Khám phá · đọc khoảng 5 phút
Bí ẩn về cá hổ nuôi cảnh (aquarium tiger barb)
Theo Seriously Fish

Người ta hay nói con hổ chẳng bao giờ mất vằn. Nhưng còn cái tên của nó thì sao?
Đây là loài hổ nào? Danh tính của cá hổ nuôi cảnh (aquarium tiger barb) vẫn còn nhiều dấu hỏi. © Mike McGeoghegan

Trong giới chơi cá, chuyện một loài cá bị gọi nhầm tên suốt nhiều năm rồi hóa ra là loài khác không hiếm. Ví dụ đáng chú ý là cá barb arulius (arulius barb). Nó mang tên Puntius arulius (Jerdon 1849) trong nhiều năm, nhưng nay đã được xác nhận là Dawkinsia tambraparniei (Silas 1954). Một ví dụ khác là cá chạch kuhli (kuhli loach). Người ta thường định danh nó là Pangio kuhlii (Valenciennes 1846), trong khi loài này có thể chưa từng xuất hiện trên thị trường cá cảnh.
Cá hổ nuôi cảnh quen thuộc mang tên 'Puntius tetrazona' trong hầu hết sách báo cá cảnh. Đây chắc chắn là một trong những loài dễ nhận ra nhất của thú chơi này. Cá hổ được ưa chuộng suốt nhiều thập kỷ. Cả dạng màu tự nhiên lẫn các dạng màu nhân tạo đều được nhân giống với số lượng rất lớn, còn cá bắt ngoài tự nhiên thì gần như chưa nghe ai nhắc tới.
Ít người biết rằng có tới năm loài cá hổ (tiger barb) được công nhận chính thức. Cả năm loài đều có kiểu màu na ná nhau, với 4 vạch đứng sẫm màu trên nền thân hơi vàng. Ngoài tự nhiên, chúng phân bố khắp Đông Dương và một số vùng thuộc quần đảo Đại Sunda. Chúng thường sống ở đầm lầy nước ngọt, suối và vùng ven các con sông lớn.
Trước đây nhóm cá này được gọi là 'nhóm Puntius tetrazona' và thường được xếp vào chi Systomus theo Rainboth (1996). Hiện nay chúng thuộc chi Puntigrus Kottelat 2013.
Điều thú vị là cá hổ 'nuôi cảnh' nhân giống thương mại dường như không khớp với loài nào đã được mô tả, nếu xét theo các đặc điểm dùng để định loài:
P. anchisporus bắt ngoài tự nhiên có vây bụng màu đỏ. © Michael Lo
Puntigrus anchisporus (Vaillant 1902): Đường bên hoàn chỉnh. Cuống đuôi có 14 vảy bao quanh. Hàng vảy dọc đường bên có 21-23+2 vảy. Vây lưng đen, viền ngoài đỏ. Vây bụng đỏ.
Phân bố: tây Borneo.
P. navjotsodhii. © Heok Hui Tan
Puntigrus navjotsodhii Tan 2012: Đường bên hoàn chỉnh. Hàng vảy dọc đường bên có 20-21 vảy. Vây lưng phần lớn màu đen, phần trước màu đỏ và viền ngoài đỏ. Vây bụng gần như đỏ hoàn toàn. Các vạch sẫm trên thân rộng, phủ tới 5 vảy.

Phân bố: trung Borneo.
P. partipentazona khá dễ nhận ra. © H-J Chen
Puntigrus partipentazona (Fowler 1934): Đường bên không hoàn chỉnh. Vây lưng phần lớn màu đen, phần trước màu đỏ và viền ngoài đỏ. Vây bụng có màu từ hơi đỏ đến hơi vàng. Vệt đen ở vây lưng là vệt duy nhất kéo dài xuống thân, phủ 3-4 hàng vảy, đôi khi bên dưới có thêm một đốm sẫm.

Phân bố: Đông Dương.
P. pulcher ngoài tự nhiên có vây bụng màu đen. © Zhou Hang
Puntigrus pulcher (Rendahl 1922): Đường bên không hoàn chỉnh. Cuống đuôi có 12 vảy bao quanh. Hàng vảy dọc đường bên có 19-21+2 vảy. Vây lưng đen hoàn toàn. Vây bụng đen hoàn toàn. Các vạch sẫm trên thân khá mảnh, phủ tới 1,5 vảy.

Phân bố: đông Borneo.
Cá thể P. tetrazona bắt ngoài tự nhiên ở Sumatra © Neil Woodward © N. Woodward

Puntigrus tetrazona (Bleeker 1855): Đường bên không hoàn chỉnh. Cuống đuôi có 12 vảy bao quanh. Hàng vảy dọc đường bên có 19-21+2 vảy. Vây lưng phần lớn màu đen, viền ngoài nhạt hơn. Vây bụng đen ở giữa, còn gốc và chóp vây trong suốt. Các vạch sẫm trên thân khá rộng, phủ tới 2,5 vảy.
Phân bố: Sumatra.
Cá thể lấy từ thị trường cá cảnh trong nghiên cứu của Collins và cs. (2012). © Rupert Collins © R. Collins
Cá hổ nuôi cảnh có những đặc điểm không khớp hẳn với loài nào ở trên. Đường bên của nó không hoàn chỉnh, vây lưng đen viền đỏ, còn vây bụng đỏ. Chuyện càng rối hơn vì một số dòng cá cảnh như dạng 'green' (xanh lục) và 'platinum' (bạch kim) có vây bụng đậm nhạt sắc đen khác nhau.
Nếu chỉ xét kiểu màu, cá nuôi cảnh có lẽ giống P. anchisporus nhất, vì cả hai đều có vây bụng đỏ đồng màu. Có điều P. anchisporus có đường bên hoàn chỉnh, còn cá nhân giống thương mại thì không.
Collins và cs. (2012) lưu ý rằng theo Kottelat (1993), P. tetrazona có 8-9 vảy đường bên có lỗ. Trong khi đó, các cá thể lấy từ thị trường cá cảnh mà nhóm này kiểm tra lại có 6-7 hoặc 10-13 vảy. Thêm nữa, hình minh họa P. tetrazona trong Kottelat (1993) cho thấy rõ một con cá có vây bụng gần như đen hoàn toàn, giống cá thể ngoài tự nhiên trong ảnh ở đây.
Kiểu màu và số vảy đường bên có lỗ là những đặc điểm chính để phân biệt các loài trong chi Puntigrus. Vì vậy, dường như không thể xác định cá nuôi cảnh là một đơn vị phân loại chưa được mô tả, là cá lai nhân tạo, hay đã qua nhân giống lâu đến mức không còn giống dạng tự nhiên.
Hiện nay nó vẫn được xếp vào P. tetrazona theo Collins và cs. (2012). Nhóm tác giả này kết luận rằng nên tạm giữ nó ở đó "trong thời điểm hiện tại". Còn với dân chơi cá, con hổ đang ẩn mình trong bể nhà mình thật ra là loài nào vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải.
Tài liệu tham khảo
Alfred, E. R., 1963. Some Colourful Fishes of the Genus Puntius Hamilton. Bulletin of the National Museum of Singapore 32: 135-142.
Bleeker, P. 1855. Nalezingen op de vischfauna van Sumatra. Visschen van Lahat en Sibogha. Natuurkundig Tijdschrift voor Nederlandsch Indië v. 9: 257-280
Collins, R., K. F. Armstrong, R. Meier, Y. Yi, S. D. J. Brown, R. H. Cruickshank, S, Keeling, C. Johnston, 2012 - Barcoding and Border Biosecurity: Identifying Cyprinid Fishes in the Aquarium Trade. PLoS ONE 7(1): e28381
Fowler, H. W. 1934. Zoological results of the third De Schauensee Siamese Expedition, Part V--Additional fishes. Proceedings of the Academy of Natural Sciences of Philadelphia v. 86: 335-352.
Kottelat, M., 1992. The identity of Barbus johorensis Duncker, 1904 (Teleostei: Cyprinidae). Raffles Bulletin of Zoology 40(2): 187-192.
Kottelat, M., 2013. The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27: 1-663
Kottelat, M. and H. H. Tan. 2011. Systomus xouthos, a new cyprinid fish from Borneo, and revalidation of Puntius pulcher (Teleostei: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 22(3): 209-214.
Pethiyagoda, R., M. Meegaskumbura and K. Maduwage. 2012. A synopsis of the South Asian fishes referred to Puntius (Pisces: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 23(1): 69-95.
Tan, H-H. 2012. Systomus navjotsodhii, a New Cyprinid Fish from Central Kalimantan, Borneo. Raffles Bulletin of Zoology Supplement 25: 285-289.
Vaillant, L. L. 1902. Résultats zoologiques de l'expédition scientifique Néerlandaise au Bornéo central. Poissons. Notes from the Leyden Museum v. 24 (note 1): 1-166





Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.