Đơn vị
Giao diện

Characidae, Brazil

Cá neon xanh

Paracheirodon innesi

Tên khác: Cá neon, Neon tetra, Neon fish, Cá neon thường, Cá neon xanh dương

Nhiệt độ
21–25°C
pH
4–7,5
Bể tối thiểu
60 cm
Độ khóCác nguồn ghi khác nhau
Dễ

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
21–25°C
pH
4–7,5
Tuổi thọ
5–10 năm
Độ khóCác nguồn ghi khác nhau
Dễ 2/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianDễbể từ 60 cm, cá dài 3 cm
  • NướcDễpH 4–7,5, 1–12 dGH
  • Nhiệt độVừanước mát · 21–25°C
  • Tính cáchDễhiền
  • Bầy đànVừađàn từ 6 con

Độ khó 2/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ

Mỗi nguồn ghi một mức

  • The Spruce Pets: 20–26°C
  • Seriously Fish: 21–25°C
pH

Mỗi nguồn ghi một mức

  • The Spruce Pets: 5–7
  • Seriously Fish: 4–7,5
Độ cứng (dGH)

Mỗi nguồn ghi một mức

  • The Spruce Pets: 1–10
  • Seriously Fish: 1–12
Kích thước

Mỗi nguồn ghi một mức

  • The Spruce Pets: 4 cm
  • Seriously Fish: 3 cm
Tuổi thọ
  • The Spruce Pets
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó

Mỗi nguồn ghi một mức

  • The Spruce Pets: 4
  • Seriously Fish: 2

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ The Spruce Pets, Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-01.

Thông tin nhanh

Cá neon xanh, Paracheirodon innesi, là một loài characid nhỏ ở lưu vực Amazon, thuộc Colombia, Brazil và Peru. Ngoài tự nhiên, chúng sống trong các suối rừng có nước mang tính axit. Dòng cá cảnh đã qua nhiều năm nhân giống thương mại nên yếu đi, cá dị tật và cá bệnh gặp rất nhiều. Vì vậy bạn cần chọn cá thật kỹ. Cá neon còn dễ mắc 'bệnh neon tetra', một bệnh do vi bào tử trùng (microsporidia) gây ra. Khi bệnh đã nặng thì gần như không chữa được.2

Có nên mua không?

Khi chọn mua ở cửa hàng, hãy chọn những con bơi khỏe và có màu sắc đậm, vì màu nhạt có thể là dấu hiệu sức khỏe kém.

Cá neon nhìn chung đều là cá sinh sản nhân tạo, phần lớn đến từ các trại cá ở vùng Viễn Đông và Đông Âu. Hiện có nhiều dòng cá nuôi nhân tạo. Chúng gồm neon vây dài (khá hiếm), dòng vàng (gần như là dạng bán bạch tạng), và neon kim cương với các vảy ánh kim như rắc dọc phần trên thân. Có một dòng chỉ có sọc xanh mà không có màu đỏ.1

Cần bể bao lớn?

Bạn nên dùng bể có đáy từ 60 × 30 cm trở lên (khoảng 54 lít).2

Nước cần thế nào?

Nước nuôi cá neon nên mềm và có tính axit, nghĩa là pH không quá 7,0 và độ cứng không quá 10 dGH. Chất chiết xuất nước đen hoặc lũa thường được dùng để làm tối nước, duy trì pH axit và làm mềm nước.1

  • Nhiệt độ: 21–25°C
  • pH: 4,0–7,5
  • Độ cứng: 1–12 dGH2
Neon tetra fish with aqua blue stripe and red tail closeup
©

Chăm sóc ra sao?

Bể mới thiết lập không phù hợp với cá neon vì chúng không chịu được những biến động xảy ra trong giai đoạn khởi động ban đầu. Chỉ thả cá neon khi bể đã hoàn toàn trưởng thành và có thông số nước ổn định.1

Nếu mua được cá khỏe (xem phần 'Ghi chú') thì nuôi loài này ít gặp rắc rối. Bể trông đẹp nhất có lẽ là kiểu nền cát, thêm vài khúc rễ và cành lũa.

Rải thêm lá khô sẽ làm bể trông tự nhiên hơn nữa. Lá khô cho cá thêm chỗ núp, và khi lá mục dần thì vi sinh vật sẽ mọc thành từng đám trên đó.

Đám vi sinh này là nguồn thức ăn phụ rất có giá trị cho cá bột. Chất humic tiết ra từ lá mục cũng được cho là tốt cho cá. Nón cây alder cũng có tác dụng tương tự.

Bạn không cần dùng than bùn tự nhiên. Khai thác than bùn vừa không bền vững vừa phá hoại môi trường.

Loài này có vẻ sống tốt nhất dưới ánh sáng khá yếu. Bạn vẫn có thể trồng những cây chịu được điều kiện đó như Microsorum, Taxiphyllum hoặc Cryptocoryne. Cá cũng thích có cây nổi như Ceratopteris.

Phần lớn cá bán ngoài thị trường là cá nhân giống thương mại, nên dễ thích nghi hơn cá hoang dã.2

Cho ăn gì?

Trong tự nhiên, cá neon là loài ăn tạp, ăn cả thực vật lẫn động vật, gồm côn trùng, giun và giáp xác nhỏ. Thức ăn dạng mảnh nhỏ, hạt nhỏ, Artemia hoặc daphnia (bo bo) sống hay đông lạnh, và trùng huyết đông lạnh hoặc sấy đông khô đều là lựa chọn tốt. Hãy cho ăn đa dạng, gồm cả thức ăn sống, để cá khỏe mạnh.

Nên cho cá neon ăn hai đến bốn lần mỗi ngày và chỉ cho lượng thức ăn chúng ăn hết trong hai phút. Cho ăn quá nhiều có thể làm cá bụng phình rõ rệt, chán ăn và táo bón. Hãy vớt hết thức ăn thừa khỏi bể vì thức ăn thừa có thể làm amoniac tăng cao, gây nguy hiểm cho cá neon.1

Ngoài tự nhiên, loài này nhiều khả năng ăn tạp. Chúng ăn động vật không xương sống nhỏ, giáp xác, tảo sợi, trái cây rụng và những thứ tương tự.

Trong bể, cá có thể sống được chỉ với thức ăn khô. Nhưng cũng như hầu hết các loài cá, chúng khỏe nhất khi được ăn đa dạng. Thực đơn nên có cả trùng huyết (ấu trùng muỗi lắc) sống và đông lạnh, lăng quăng, bo bo (Daphnia), Moina và các loại tương tự.2

Nuôi chung với con gì?

Cá neon là loài hiền lành, hòa thuận với hầu hết các loài cá trong bể cộng đồng. Luôn nuôi cá neon thành đàn từ nửa tá con trở lên vì chúng là loài cá đàn cần có đồng loại bên cạnh. Cá neon sống tốt trong bể cộng đồng miễn là các loài khác không to con hoặc hung dữ. Các loài cá nhỏ hiền lành như cá rasbora, các loài tetra nhỏ, cá sặc lùn, cá chuột corydoras và các loài cá da trơn nhỏ khác là bạn cùng bể phù hợp. Tránh các loài tetra lớn hơn vì chúng sẽ ăn cá neon ngay khi có cơ hội. Quy tắc chung là nếu miệng của con cá nào há đủ rộng để nuốt được cá neon thì sớm muộn nó cũng sẽ làm vậy.

Giống như các loài cá nhiều màu khác, màu sắc rực rỡ của cá neon sẽ nhạt đi vào ban đêm khi chúng nghỉ ngơi, khi bị hoảng sợ hoặc khi bị bệnh.1

Đây là loài nhìn chung hiền lành. Vì vậy chúng rất hợp với bể cộng đồng mà các loài nuôi chung đã được tìm hiểu và chọn kỹ.

Bạn nên nuôi chung chúng với các loài characid cùng cỡ, cá rìu (gasteropelecid), lebiasinid, các loài cá da trơn họ callichthyid hoặc loricariid cỡ nhỏ hơn, và cichlid cỡ nhỏ đến vừa không ăn thịt.

Bạn nên mua một đàn có cả đực lẫn cái, ít nhất 8–10 con. Thả thêm vài loài cá bơi đàn khác để cá thấy an toàn hơn. Khi đó đàn cá sẽ bơi tự nhiên và đẹp mắt hơn hẳn.2

Phân biệt đực cái thế nào?

Sự khác biệt giới tính ở cá neon không quá rõ rệt. Nhìn chung, cá cái có bụng to và tròn hơn cá đực. Bụng tròn này thậm chí có thể khiến sọc xanh của cá cái trông cong, trái với sọc xanh rất thẳng ở cá đực.1

Cá cái trưởng thành thường có bụng tròn hơn thấy rõ và lớn hơn cá đực một chút.2

Selectively-bred 'diamond' strain.
©

Sinh sản ra sao?

Cá neon khá khó cho sinh sản vì chúng đòi hỏi điều kiện nước rất khắt khe. Nếu muốn thử, bạn cần set một bể đẻ riêng. Nước trong bể đẻ phải thật mềm, độ cứng chỉ 1 đến 2 dGH, pH từ 5,0 đến 6,0. Bể đẻ dùng lọc vi sinh (lọc bông mút) và trồng cây thật. Cá lúc đẻ hay nhảy, vì vậy bể phải có nắp đậy. Bạn dán giấy tối màu quanh các mặt kính để bể bớt sáng. Nhiệt độ nước giữ trong khoảng 22 đến 24 °C. Cứ vài tuần bạn lại có thể cho neon đẻ một lần.

Trước khi chuyển cặp cá bố mẹ sang bể đẻ, bạn cho chúng ăn thức ăn sống để vỗ béo. Ngày đầu thả cá vào, bạn để bể tối hoàn toàn, không bật đèn. Sang hôm sau thì tăng ánh sáng lên một chút, rồi cứ tăng dần từng chút như vậy để kích cá đẻ. Neon thường đẻ vào buổi sáng. Khi đẻ, con đực ôm lấy con cái và con cái nhả ra hơn 100 trứng. Trứng neon trong suốt, hơi dính nên sẽ bám vào cây. Cá bố mẹ ăn trứng rất nhanh. Vì vậy, đẻ xong là bạn phải vớt chúng ra ngay.

Cả trứng lẫn cá bột đều sợ ánh sáng, nên bạn tiếp tục để đèn yếu. Khoảng 24 giờ sau thì trứng nở. Cá bột mới nở rất nhỏ và sống nhờ túi noãn hoàng trong vài ngày đầu. Tỷ lệ nở không cao. Bạn đừng kỳ vọng quá một phần ba số trứng nở ra cá bột sống được. Sau ba đến bốn ngày, cá bột bắt đầu bơi tự do. Lúc này bạn phải cho chúng ăn thức ăn thật nhỏ như trùng cỏ, trùng bánh xe (rotifer), lòng đỏ trứng luộc chín hoặc thức ăn cá bột làm sẵn. Vài tuần sau, cá đủ lớn để ăn Artemia mới nở. Qua tháng đầu tiên, cá con sẽ lên màu giống cá trưởng thành.1

Muốn nuôi được kha khá cá bột thì bạn cần set một bể đẻ riêng. Bể này nên để rất tối và có vài búi cây lá nhỏ như rêu java hoặc búi sợi đẻ (spawning mop) để cá có chỗ đẻ trứng.

Bạn cũng có thể lót đáy bể bằng một tấm lưới. Mắt lưới phải đủ to để trứng lọt xuống, nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không chui qua ăn trứng được.

Nước nên mềm và có tính axit, pH 5,5–6,5, GH 1–5, nhiệt độ khoảng 26,5–29°C.

Về lọc, bạn chỉ cần một lọc bông (lọc vi sinh) nhỏ chạy bằng máy sủi, sủi thật nhẹ.

Bạn có thể cho cá đẻ theo đàn, mỗi giới khoảng nửa tá con là vừa. Nếu vỗ béo cá bố mẹ bằng nhiều thức ăn sống cỡ nhỏ thì cá thường đẻ không mấy khó khăn.

Khi thấy trứng, bạn có thể vớt cá bố mẹ ra. Nếu bể trồng cây rất dày thì có thể để cá bố mẹ lại, thấy cá bột con nào thì hút con đó ra.

Muốn được nhiều cá bột nhất thì nên cho đẻ theo cặp. Với cách này, bạn vỗ cá đực và cá cái thành hai nhóm riêng, ở hai bể khác nhau hoặc trong cùng một bể có vách ngăn.

Khi cá cái đã căng trứng thấy rõ và cá đực lên màu đẹp nhất, bạn chọn con cái mập nhất và con đực màu đẹp nhất, rồi chuyển sang bể đẻ vào buổi tối.

Thường thì sáng hôm sau cá sẽ đẻ. Nếu qua vài ngày mà vẫn chưa có trứng, bạn vớt cặp đó ra và thử cặp khác.

Dù đẻ theo đàn hay theo cặp, cá bố mẹ cũng sẽ ăn trứng nếu có dịp. Vì vậy bạn phải vớt chúng ra ngay khi thấy trứng. Trứng nở sau 24–36 giờ. Khoảng 3–4 ngày sau đó, cá bột bắt đầu bơi tự do.

Vài ngày đầu, bạn cho cá bột ăn các loại thức ăn cỡ trùng cỏ. Khi cá đủ lớn thì chuyển sang giun microworm hoặc Artemia mới nở.

Giai đoạn đầu, trứng và cá bột rất sợ ánh sáng. Nếu được thì bạn nên giữ bể trong tối.2

Phân bố tự nhiên

Sống tự nhiên ở: Colombia, Brazil, Peru, Ecuador2

Sông, hồ, vùng: Amazon, Orinoco, Putumayo, Purus, Ucayali21

Nguồn ghi gì
  • Colombia, Brazil, Peru, Amazon · Seriously Fish2: “The neon tetra, Paracheirodon innesi, is a small characid from the Amazon basin in Colombia, Brazil and Peru, found in acidic forest streams.”
  • Ecuador, Ucayali · Seriously Fish2: “These records include occurrences in Jenaro Herrera District, Requena province (Río Ucayali drainage) and the Río Marañon in Peru, rio Japurá (known as the Río Caquetá in Colombia) in Colombia and Brazil, rio Javary (aka Yavarí) in Brazil, plus the ríos Curaray and Mazán (both tributary drainages of the Río Napo in Ecuador and Peru, respectively).”
  • Orinoco · The Spruce Pets1: “Neon tetras originated from the clear water and blackwater streams and tributaries in the Orinoco and Amazon river basins in Brazil, Columbia, and Peru.”
  • Putumayo · Seriously Fish2: “Here P. innesi is known from the lower rio Putumayo (aka Içá) and some small streams flowing into the rio Solimões downstream of Leticia.”
  • Purus · Seriously Fish2: “The second cluster of populations occur several hundred kilometers to the east in the area around Codajás in Amazonas state, Brazil, plus the rio Purus, a tributary of the Amazon with its mouth located downstream of Codajás.”

GBIF có 39 ghi nhận ngoài tự nhiên: 27 trong các nước trên, 12 ở nơi khác (nhiều nhất: Venezuela 12). Ghi nhận ở nơi khác có thể là cá do người thả ra, hoặc nhận nhầm loài.

  • Ghi nhận trong các nước bản địa
  • Ghi nhận ở nơi khác
  • Nước bản địa
  • Mỗi ô khoảng 160 km.

Dữ liệu: GBIF.org, 39 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-04 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Cá neon có nguồn gốc từ các con suối và nhánh sông nước trong và nước đen thuộc lưu vực sông Orinoco và Amazon ở Brazil, Colombia và Peru. Cá neon sống thành đàn chủ yếu ở tầng nước giữa.1

Địa điểm mẫu chuẩn ban đầu được ghi là 'gần Iquitos', tức thành phố Iquitos nằm giữa rừng mưa vùng Loreto, Peru. Thực ra các mẫu vật này lấy từ một lô cá nhập về làm cảnh. Đến nay người ta vẫn chưa biết rõ loài này phân bố rộng đến đâu.

Các ghi nhận đã được xác nhận cho thấy loài này có mặt ở vài khu vực nằm cách xa nhau. Khu vực thứ nhất là vùng quanh Leticia (Colombia) và Tabatinga (Brazil), thường gọi là 'Três Fronteiras'.

Ở đây, P. innesi được ghi nhận ở hạ lưu sông Putumayo (còn gọi là Içá) và ở một số suối nhỏ đổ vào sông Solimões, phía hạ lưu Leticia.

Cụm quần thể thứ hai nằm cách đó vài trăm km về phía đông, quanh Codajás thuộc bang Amazonas, Brazil. Cụm này còn gồm sông Purus, một nhánh của Amazon có cửa sông nằm ở hạ lưu Codajás.

Tuy vậy, người ta còn báo cáo thêm một số quần thể khác. Như Weitzman và Fink (1983) đã nêu, loài này có thể phân bố rộng ở tây Brazil, đông Peru và đông nam Colombia.

Các ghi nhận này gồm huyện Jenaro Herrera, tỉnh Requena (lưu vực Río Ucayali) và Río Marañon ở Peru, sông Japurá (ở Colombia gọi là Río Caquetá) ở Colombia và Brazil, sông Javary (còn gọi là Yavarí) ở Brazil. Ngoài ra còn có sông Curaray và sông Mazán, là các nhánh thuộc lưu vực Río Napo, lần lượt ở Ecuador và Peru.2

Môi trường tự nhiên

Đây là những vùng nước đen nằm dưới tán rừng rậm, nơi rất ít ánh sáng xuyên qua được. Trong môi trường tự nhiên, cá neon sống ở những vùng nước tối có nhiều thực vật và rễ cây. Điều quan trọng là tạo môi trường có nhiều chỗ ẩn nấp ít sáng. Hãy cho cá nhiều cây, kể cả cây nổi nếu có thể. Lũa cũng tạo chỗ ẩn nấp. Nền tối sẽ mô phỏng môi trường tự nhiên nơi cá neon cảm thấy thoải mái nhất. Một số người chơi dán phông tối ở ba mặt bể để tạo môi trường ít sáng như mong muốn.1

Loài này chủ yếu sống ở suối rừng và các nhánh sông nhỏ, ít khi ở các dòng chính nước đục (nước trắng).

Nước ở đây thường có tính axit, KH và độ dẫn điện gần như bằng không. Nước có màu nâu do chất humic tiết ra từ xác hữu cơ đang phân hủy. Dù vậy, người ta cũng từng bắt được loài này ở những nơi tương tự nhưng nước trong, không nhuốm màu.

Đáy thường phủ đầy cành cây gãy, rễ cây và lá rụng. Ở một số nơi còn có cả cây thủy sinh.2

Ghi chú

The Spruce Pets ghi khác bảng dữ liệu: kích thước 4 cm (bảng: 3 cm).

Cá neon có thân thon hình ngư lôi, dài không quá khoảng 4 cm. Từ chóp mõm đến vây mỡ, cá neon có một sọc xanh neon sáng. Người ta cho rằng sọc sáng này giúp chúng dễ nhìn thấy nhau hơn trong điều kiện nước đen. Bên dưới sọc xanh, cá neon có phần bụng trắng bạc. Sau phần bụng, một sọc đỏ sáng kéo dài đến tận đuôi. Loài cá này chỉ có đối thủ cạnh tranh là cá neon vua, loài thường bị nhầm lẫn với nó. Điểm khác biệt chính giữa hai loài là sọc đỏ. Ở cá neon, sọc đỏ chỉ kéo dài từ giữa thân đến đuôi. Ở cá neon vua, sọc đỏ chạy suốt chiều dài thân cá, từ mõm đến đuôi.1

Đây là một trong những loài cá cảnh phổ biến nhất, ai nhìn cũng nhận ra ngay. Người ta đã lai chọn ra nhiều dòng khác nhau, gồm albino, 'vàng' (leucistic), thân ngắn, vây dài và 'kim cương' (mặt lưng phủ vảy phản quang).

Đáng tiếc là nhiều năm nhân giống thương mại đã làm sức sống di truyền của dòng cá cảnh yếu đi phần nào. Cá dị hình và cá bệnh gặp rất nhiều, nên bạn phải cẩn thận khi chọn cá.

Loài này còn dễ mắc một bệnh thường gọi là 'bệnh neon tetra' (NTD). Bệnh mang tên này vì lần đầu được chẩn đoán trên cá neon, nhưng thực ra nó có thể gặp ở nhiều loài khác.

Vì vậy, bạn nên bỏ chút thời gian ngắm cá ở cửa hàng. Có con nào bơi bồn chồn, có mảng trắng trên da hoặc tách khỏi đàn thì đó đều là dấu hiệu điển hình của bệnh. Gặp bể như vậy thì tốt nhất đừng mua con nào.

Thủ phạm gây NTD là một loài ký sinh trùng vi bào tử trùng tên Pleistophora hyphessobryconis. Khi bệnh đã nặng thì gần như không chữa được.

Bào tử (giai đoạn ấu trùng) của ký sinh trùng vào cơ thể cá qua đường miệng. Chúng đục qua thành ruột rồi trú lại trong cơ. Ở đó chúng tạo thành các nang làm mô cơ thoái hóa rất nhanh, sinh ra những mảng trắng đặc trưng.

Khi bệnh đã bùng phát, tỷ lệ chết có thể rất cao. Cách xử lý bể duy nhất là vớt bỏ hết những con có dấu hiệu nhiễm bệnh.

Có một bệnh thường gặp khác cũng cho triệu chứng tương tự, do vi khuẩn Flavobacterium columnare gây ra. Bệnh này hay được gọi là 'columnaris' hoặc 'bệnh neon tetra giả', và có thể chữa khỏi bằng thuốc kháng khuẩn. Vì vậy, thấy cá có triệu chứng NTD thì bạn vẫn nên cách ly và điều trị. Nếu thủ phạm là vi khuẩn thì có thể bạn sẽ cứu được cá.

Giống như mọi loài khác trong giống, một số cá hoang dã có vảy ánh kim màu vàng, số lượng vảy khác nhau tùy con. Những con này được bán dưới tên P. innesi 'platinum' hoặc 'gold'. Hiện tượng này xảy ra trong tự nhiên, nhưng người ta cho rằng nó do một loài ký sinh trùng gây ra, khiến guanine đọng trong vảy nhiều hơn.

Theo Weitzman và Fink (1983), có thể phân biệt P. innesi với hai loài cùng giống là P. axelrodi và P. simulans qua tổ hợp các đặc điểm sau. Xương tiền hàm trên có một hàng 5–7 răng, hiếm khi 8 răng, mỗi răng không quá 3 mấu (các răng phía trước đôi khi trông như xếp thành hai hàng). Xương hàm trên có 2–3 răng, mỗi răng không quá 3 mấu. Răng trên xương răng (dentary) cũng không quá 3 mấu mỗi chiếc. Nhánh dưới cung mang có 10–11 lược mang, thường là 11. Đường bên có 3–6 vảy có lỗ, thường là 4–5. Ở cá sống, sắc tố đỏ trên thân không lan ra phía trước gốc vây ngực.

Với người nuôi cá, những khác biệt nhỏ về màu sắc có lẽ hữu ích hơn. So với P. axelrodi, P. innesi có ít sắc tố đỏ trên thân hơn, sọc xanh bên hông hẹp hơn và không kéo dài về phía sau bằng, còn vạch trắng trên vây hậu môn thì rõ hơn.

So với P. simulans, sọc bên của P. innesi xanh dương hơn (P. simulans thì ngả xanh lục) và chỉ kéo đến vây mỡ (P. simulans kéo đến tận gốc vây đuôi). P. innesi cũng có nhiều sắc tố đỏ hơn ở hai bên thân và vệt trắng trên vây hậu môn rõ hơn.

Lịch sử phân loại của cả ba loài khá rắc rối. Các tác giả trước đây như Géry (1960, 1977) thường xếp chúng vào ba giống riêng, lần lượt là Hypessobrycon simulans, Cheirodon axelrodi và Paracheirodon innesi. Cách phân loại này chủ yếu dựa vào hình thái răng, theo hệ thống do Eigenmann (1915) đề xuất.

Một số tác giả khác như Madsen (1975) xếp cả P. axelrodi lẫn P. simulans vào giống Cheirodon. Van Ramshorst (1981) thì xếp luôn cả P. innesi vào Cheirodon.

Weitzman và Fink (1983) là những người đầu tiên đưa ra bằng chứng cho thấy Paracheirodon là một nhóm đơn ngành gồm cả ba loài. Bằng chứng gồm một số đặc điểm về xương và kiểu màu đặc trưng của chúng. Kiểu màu này gồm một sọc bên màu xanh dương hoặc xanh lam lục rất đậm, sắc tố đỏ dày đặc trên thân nhưng chỉ nằm ở phần dưới sọc bên, và một dải tế bào sắc tố nâu sẫm hoặc đen nằm bên dưới sọc bên, lấn lên về phía lưng.

Có vẻ người ta đã phát hiện một loài Paracheirodon thứ tư tại một địa điểm duy nhất trong hệ thống sông Purus. Dòng chính của sông Purus đổ vào Amazon ở phía thượng lưu sông Negro. Hiện chưa có thêm nhiều thông tin về loài này.

Quan hệ họ hàng gần của Paracheirodon trong họ Characidae đến nay vẫn chưa được xác nhận đầy đủ. Phần lớn các tác giả gần đây xếp nhóm này vào diện incertae sedis (chưa rõ vị trí).

Trong phân tích phát sinh loài bằng dữ liệu phân tử của Oliveira và cs. (2011), P. axelrodi có quan hệ gần nhất với một số loài Hyphessobrycon, cụ thể là H. eques và H. megalopterus, trong số các loài có mặt trong nghiên cứu.

Theo giả thuyết của Ikeda và Kohshima (2009), sọc bên xanh rực của Paracheirodon có thể đã tiến hóa để giúp cá né kẻ săn mồi. Giả thuyết này được công bố sau khi họ nghiên cứu cá trực tiếp ở các suối nước đen gần Requena, vùng Amazon thuộc Peru, và quan sát cá hoang dã trong bể ở nhiều điều kiện khác nhau.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng trong nước đen, màu sáng của sọc bên ở P. innesi khá khó thấy, trừ khi nhìn từ một góc hẹp, khoảng 30° phía trên đường chân trời. Sọc bên phản chiếu thành những hình ảnh sáng lên mặt dưới của mặt nước, và những ảnh phản chiếu này có thể làm kẻ săn mồi bị rối.

Phần lớn các loài characid có sọc dọc thân đều mang sọc bên màu sẫm, phía trên là một sọc sáng hơn. Ở Paracheirodon thì ngược lại, và đây có thể là một kiểu thích nghi để tạo ra những ảnh phản chiếu như vậy.

Cá cũng có thể đổi độ đậm nhạt của màu sắc ở một mức nhất định. Khi trời sáng, nền hoặc phông nhạt màu và nước trong, cá sẽ nhạt màu đi. Ban đêm, cá xỉn màu hơn và sọc bên chuyển sang màu tím. Đây cũng có thể là một cách để cá khó bị phát hiện hơn.2

Nguồn

2 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. The Spruce Pets thesprucepets.com
  2. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Ikeda, T. and S. Kohshima (2009). Why is the neon tetra so bright? Coloration for mirror-image projection to confuse predators? “Mirror-image decoy” hypothesis. Environmental Biology of Fishes 86, 427-441
  • Géry, J. (1977). Characoids of the World. T.F.H. Publications, Inc., 1-672
  • Oliveira, C. A., G. S. Avellino, K. T. Abe, T. C. Mariguela, R. C. Benine, G. Orti, R. P. Vari, and R. M. Corrêa e Castro (2011). Phylogenetic relationships within the speciose family Characidae (Teleostei: Ostariophysi: Characiformes) based on multilocus analysis and extensive ingroup sampling. BMC Evolutionary Biology 11(1), 275-300
  • Reis, R. E., S. O. Kullander and C. J. Ferraris, Jr. (eds) (2003). Check list of the freshwater fishes of South and Central America. CLOFFSCA. EDIPUCRS, Porto Alegre, i-xi + 1-729
  • Ortega, H. and R. P. Vari (1986). Annotated checklist of the freshwater fishes of Peru. Smithsonian Contributions to Zoology No. 437, iii + 1-25
  • Weitzman, S. H. and W. L. Fink (1983). Relationships of the neon tetras, a group of South American fishes (Teleostei, Characidae), with comments on the phylogeny of New World characiforms. Bulletin of the Museum of Comparative Zoology 150(6), 339-395
  • Michel, C., S. Messiaen and J-F Bernardet (2002). Muscle infections in imported neon tetra, Paracheirodon innesi Myers: limited occurrence of microsporidia and predominance of severe forms of columnaris disease caused by an Asian genomovar of Flavobacterium columnare. Journal of Fish Diseases 25, 253-2632

Chuẩn bị để nuôi Cá neon xanh

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Bài viết nhắc đến loài này

Có trong video hướng dẫn

Video

  • Paracheirodon innesi - Tetra néon bleu ✔3:31, FR

  • PECES tetra NEÓN · Paracheirodon innesi [ AGUA DULCE ]8:20, ES

  • Paracheirodon innesi. The world's most POPULAR tetra! (Leopard Aquatic C036C)0:57, EN

  • BREEDING Neon Tetras in Tubs - Over 100 Fry!19:57, EN