 3–4 con, tốt nhất là 3–4 con cái cho mỗi con đực. Sống theo nhóm thì cá được thể hiện tập tính tự nhiên, bớt stress và khỏe hơn.

Tính khí

Nhìn chung cá kiếm hiền, nhưng chúng có thể cắn vây cá khác, bất kể cá đó to hay nhỏ. Các con đực có thể khá hung hăng với nhau, nhất là khi có con cái và khi nuôi theo nhóm nhỏ. Chúng phân thứ bậc trên dưới và tranh nhau quyền tiếp cận con cái. Một trận tranh đấu thường kéo dài hơn một tiếng. Bạn có thể nhận ra con thắng và con thua qua hành vi và ngoại hình:

  • Con thua thường sẫm màu hơn, có thể nổi sọc dọc, cụp vây, chúc đầu xuống và lảng ra rìa bể.
  • Con thắng thường xòe vây, không sẫm màu, không có sọc dọc và bơi lượn khắp bể.

Người ta thường khuyên chỉ nuôi một con đực với vài con cái. Nếu nuôi nhiều con đực thì bể phải rộng và có nhiều chỗ trốn để giảm đánh nhau. Cá đực bị thiếu ăn từ nhỏ sẽ chịu hậu quả lâu dài. Những con này thường lép vế trước đối thủ cùng cỡ.

Hoạt động và vị trí trong bể

Cá kiếm bơi lội rất năng động, nên không hợp nuôi chung với những loài quá điềm tĩnh hoặc quá nhỏ. Những loài này có thể bị hoảng vì cá kiếm hay lao đi đột ngột. Cá kiếm ở tầng trên và tầng giữa của bể, thỉnh thoảng mới xuống đáy.

  • Sống theo đàn: có
  • Mức hoạt động: vừa phải
  • Hiền: có
  • Hay cắn vây: có
  • Hay nhảy: có

Cá nuôi chung

Cá kiếm sống chung được với nhiều loài cá hiền có nhu cầu nước tương tự. Tuy vậy chúng có thể sinh tật cắn vây, nhất là với cá vây dài như Betta. Một số loài bạn có thể cân nhắc là cá platy, cá neon, cá Endler, cá chuột lùn, cá ngựa vằn, cá bảy màu, cá tam giác, cá chạch xích lùn, cá thủy tinh ma, cá molly, v.v.

Tép cảnh nhỏ thì không nên nuôi chung. Cá kiếm to hơn tép nhiều và có thể ăn tép. Tép con và tép đang lột vỏ là mồi rất dễ ăn. Nếu vẫn muốn nuôi chung, bạn cần bố trí thật nhiều chỗ trốn và che chắn như trồng cây dày, đặt lũa và hang.

Ốc nước ngọt nhìn chung nuôi chung được. Ốc còn giữ bể sạch nhờ ăn thức ăn thừa và rêu tảo.

Tránh nuôi cá kiếm chung với cá lớn, cá hung dữ hoặc cá quá náo động. Cũng đừng thả chung với bất kỳ loại tôm hùm đất nào và với hầu hết các loại cua nước ngọt.3

©

Phân biệt đực cái thế nào?

Một nét đặc biệt của dòng "Golden Stream" là con đực vẫn giữ được tính đa hình tự nhiên. Cùng một lứa có thể ra những con đực nhỏ, thậm chí bé xíu, thường lên màu rất đẹp. Cùng lứa đó cũng có những con đực to vạm vỡ, nặng gần gấp đôi mấy con nhỏ kia. Hai dạng này gọi là đực trưởng thành sớm và đực trưởng thành muộn. Lúc đầu, quần thể cá kiếm nào cũng có cả hai dạng. Ở các dòng đã thuần hóa thì người nhân giống thường loại bỏ những con đực nhỏ trưởng thành sớm, nên chỉ còn lại đực to trưởng thành muộn.

Con đực thường có các sọc dọc sẫm màu ở vùng vai.4

Cá đực trưởng thành thường nhỏ hơn cá cái và có gonopodium (vây sinh dục) lộ rõ. Thùy dưới vây đuôi của cá đực kéo dài thành cây kiếm đặc trưng. Tuy vậy, ở một số dòng cá cảnh, thùy trên vây đuôi hoặc các vây khác cũng có thể kéo dài, kể cả ở cá cái.1

Cá đực có "thanh kiếm" đặc trưng ở mép dưới vây đuôi, và vây hậu môn của chúng nhọn. Cá cái có mép đuôi tròn, vây hậu môn hình quạt và thân thường dày hơn. Lúc cá còn nhỏ, con đực chưa mọc kiếm dài, bạn có thể nhìn vây hậu môn để phân biệt đực cái. Một số dòng có vây lưng, vây ngực và vây đuôi dài hơn bình thường.2

Xiphophorus hellerii có dị hình giới tính, nên phân biệt con đực và con cái trưởng thành rất dễ.

  • Kích thước: con cái to hơn con đực.
  • Bụng: con cái bụng tròn, còn con đực thon gọn.
  • Gonopodium: vây hậu môn của con đực biến đổi thành một cơ quan gọi là gonopodium. Con đực dùng nó khi giao phối để đưa tinh trùng vào con cái. Cá cái thụ tinh trong và trữ được tinh trùng.3

Sinh sản ra sao?

Cá kiếm thuộc họ cá đẻ con Poeciliidae. Giống như các loài khác trong họ, cá đực Xiphophorus có gonopodium, thực chất là vây hậu môn đã biến đổi, dùng để thụ tinh trong cho cá cái.

Tập tính sinh sản của Xiphophorus đã được nghiên cứu kỹ. Cá cái chọn bạn tình dựa trên nhiều đặc điểm ngoại hình và hành vi, như độ dài cây kiếm (dài, ngắn hay không có kiếm), kiểu màu, kích cỡ cơ thể, các vằn dọc trên thân, tín hiệu hóa học và một số kiểu tán tỉnh riêng. Có trường hợp cá cái còn thích những đặc điểm của cá đực loài khác. Cá đực thì vừa phải thu hút cá cái vừa phải đuổi đối thủ, còn một số con, gọi là 'sneakers',

Cá cái cũng giữ được tinh trùng còn sống của cá đực trong cơ thể suốt nhiều tháng,1

Cá kiếm là loài đẻ con và rất dễ sinh sôi quá mức trong bể. Cá cái có thể đã mang bầu từ lúc bạn mua về. Chỉ một con cái có bầu thôi cũng có thể khiến số cá trong bể tăng vọt bất ngờ.

Cá kiếm có thể trưởng thành sớm, chỉ từ 3 tháng tuổi. Mỗi lứa chúng đẻ tới 50 cá bột. Nếu không muốn có thêm cá bột, bạn hãy tách đực và cái ra trước khi chúng đến tuổi sinh sản.

Sau vài thế hệ, bạn có thể thấy cá bột chết nhiều hơn hoặc cá sống ngắn hơn. Thủ phạm là cận huyết. Cách khắc phục tốt nhất là bổ sung nguồn gen mới, bằng cách mua thêm cá mới hoặc đổi cá với người chơi khác. Nếu không rõ tiền sử sức khỏe của cá mới, bạn nên cách ly chúng trước khi thả vào bể.2

Cá kiếm rất dễ sinh sản, người mới chơi cũng làm được. Đây là loài đẻ con. Con cái đẻ ra cá bột đã hoàn chỉnh và bơi được ngay chứ không đẻ trứng. Chỉ cần đủ thức ăn và giữ nhiệt độ phù hợp là cá cứ thế sinh sản.

Trưởng thành

Cá thành thục sinh dục khi dài 2,5–3 cm, vào khoảng 10–12 tuần tuổi.

Chuyện con đực "sớm" và con đực "muộn" là đề tài người chơi tranh cãi từ lâu. Có người cho rằng con đực muộn bị vô sinh. Người khác lại cho rằng đó là do điều kiện bất lợi như nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, nước chua, v.v. Tuy vậy, cả khoa học lẫn thực tế đều cho thấy con đực sớm mang nhiều gen đực hơn. Cho con đực sớm phối giống thì đàn con ra nhiều con đực hơn, còn dùng con đực muộn thì đàn con ra nhiều con cái hơn.

Cá kiếm còn có hiện tượng cá cái chuyển thành cá đực. Một số con cái trưởng thành, kể cả những con đã đẻ nhiều lứa, có thể hóa thành con đực, và vây của chúng cũng trở nên giống vây con đực. Hiện tượng này thường do thông số nước thay đổi đột ngột, làm rối loạn nội tiết. Dù vậy, một số người chơi tin rằng nó xảy ra khi bể không đủ con đực. Những con này không thể thụ tinh, cũng không mang cá bột được.

Giao phối

Cá kiếm không sống theo cặp một vợ một chồng mà hoàn toàn đa phối. Con đực tán tỉnh và giao phối với cả con cái cùng loài lẫn con cái của các loài poeciliid khác, nên dễ sinh ra con lai. Thí nghiệm cho thấy con cái chuộng con đực to, có "thanh kiếm" dài và nổi bật. Một quy tắc dễ áp dụng là giữ tỷ lệ đực cái 1:4 trong bể sinh sản. Như vậy con đực không dồn đuổi riết một con cái, và vốn gen của đàn cá bột cũng đủ đa dạng.

Thụ tinh

Cá kiếm thụ tinh trong, tức là con đực đưa tinh trùng vào cơ thể con cái. Một phần tinh trùng có thể nằm lại trong các nếp gấp của ống dẫn trứng để thụ tinh cho những trứng chín sau này. Nhờ vậy con cái vẫn đẻ tiếp được mà không cần con đực. Theo một nghiên cứu, chỉ sau một lần giao phối, con cái có thể đẻ tới 9 lứa liên tiếp, vì nguồn tinh trùng còn sống có thể duy trì tới 2 năm.

Mang thai

Phôi phát triển trong 26 đến 63 ngày, tùy nhiệt độ. Ở 24–26°C, cá thường mang thai 26–30 ngày. Số cá bột cũng tăng giảm theo nhiệt độ. Trung bình, cứ nước ấm thêm một độ thì mỗi lứa có thêm 3 cá bột.

  • Số cá bột trung bình cao nhất ở 29°C.
  • Dưới 15°C, có ghi nhận cho thấy cá ngừng đẻ.
  • Dưới 18°C hoặc trên 30°C, cá đẻ chậm lại rõ rệt.

Trong điều kiện tốt nhất, tất cả con cái trưởng thành đều đang mang phôi ở những giai đoạn phát triển khác nhau.

Khả năng sinh sản

Cá kiếm đẻ rất sai. Đã có ghi nhận một con cái đẻ tới 242 cá bột. Cá cái non thường đẻ ít (20–50 con), còn cá cái đã đẻ nhiều lứa thì đẻ nhiều hơn (100–150 con). Tuy vậy, cá bột của cá cái lớn tuổi nhỏ hơn đáng kể.

Cá bột

Giữ cho cá bột sống sót có lẽ là khâu quan trọng nhất khi cho cá sinh sản. Khi thấy cá cái sắp đẻ, tốt nhất nên chuyển nó vào hộp đẻ. Cá bột sinh ra sẽ rơi xuống và lọt qua khe ở đáy hộp. Cá bố mẹ thường ăn luôn cá bột của chính mình, vì cá bột khá to và có màu sáng, nên hao hụt có thể rất lớn. Ngoài tự nhiên, cá kiếm hiếm khi thấy con mình vì dòng nước cuốn cá bột đi ngay. Vì vậy, cá bột vừa ra đời thì nên tách khỏi cá mẹ và các cá khác để không bị ăn.

Nên có bể riêng cho cá bột, dùng lọc mút xốp (sponge filter) và dòng chảy nhẹ. Cho cá bột ăn thức ăn chất lượng cao (luân trùng, giun vi, artemia, cyclops, trùn chỉ đen cắt nhỏ, v.v.) 3 lần mỗi ngày và thay nước thường xuyên. Cá bột lớn rất nhanh. Đến tháng thứ 2, vây hậu môn của con đực bắt đầu biến đổi, và sang tháng thứ 3 thì "thanh kiếm" bắt đầu mọc.3

The species green swordtail (Xiphophorus hellerii; IPA pronounciation for Latin: [ksɪ'foːfɔrʊs hɛleːrɪɪ]).
©

Phân bố tự nhiên

Sống tự nhiên ở: Mexico, Guatemala, Belize, Honduras1

Sông, hồ, vùng: Río Nautla, Rio Usumacinta, Río Sarstún, Copán, Chamelecón1

Nguồn ghi gì
  • Mexico, Guatemala, Belize, Honduras · Seriously Fish1: “Native to southeastern Mexico, central Guatemala, southern Belize, and northwestern Honduras.”
  • Río Nautla, Rio Usumacinta, Río Sarstún, Copán, Chamelecón · Seriously Fish1: “Its known range extends south from the Río Nautla (alternatively referred to as the Río Filobobos) in central Veracruz state, Mexico, to the Rio Usumacinta drainage in Guatemala, the Río Sarstún (aka Sarstoon) at the border between Guatemala and Belize, and the ríos Copán and Chamelecón in Honduras.”

GBIF có 2.956 ghi nhận ngoài tự nhiên: 1.397 trong các nước trên, 1.559 ở nơi khác (nhiều nhất: Úc 883, Réunion 162, Hoa Kỳ 111, Puerto Rico 61, Brazil 57). Ghi nhận ở nơi khác có thể là cá do người thả ra, hoặc nhận nhầm loài.

  • Ghi nhận trong các nước bản địa
  • Ô có cả hai
  • Ghi nhận ở nơi khác
  • Nước bản địa
  • Mỗi ô khoảng 780 km.

Dữ liệu: GBIF.org, 2.956 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-05 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Dòng cá kiếm xanh khá lạ này có nguồn gốc từ vùng quanh khu bảo tồn Golden Stream ở Belize. Khu bảo tồn rộng khoảng 61 km² và là nơi sống của rất nhiều loài quý hiếm, đang bị đe dọa.4

Cá kiếm xanh có nguồn gốc từ đông nam Mexico, miền trung Guatemala, miền nam Belize và tây bắc Honduras. Vùng phân bố đã biết bắt đầu từ sông Río Nautla (còn gọi là Río Filobobos) ở miền trung bang Veracruz, Mexico, rồi kéo xuống phía nam đến lưu vực sông Rio Usumacinta ở Guatemala, sông Río Sarstún (còn gọi là Sarstoon) trên biên giới Guatemala và Belize, và các sông Copán, Chamelecón ở Honduras.

Trong phạm vi đó, loài này còn sống ở nhiều hệ thống sông thuộc các bang Campeche, Chiapas, Oaxaca, Quintana Roo và Tabasco của Mexico.

Nơi thu mẫu chuẩn là 'Orizaba, Mexico', tức thành phố cùng tên ở bang Veracruz.

Con người đã đưa loài này đi khắp nơi, sang các lưu vực sông khác ở Mexico lẫn nhiều nước trên thế giới. Giờ đây nó có mặt ở mọi châu lục lớn, chỉ trừ Nam Cực. Các quốc gia và vùng lãnh thổ đã có quần thể sống hoang ngoài tự nhiên gồm Panama, Colombia, Brazil, Peru, Jamaica, Puerto Rico, Martinique, Bahamas, Hoa Kỳ, Hawaii, Áo, Cộng hòa Séc, Hungary, Israel, Iran, Cộng hòa Dân chủ Congo, Namibia, Nam Phi, Zimbabwe, Zambia, Madagascar, Réunion, Ấn Độ, Sri Lanka, Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Indonesia, Guam, Papua New Guinea, Úc, New Caledonia và Fiji.1

Cá kiếm có nguồn gốc từ Mexico và Trung Mỹ. Người ta đã nuôi và nhân giống chúng trong bể qua vô số thế hệ. Trên thị trường có nhiều dòng phổ biến, từ cá kiếm xanh mang màu tự nhiên đến các dòng neon, pineapple, painted, marigold wag, red wag và hi-fin lyretail.2

Cá kiếm vốn được xem là loài bản địa của Belize, Guatemala, Honduras và Mexico. Tuy vậy, hiện nay loài này đã có mặt ở hơn 35 quốc gia trên thế giới.

Một số nơi cá đã du nhập và lập được quần thể ổn định là miền nam Florida, California, khu vực hồ Mead thuộc Arizona và Nevada, Hawaii, Canada, Puerto Rico, châu Phi, Sri Lanka, Úc, Guam, Fiji, Cộng hòa Séc, Hungary, Đức, Ý, Vương quốc Anh, Ba Lan, Israel, Hồng Kông, Ai Cập, Syria, Jordan và thậm chí cả Iran.

Một phần nguyên nhân là do người chơi cá thả cá ra ao hồ, sông suối ở địa phương. Cá kiếm không bị coi là loài "gây hại" vì quá được ưa chuộng làm cá cảnh, nhưng loài này vẫn có tên trong các cơ sở dữ liệu về loài xâm lấn. Bất kỳ loài ngoại lai nào cũng có thể làm thay đổi hệ sinh thái, khiến loài bản địa biến mất và gây thiệt hại kinh tế lớn.3

Môi trường tự nhiên

Ngoài tự nhiên, cá kiếm sống ở đủ kiểu môi trường, từ ngang mực nước biển lên đến độ cao khoảng 1500 m. Có thể gặp chúng ở suối đá nước chảy xiết, suối nguồn, mương, ao và sông, nước từ trong đến đục. Phần lớn những nơi này sâu chưa tới 1,5 m và không có cây thủy sinh.

Ở chỗ nước chảy, cá trưởng thành hay tụ lại nơi dòng mạnh hơn. Cá con và cá sắp trưởng thành thì thích những góc ven bờ nước lặng.

Các quần thể du nhập có thể sống ở suối nguồn, suối, sông, kênh, mương, vũng nước, hồ chứa nhân tạo và nhiều môi trường khác. Loài này cũng chịu được nước ô nhiễm ở một mức nhất định. Ở những nơi ngoài vùng phân bố gốc mà X. hellerii sinh sôi đông đúc, người ta cho rằng nó gây ra nhiều tác hại cho các loài bản địa và hệ sinh thái.1

Xiphophorus hellerii là loài dễ thích nghi, sống tốt ở rất nhiều kiểu môi trường. Chúng có mặt từ những con suối, con sông chảy xiết và nhiều cây cỏ cho đến những mạch nước chảy chậm cùng dòng nước thoát ra từ đó.

Cá còn sống ở kênh nhiều cỏ, ao và các vùng nước khác như khe suối đá, mương và đầm phá hở với đủ loại nền đáy.

Điều kiện nước mỗi nơi một khác, nhưng cá vẫn thích nghi được với nước trong, nước đục hay nước bùn, thậm chí sống sót cả ở những nơi ô nhiễm nặng. Nhờ dễ tính như vậy, cá kiếm chiếm được rất nhiều môi trường nước khác nhau.

Cá kiếm phổ biến nhất ở nước ngọt, nhưng đôi khi cũng có ghi nhận chúng ở nước lợ (độ mặn đến 15 ppt). Độ mặn này nằm ngoài môi trường cá ưa thích, nhưng cá kiếm vẫn chịu được trong một thời gian.3

Xiphophorus Hellerii, Swordtail, wagtail (female)
©

Ghi chú

"Golden Stream" là một dạng cá kiếm hoang dã tuyệt đẹp. Dòng này rất đáng nuôi với người muốn tìm hiểu hành vi và di truyền của cá. Còn nếu bạn chỉ đơn giản thích ngắm cá đẹp thì chọn nó cũng không sai.4

Đây là một trong những loài cá cảnh dễ nhận ra nhất thế giới, và tiệm cá nào cũng có. Dù vậy, tên của nó vẫn hay bị viết sai thành X. helleri (chỉ một chữ i, trong khi cách viết đúng là X. hellerii), cả trong tài liệu khoa học lẫn sách báo của người chơi cá.

Nhờ chọn giống, người ta đã tạo ra vô số dòng cá cảnh. Các dòng này thường có màu sắc, và nhiều khi cả hình dạng vây, mà cá hoang dã không hề có. Một số dòng là kết quả của việc con người lai cá kiếm với các loài khác cùng giống, nhất là X. maculatus và X. variatus.

Các loài Xiphophorus phân bố tự nhiên khắp sườn Đại Tây Dương của Mexico và một phần Trung Mỹ giáp đó. Tuy vậy, một số loài đã bị đưa sang và lập quần thể ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác. Trong tiếng Anh, người ta thường gọi chúng là 'platyfishes' và 'swordtails'. Nhóm cá này quan trọng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học, gồm hành vi, di truyền và y sinh (trong đó có nghiên cứu về nguyên nhân và di truyền của bệnh ung thư).

Giống Xiphophorus chia thành ba nhánh chính theo phát sinh loài và địa lý. Nhánh thứ nhất là cá platy (platyfishes), sống khắp miền đông Mexico và Trung Mỹ. Nhánh thứ hai là cá kiếm phương bắc, chỉ có ở lưu vực sông Río Pánuco và Río Tuxpan trong dãy Sierra Madre Oriental, đông bắc Mexico. Nhánh thứ ba là cá kiếm phương nam, sống ở miền nam Mexico và bắc Trung Mỹ.

Quan hệ giữa các loài trong từng nhánh cũng đã được nghiên cứu sâu. X. hellerii thuộc nhánh cá kiếm phương nam,1

Từ nguyên

Tên chi Xiphophorus bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp 'xiphos' nghĩa là 'kiếm' và 'pherein' nghĩa là 'mang', ám chỉ vây đuôi kéo dài của con đực. Có tài liệu ghi tên loài hellerii đặt để vinh danh Arnold Edward Ortmann. Nhiều khả năng đây là nhầm lẫn, vì tên này vinh danh nhà tự nhiên học Carl Bartholomäus Heller.

Các vấn đề sức khỏe

Cá kiếm nhìn chung khỏe, nhưng vẫn dễ nhiễm bệnh do động vật nguyên sinh (Trichodina), sán lá đơn chủ (Dactylogyrus và Gyrodactylidae) và nấm (Saprolegnia). Để phòng bệnh, bạn nên nuôi cá mới mua về trong một thùng riêng 10–14 ngày rồi mới thả vào bể chính. Muốn tránh nấm thì cần giữ bể sạch, đừng để chất thải và thức ăn thừa tích tụ. Thức ăn sống nên mua ở cửa hàng chuyên và xả dưới vòi nước chảy trước khi cho cá ăn.

Triệu chứng thường gặp là cá lờ đờ, bỏ ăn, nổi lên mặt nước hoặc chìm xuống đáy, và vây bị tổn thương (vây có thể rách hoặc dính lại với nhau). Nếu cá có những dấu hiệu này, hãy cách ly nó sang thùng riêng để bệnh không lây lan. Cách chữa được khuyên dùng là tắm formalin nồng độ 250 ppm, mỗi ngày 1 giờ, trong năm ngày liền.3

Nguồn

4 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com
  2. The Spruce Pets thesprucepets.com
  3. Aquarium Breeder aquariumbreeder.com
  4. Aquarium Glaser aquariumglaser.de

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Heckel, J. J. (1848). Eine neue Gattung von Poecilien mit rochenartigem Anklammerungs-Organe. Sitzungsberichte der Kaiserlichen Akademie der Wissenschaften. Mathematisch-Naturwissenschaftliche Classe v. 1 (pts 1-5), 289-303
  • Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27, 1-663
  • Page, L. M. and B. M. Burr (2011). Peterson Field Guide to Freshwater Fishes of North America North of Mexico (Second Edition). Houghton Mifflin Harcourt, 1-688
  • Larson, H. K., R. S. Williams and M. P. Hammer (2013). An annotated checklist of the fishes of the Northern Territory, Australia. Zootaxa 3696(1), 1-293
  • Eskmaeili, H. R. , B. W. Coad and A. Gholamifard, N. Nazari, A. Teimory (2010). Annotated checklist of the freshwater fishes of Iran. Zoosystematica Rossica 19(2), 361-386
  • Matamoros, W. A., J. F. Schaefer and B. R. Kreiser (2009). Annotated checklist of the freshwater fishes of continental and insular Honduras. Zootaxa 2307, 1-38
  • Miller, R. R. (2005). Freshwater fishes of México. University of Chicago Press, xxvi + 1-490
  • Rosen, D. E. (1960). Middle-American poeciliid fishes of the genus Xiphophorus. Bulletin of the Florida State Museum Biological Sciences 5(4), 57-242
  • Rosenthal, G. G, and F. J. García de León (2006). Sexual Behavior, Genes, and Evolution in Xiphophorus. Zebrafish 3(1), 85-90
  • Kazianis, S. (2006). Historical, Present, and Future Use of Xiphophorus Fishes for Research. Zebrafish 3(1), 9-10
  • McLennan, D. A. and M. J. Ryan (2008). Female swordtails, Xiphophorus continens, prefer the scent of heterospecific males. Animal Behaviour 75, 1731-1737
  • Kang, J. H., M. Schartl, R. B. Walter, and A. Meyer (2013). Comprehensive phylogenetic analysis of all species of swordtails and platies (Pisces: Genus Xiphophorus) uncovers a hybrid origin of a swordtail fish, Xiphophorus monticolus, and demonstrates that the sexually selected sword originated in the ancestral lineage of the genus, but was lost again secondarily. BMC Evolutionary Biology, 25
  • Kallman, K. D. and Steven Kazianis (2006). The genus Xiphophorus in Mexico and Central America. Zebrafish 3(3), 271-285
  • Cui, R., M. Schumer, K. Kruesi, R. Walter, P. Andolfatto, and G. G. Rosenthal (2013). Phylogenomics reveals extensive reticulate evolution in Xiphophorus fishes. Evolution 67(8), 2166-2179
  • Earley, R. L. and L. A. Dugatkin (2006). Merging social hierarchies: Effects on dominance rank in male green swordtail fish (Xiphophorus helleri). Behavioural Processes 73(3), 290-298
  • Franck, D., B. Klamroth, A. Taebel-Hellwig, and M. Schartl (1998). Home ranges and satellite tactics of male green swordtails (Xiphophorus helleri) in nature. Behavioural Processes 43(2), 115-123
  • Jones, J. C., S. Fan, P. Franchini, M. Schartl, and A. Meyer (2013). The evolutionary history of Xiphophorus fish and their sexually selected sword: a genome‐wide approach using restriction site‐associated DNA sequencing. Molecular Ecology 22(11), 2986-3001
  • Kallman, K. D., R. B. Walter, D. C. Morizot, and S. Kazianis (2004). Two new species of Xiphophorus (Poeciliidae) from the Isthmus of Tehuantepec, Oaxaca, Mexico, with a discussion of the distribution of the X. clemenciae clade. American Museum Novitates 3441, 1-34
  • Basolo, A. L. (1990). Female preference for male sword length in the green swordtail, Xiphophorus helleri (Pisces: Poeciliidae). Animal Behaviour 40(2), 332-338
  • Rauchenberger, M., K. D. Kallman, and D. C. Morizot (1990). Monophyly and geography of the Río Pánuco Basin swordtails (genus Xiphophorus) with descriptions of four new species. American Museum Novitates 2975, 1-41
  • Meyer, A., W. Salzburger, and M. Schartl (2006). Hybrid origin of a swordtail species (Teleostei: Xiphophorus clemenciae) driven by sexual selection. Molecular Ecology 15(3), 721-7301
  • Maddern, M. G., H. S. Gill, and D. L. Morgan. “Biology and invasive potential of the introduced swordtail Xiphophorus hellerii Heckel (Poeciliidae) in Western Australia.” Aquatic Conservation: Marine and Freshwater Ecosystems 21, no. 3 (2011): 282-291.
  • Rosenthal, Gil G., and Christopher S. Evans. “Female preference for swords in Xiphophorus helleri reflects a bias for large apparent size.” Proceedings of the National Academy of Sciences 95, no. 8 (1998): 4431-4436.
  • Basolo, Alexandra L. “Female preference for male sword length in the green swordtail, Xiphophorus helleri (Pisces: Poeciliidae).” Animal Behaviour 40, no. 2 (1990): 332-338.
  • Tamaru, Clyde S., Brian Cole, Rich Bailey, Christopher Brown, and Harry Ako. A manual for commercial production of the swordtail, Xiphophorus helleri. Center for Tropical and Subtropical Aquaculture, 2001.
  • James, Raja, Kunchitham Sampath, Ramasamy Thangarathinam, and Iyyadurai Vasudevan. “Effect of dietary Spirulina level on growth, fertility, coloration and leucocyte count in red swordtail, Xiphophorus helleri.” Israeli Journal of Aquaculture-Bamidgeh 58 (2006).
  • Chong, Alexander SC, Saraitul Dahlianis Ishak, Zulfaizuddin Osman, and Roshada Hashim. “Effect of dietary protein level on the reproductive performance of female swordtails Xiphophorus helleri (Poeciliidae).” Aquaculture 234, no. 1-4 (2004): 381-392.
  • Benson, Kari E., and Alexandra L. Basolo. “Male–male competition and the sword in male swordtails, Xiphophorus helleri.” Animal Behaviour 71, no. 1 (2006): 129-134.
  • Rashidian, Ghasem, Simona Rainis, Marko D. Prokić, and Caterina Faggio. “Effects of different levels of carotenoids and light sources on swordtail fish (Xiphophorus helleri) growth, survival rate and reproductive parameters.” Natural Product Research 35, no. 21 (2021): 3675-3686.
  • Tuckett, Quenton M., Jared L. Ritch, Katelyn M. Lawson, Larry L. Lawson, and Jeffrey E. Hill. “Variation in cold tolerance in escaped and farmed non-native green swordtails (Xiphophorus hellerii) revealed by laboratory trials and field introductions.” Biological invasions 18 (2016): 45-56.
  • Royle, Nick J., Jan Lindström, and Neil B. Metcalfe. “A poor start in life negatively affects dominance status in adulthood independent of body size in green swordtails Xiphophorus helleri.” Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences 272, no. 1575 (2005): 1917-1922.
  • Beaugrand, Jacques P., and René Zayan. “An experimental model of aggressive dominance in Xiphophorus Helleri (pisces, poeciliidae).” Behavioural Processes 10, no. 1-2 (1985): 1-52.
  • KALLMAN, KLAUS & Walter, Ronald & MORIZOT, DONALD & KAZIANIS, STEVEN. (2009). Two New Species of Xiphophorus (Poeciliidae) from the Isthmus of Tehuantepec, Oaxaca, Mexico, with a Discussion of the Distribution of the X. clemenciae Clade. American Museum Novitates. 3441. 1-34. 10.1206/0003-0082(2004)441<0001:TNSOXP>2.0.CO;2.
  • First confirmed record of an established population of green swordtail (Xiphophorus hellerii Heckel, 1848) in Europe. Pencho Pandakov, Zhivko Barzov, Radoslav Moldovanski and Helena Huđek. Manag. Aquat. Ecosyst., 422 (2021) 31.
  • H. Hieronimus, Guppies, Mollies, and Platies, Complete Pet Owners Manual Series, Barron’s, 20093

Chuẩn bị để nuôi Cá kiếm xanh

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Bài viết nhắc đến loài này

Có trong video hướng dẫn

Video

  • 55 gallon Xiphophorus hellerii planted aquarium4:22, EN

  • Red Tuxedo Swordtails (Xiphophorus Hellerii) 20 Gallon (75 Liter) Aquarium3:01, EN

  • How to Keep Happy, Healthy Swordtails - Swordtail Fish Care and Breeding Guide6:14, EN

  • Swordtail Fish Care Guide | Xiphophorus hellerii – Tank Size, Food, Breeding & Fry0:19, EN-US