Đơn vị
Giao diện

Characidae, Brazil

Cá tetra chanh

Hyphessobrycon pulchripinnis

Tên khác: Cá tetra lemon, Lemon tetra

Nhiệt độ
20–28°C
pH
5–7,5
Bể tối thiểu
80 cm
Độ khó
Dễ

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
20–28°C
pH
5–7,5
Độ khó
Dễ 1/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianVừabể từ 80 cm, cá dài 4 cm
  • NướcDễpH 5–7,5, 1–12 dGH
  • Nhiệt độDễ20–28°C

Độ khó 1/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Aquarium Glaser: 22–28°C
  • Seriously Fish: 20–28°C
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Aquarium Glaser: 4,5 cm
  • Seriously Fish: 4 cm
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Aquarium Glaser: 1
  • Seriously Fish: 2

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Aquarium Glaser, Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-31.

Thông tin nhanh

  • Rất dễ nuôi, hợp với người mới chơi1

Cá tetra chanh (Hyphessobrycon pulchripinnis) là một loài characid ở miền trung Brazil. Phần lớn ghi nhận về loài này đến từ lưu vực sông Tapajós. Nhiều nước đã nhân giống cá tetra chanh để bán, nhưng dòng cá đang có trong giới chơi bể có nguồn gốc từ đâu thì vẫn còn nhiều nghi vấn. Người ta từng chụp ảnh được những con cá giống hệt ở hạ lưu sông Xingu. Trong khi đó, dạng 'orange red' (cam đỏ) có họ hàng gần ở Tapajós lại có thể không cùng loài.2

Cần bể bao lớn?

Chiều dài chuẩn 40 mm SL. Đáy bể 80 × 30 cm. Thể tích khoảng 72 lít.

Bể có đáy 80 × 30 cm hoặc tương đương là cỡ nhỏ nhất nên tính đến.2

Nước cần thế nào?

Aquarium Glaser ghi khác bảng dữ liệu: nhiệt độ 22–28°C (bảng: 20–28°C).

Nhiệt độ từ 22 đến 28 °C đều được. Nước nên mềm và hơi axit, dù điều này không bắt buộc. Trong nước như vậy, cá lên màu đẹp nhất.1

  • Nhiệt độ: 20–28°C
  • pH: 5,0–7,5
  • Độ cứng: 1–12 dGH2

Chăm sóc ra sao?

Dòng tetra chanh nào cũng rất dễ nuôi, người mới chơi cũng nuôi được. Cá nuôi theo đàn trong bể bày trí kỹ, có nhiều cấu trúc. Chẳng bao lâu sau, mỗi con sẽ tự chiếm cho mình một khoảng lãnh thổ nhỏ xíu.1

Có lẽ loài này đẹp nhất trong bể nền cát có thêm vài rễ và cành lũa, hoặc trong bể trồng cây dày.

Rải thêm lá khô sẽ làm bể trông tự nhiên hơn và cho cá thêm chỗ trốn. Khi lá phân hủy, các quần thể vi sinh vật cũng sẽ phát triển theo.

Các quần thể vi sinh này có ích vì chúng là nguồn thức ăn thêm cho cả cá lớn lẫn cá bột. Chất humic tiết ra từ lá mục cũng được xem là có lợi.2

Cho ăn gì?

Cá ăn được mọi loại thức ăn cá cảnh thông dụng.1

Có lẽ đây là loài ăn tạp. Ngoài tự nhiên, chúng ăn động vật không xương sống nhỏ, giáp xác, tảo sợi, trái cây rụng và những thứ tương tự.

Trong bể, cá có thể sống được chỉ với thức ăn khô. Nhưng giống phần lớn các loài cá khác, chúng khỏe đẹp nhất khi bạn cho ăn đa dạng. Với loài này, thực đơn nên có thêm ấu trùng muỗi lắc (trùng huyết) sống và đông lạnh, lăng quăng, Daphnia, Moina, v.v.2

Nuôi chung với con gì?

Loài này rất hiền nên rất hợp với một bể cộng đồng có tính toán kỹ.

Có lẽ hợp nhất là nuôi chung với các loài characid cùng cỡ, gasteropelecid, lebiasinid, các loài cá da trơn callichthyid hoặc loricariid cỡ nhỏ, và các loài cichlid cỡ nhỏ đến vừa không săn mồi.

Bạn cố gắng mua một đàn có cả đực lẫn cái, tối thiểu 8–10 con. Trong đàn, cá tạo ra thứ bậc tạm thời, và các con đực tranh nhau sự chú ý của con cái. Vì vậy nuôi đông thì cá có nhiều hành vi thú vị hơn và lên màu đẹp hơn.2

Hyphessobrycon cf pulchripinnis orange FS 3
©

Phân biệt đực cái thế nào?

Cá đực trưởng thành thường thon hơn (thân không cao bằng), nhỏ hơn một chút và màu đậm hơn cá cái. Khác biệt về màu rõ nhất ở vây lưng và vây hậu môn.2

Sinh sản ra sao?

Đây là loài đẻ trứng rải tự do và không chăm con.

Khi cá bố mẹ khỏe, chúng sẽ đẻ thường xuyên. Trong một bể đã ổn định lâu, bạn có thể thấy lác đác vài con cá bột xuất hiện mà không cần làm gì. Còn nếu muốn thu được nhiều cá con nhất thì cần làm bài bản hơn.

Đàn cá bố mẹ vẫn có thể nuôi vỗ chung với nhau. Song song đó, bạn set thêm một bể nhỏ hơn và đổ đầy nước lấy từ bể đã ổn định. Bể này nên để ánh sáng thật mờ. Đáy bể phủ một tấm lưới có mắt đủ lớn để trứng lọt xuống nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không với tới. Loại thảm nhựa kiểu 'cỏ' bán khắp nơi cũng dùng được và cho kết quả tốt, một lớp bi thủy tinh cũng vậy. Một cách khác là phủ phần lớn bể bằng cây lá nhỏ như rêu Taxiphyllum spp., hoặc dùng búi sợi cho cá đẻ (spawning mop). Cách này cũng cho kết quả khá ổn.

Nước nên có pH từ hơi chua đến trung tính. Nhiệt độ để gần mức cao của khoảng nhiệt nêu ở trên. Bạn nên gắn thêm lọc bọt biển chạy bằng máy sủi hoặc một vài cục sủi để cấp oxy và tạo dòng nước.

Khi cá bố mẹ đã vỗ tốt, bạn thả vào mỗi bể đẻ một cặp, hoặc một nhóm gồm một hai con đực và vài con cái. Cứ để cá ở đó cho đến khi thấy trứng, thường là vào sáng hôm sau.

Thức ăn đầu tiên cho cá bột nên là trùng cỏ Paramecium, hoặc thức ăn khô chuyên dụng có hạt đủ nhỏ (5–50 micron). Khi cá bột lớn đủ để ăn được thì cho thêm Artemia mới nở, giun vi sinh (microworm), v.v.2

Phân bố tự nhiên

Sống tự nhiên ở: Brazil1

Sông, hồ, vùng: Tapajós, Xingu, Tocantins, Amazon12

Nguồn ghi gì
  • Brazil · Aquarium Glaser1: “Wild catches of H. pulchripinnis from the Rio Cuiaba in the state of Mato Grosso (Brazil) have recently been received.”
  • Tapajós · Aquarium Glaser1: “Wild catches were hardly ever made and it was not until 1980 that Gery discovered that the home of the lemon tetra is in the lower Amazon basin, more precisely in the middle and lower Tapajós between Itaituba and Jacare Acanga, as well as in streams that flow into the Rio Curua do Sol.”
  • Xingu, Tocantins · Aquarium Glaser1: “Other authors also mention the Xingu and the Tocantins.”
  • Amazon · Seriously Fish2: “This species' distribution is somewhat confusing. The type locality is vague (see below), and the majority of subsequent reports pertain to the rio Tapajós basins in central Brazil, one of the primary affluents of the lower Amazon River basin.”

GBIF có 53 ghi nhận ngoài tự nhiên: 52 trong các nước trên, 1 ở nơi khác (nhiều nhất: Hoa Kỳ 1). Ghi nhận ở nơi khác có thể là cá do người thả ra, hoặc nhận nhầm loài.

  • Ghi nhận trong các nước bản địa
  • Ghi nhận ở nơi khác
  • Nước bản địa
  • Mỗi ô khoảng 160 km.

Dữ liệu: GBIF.org, 53 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-05 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Loài này được mô tả từ năm 1937, nhưng phải đến năm 1980 người ta mới biết nó sống ở đâu ngoài tự nhiên. Lần mô tả đầu tiên dựa trên cá nhập về cho dân chơi bể cá. Không ai rõ số cá này từ đâu tới, giấy tờ chỉ ghi chung chung là "có lẽ từ Amazonas". Cho loài này sinh sản không hề dễ. Các cặp ghép ngẫu nhiên thường không chịu đẻ, còn cá cái thì phải cho đẻ đều đặn để trứng vẫn thụ tinh được, v.v. Dù vậy, gần như chẳng ai đi bắt cá hoang dã. Mãi đến năm 1980, Gery mới phát hiện quê nhà của cá tetra chanh nằm ở hạ lưu lưu vực Amazon. Cụ thể, chúng sống ở vùng trung và hạ lưu sông Tapajós, đoạn giữa Itaituba và Jacare Acanga, và ở các con suối đổ vào Rio Curua do Sol. Một số tác giả khác còn nhắc đến sông Xingu và sông Tocantins.

Gần đây có cá H. pulchripinnis hoang dã bắt từ Rio Cuiaba, bang Mato Grosso (Brazil), được đưa về. Chuyện này cực kỳ hiếm.1

Phân bố của loài này khá rối. Địa điểm mẫu chuẩn (type locality) không rõ ràng (xem bên dưới). Phần lớn các báo cáo sau này đều ở lưu vực sông Tapajós, miền trung Brazil. Đây là một trong những phụ lưu chính của hạ lưu sông Amazon. Vì vậy người ta thường cho rằng loài này đặc hữu của lưu vực Tapajós. Tuy nhiên, có ít nhất một quan sát thực địa cho thấy nó cũng sống ở hệ thống sông Xingu, nằm giáp Tapajós về phía đông. Cũng có ý kiến cho rằng có thể loài này hoàn toàn không có ở Tapajós (xem phần 'Ghi chú').

Dù vậy, hầu hết ghi nhận vẫn nằm ở trung và hạ lưu Tapajós thuộc bang Pará, trong khoảng giữa hai đô thị Belterra và Jacareacanga. Khu vực này nằm phía dưới chỗ hai nhánh chính của Tapajós hợp lại, là sông Teles Pires (còn gọi là sông São Manuel) và sông Juruena. Còn có một báo cáo từ sông Kaiapá, một phụ lưu của Teles Pires, cách đó vài trăm km về phía thượng nguồn ở bang Mato Grosso. Trong hệ thống Xingu, loài này mới được ghi nhận ở đúng một igarapé (lạch nhỏ trong rừng) ở hạ lưu, gần đô thị Senador José Porfírio (tên cũ là Sousel/Souzel).

Địa điểm mẫu chuẩn không rõ vì loài này được mô tả từ cá nuôi trong bể. Nơi thu mẫu chỉ được ghi là 'locality reportedly Amazonas' (nghe nói là ở Amazonas).2

Môi trường tự nhiên

Ngoài tự nhiên, nước nơi chúng sống gần như lúc nào cũng đục vì đất sét hoặc các hạt lơ lửng khác.1

Nhiều khả năng loài này thích các phụ lưu nhỏ, sông nhỏ, hồ móng ngựa và rừng ngập nước hơn là dòng chính của sông lớn.2

Ghi chú

Cá mới bắt ngoài tự nhiên có màu đỏ rực, nhưng về bể thì thường bị nhạt màu đi. Nhiều loài cá khác cũng bị như vậy. Thủ phạm nhiều khả năng là nước bể quá sạch. Ngoài tự nhiên, nước gần như lúc nào cũng đục. Màu của cá do hormone điều khiển. Cá tiết ra các hormone này khi mắt nhận được kích thích như ánh sáng, bóng râm, độ đục của nước, màu nền, v.v. Vì thế phần lớn cá nuôi trong bể sáng, bày trí sơ sài đều rất nhạt màu. Có điều, cơ chế này không giải thích được vì sao đôi khi sau một thời gian cá lại lên màu rực rỡ.

Tetra "Muzel Red Cherry" là cá nhập từ Brazil, có lẽ được nhân giống ngay tại đó. Đa số con có màu đỏ tươi, nhưng một số con thân vàng, trông rất giống tetra chanh. Ở Muzel vàng, đốm vai hiện rất rõ. Ở Muzel đỏ, đốm này chỉ thấy mờ mờ. Cả hai màu Muzel đều có toàn bộ vây đỏ tươi. Đây là điểm phân biệt chúng với tetra chanh "thật", vốn cùng lắm chỉ có vây lưng và vây hậu môn hơi ngả cam. Vây đuôi của tetra chanh "thật" lúc nào cũng trong suốt, không màu. Tetra chanh "Bolivia Orange" cũng có vây đuôi như vậy.

Quanh H. pulchripinnis có cả một nhóm dạng khác nhau. 1. H. pulchripinnis "cổ điển", có mặt trong bể cá từ năm 1937 (vây đuôi không màu, vây lưng và vây hậu môn thường cũng không màu, mép trước vây hậu môn có một đường vàng và một đường đen, mép trước vây lưng cũng có màu đen). 2. Pulchripinnis "Tapajós", không có đường đen ở phần đầu vây hậu môn và vây lưng. Dạng này dường như không có trong giới chơi cá, hoặc có nhưng không ai phân biệt với tetra chanh thường. 3. "Bolivia Orange", có trong giới chơi cá từ khoảng năm 1980 (vây đuôi không màu, vây lưng và vây hậu môn đỏ tươi, vây hậu môn không có đường đen). 4. "Muzel Cherry Red", toàn bộ vây và thân đỏ tươi, vây hậu môn không có đường đen, có trong giới chơi cá từ khoảng năm 2021. 5. "Muzel Yellow", giống "Muzel Cherry Red" nhưng thân màu vàng cam.1

Đây là loài cá cảnh phổ biến, được nhân giống thương mại ở nhiều nước. Trên thị trường còn có dạng bạch tạng tạo ra bằng lai chọn lọc.

Vì cá trại bán rẻ nên hiếm ai thu bắt cá hoang dã. Dù vậy, nguồn gốc của dòng cá thương mại vẫn còn nhiều nghi vấn. Loài này từng được xem là đặc hữu của lưu vực sông Tapajós. Nhưng đầu thập niên 1990, người ta đã chụp được những con cá trông giống hệt dạng cá cảnh ngay trong môi trường tự nhiên ở hạ lưu sông Xingu. Ngoài ra, từ thập niên 1970 đến nay, người ta đã nhiều lần thu được ở lưu vực Tapajós một dạng cá rõ ràng có họ hàng gần. Géry (1980) đã định danh dạng này là H. pulchripinnis.

Trong giới chơi cá, dạng này được gọi là H. pulchripinnis 'orange red' (cam đỏ), hoặc bằng cái tên khá dễ gây hiểu lầm là 'orange Bolivia'. Chính vì nó từng được định danh là H. pulchripinnis nên mới có giả định rằng loài này có nguồn gốc ở Tapajós. Tuy vậy, hai dạng có thể không cùng loài, vì chúng khác nhau ở một số điểm về hoa văn màu và hình thái.

Cụ thể, dạng 'lemon' (chanh) trong giới chơi cá khác dạng 'orange red' (cam đỏ) ở mấy điểm. Màu nền của thân dạng chanh là vàng lục, còn dạng cam đỏ là vàng cam. Ở dạng chanh, các tia trước của vây lưng màu đen với chóp trắng sữa, và các tia trước của vây hậu môn phần lớn vàng nhạt. Ở dạng cam đỏ, các tia trước của cả vây lưng lẫn vây hậu môn đều đỏ cam và ngả đen về phía ngọn. Phần trên của mắt dạng chanh màu đỏ cam, trong khi mắt dạng cam đỏ gần như đỏ rực toàn bộ. Đốm vai mờ hiếm khi thấy ở dạng chanh, nhưng thường thấy ở dạng cam đỏ. Cuối cùng, cá đực dạng chanh không có vây lưng kéo dài, còn cá đực dạng cam đỏ thì có.

Về răng và các chỉ số đếm hình thái (meristic), hai dạng này rất giống nhau (Zarske, 2008)[12]. Vì vậy vẫn chưa rõ chúng có phải hai loài riêng hay không. Phân bố tự nhiên của từng dạng cũng còn bỏ ngỏ. Một số cá về trên thị trường cá cảnh còn trông như trung gian giữa hai dạng màu (xem ảnh kèm theo hồ sơ này). Vì thế, ở đây tất cả được gộp chung cho đến khi chuyện nhầm lẫn được làm rõ.

Géry (1977, xem bên dưới) đề xuất nhóm H. callistus gồm các loài có quan hệ gần trong chi, và H. pulchripinnis được xếp vào nhóm giả định này. Các thành viên trong nhóm đều có một đốm đen nổi bật trên vây lưng, bên dưới thường có vệt trắng hoặc vàng. Vì vậy, đôi khi người ta gọi chung chúng là 'flag tetras' (tetra cờ).

Trong nhóm nhân tạo này, H. pulchripinnis khác các loài còn lại ở đốm vây lưng tương đối nhỏ. Đốm này chỉ nằm trên hai tia trước và tạo thành một dải với đốm vàng ở chóp hai tia đó. Vây hậu môn có hoa văn tương tự ở vài tia trước, phía sau có viền đen.

Durbin lập Hyphessobrycon trong Eigenmann (1908) như một phân chi của Hemigrammus. Điểm khác với Hemigrammus là vây đuôi không có vảy.

Eigenmann (1918, 1921) đã xem xét lại nhóm này. Sau đó Géry (1977) chia ra các nhóm loài nhân tạo dựa trên hoa văn màu, ví dụ nhóm H. agulha, nhóm H. heterorhabdus, v.v. Các định nghĩa này đến nay vẫn được dùng rộng rãi. Tuy vậy, không thể coi chúng là những nhóm đơn ngành, và khái niệm của từng nhóm vẫn liên tục được định nghĩa lại.

Weitzman & Palmer (1997) đưa ra giả thuyết rằng trong chi có một nhóm đơn ngành, dựa trên hoa văn màu và hình thái vây của cá đực. Họ gọi nhóm này là 'rosy tetra clade'. Một trong những đặc điểm ủng hộ tính đơn ngành của nhóm là vệt đen nổi bật trên vây lưng. Một số tác giả coi nhóm này, cộng thêm các loài khác có hình thái tương tự, là Hyphessobrycon sensu stricto. Các loài còn lại được họ xếp vào một nhóm H. heterorhabdus mở rộng hơn rất nhiều.

Các tác giả khác lại đưa ra những quan điểm trái ngược, thường hẹp hơn, về chi và/hoặc các nhóm loài trong chi. Đến nay vẫn còn rất nhiều nhầm lẫn. Điều chắc chắn là Hyphessobrycon theo cách hiểu hiện nay là một dòng đa ngành (polyphyletic) chứa nhiều chi.

Quá trình tách chi đã bắt đầu. Malabarba và cs. (2012) đã công nhận lại chi Ectrepopterus Fowler, vốn trước đó bị coi là tên đồng nghĩa của Hyphessobrycon. Họ cũng phân tích quan hệ của chi này trong họ Characidae, dựa trên nền công trình trước đó của Mirande (2010). Điểm mới là lần đầu tiên một nghiên cứu kiểu này đưa vào loài chuẩn của chi là H. compressus. Kết quả cho thấy H. compressus gần với các đại diện nhóm 'rosy tetra' như H. eques, H. pulchripinnis và H. socolofi hơn là với các loài khác khi đó đang xếp trong chi, gồm Psalidodon anisitsi, H. bifasciatus, H. elachys, H. herbertaxelrodi và H. luetkeni.2

Nguồn

2 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Aquarium Glaser aquariumglaser.de
  2. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Ahl, E. (1937). Über einen neuen südamerikanischen Characiniden der Gattung Hyphessobrycon. Zoologischer Anzeiger 120(9/10), 235-236
  • Calcagnotto, D., S. A. Schaefer, and R. DeSalle (2005). Relationships among characiform fishes inferred from analysis of nuclear and mitochondrial gene sequences. Molecular Phylogenetics and Evolution 36(1), 135-153
  • Reis, R. E., S. O. Kullander and C. J. Ferraris, Jr. (eds) (2003). Check list of the freshwater fishes of South and Central America. CLOFFSCA. EDIPUCRS, Porto Alegre, i-xi + 1-729
  • Oliveira, C. A., G. S. Avellino, K. T. Abe, T. C. Mariguela, R. C. Benine, G. Orti, R. P. Vari, and R. M. Corrêa e Castro (2011). Phylogenetic relationships within the speciose family Characidae (Teleostei: Ostariophysi: Characiformes) based on multilocus analysis and extensive ingroup sampling. BMC Evolutionary Biology 11(1), 275-300
  • Géry, J. (1977). Characoids of the World. T.F.H. Publications, Inc., 1-672
  • Weitzman, S. H. and L. Palmer (1997). A new species of Hyphessobrycon (Teleostei: Characidae) from the Neblina region of Venezuela and Brazil, with comments on the putative `rosy tetra clade'. Ichthyological Exploration of Freshwaters 7(3), 209-242
  • Zarske, A. (2014). Zur Systematik einiger Blutsalmler oder "Rosy Tetras" (Teleostei: Ostariophysi: Characidae). Vertebrate Zoology 64(2), 139-167
  • Mirande, J. M. (2010). Phylogeny of the family Characidae (Teleostei: Characiformes): from characters to taxonomy. Neotropical Ichthyology 8(3), 385-568
  • Malabarba, L. R., V. A. Bertaco, F. R. Carvalho & T. O. Litz. (2012). Revalidation of the genus Ectrepopterus Fowler (Teleostei: Characiformes), with the redescription of its type species, E. uruguayensis. Zootaxa 3204, 47-60
  • Zarske, A. and J. Géry (1995). Zum Status der von E. Ahl aufgestellten Salmler-Taxa (Teleostei: Characidae). Mitteilungen aus dem Zoologischen Museum in Berlin 71(1), 103-120
  • Carvalho, T. P. and V. A. Bertaco (2006). Two new species of Hyphessobrycon (Teleostei: Characidae) from upper rio Tapajós basin on Chapada dos Parecis, Central Brazil. Neotropical Ichthyology 4(3), 301-308
  • Zarske, A. (2008). Variationen in orange und grüngeld - der Zitronensalmler. Aquaristik-Fachmagazin 203, 32-34
  • Camargo, M., T. Giarrizzo, and V. Isaac (2004). Review of the geographic distribution of fish fauna of the Xingu river basin, Brazil. Ecotropica 10, 123-1472

Chuẩn bị để nuôi Cá tetra chanh

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Bài viết nhắc đến loài này

Video

  • Lemon Tetra (hyphessobrycon pulchripinnis) - perfect beginner fish3:18, EN

  • School of lemon tetra (Hyphessobrycon pulchripinnis)4:46, EN

  • Haltungsbedingungen und Infos zu Zitronensalmler - Hyphessobrycon pulchripinnis| #Aquarium5:11, DE