Chăm sóc · đọc khoảng 7 phút
Giải phẫu cơ thể cá
Theo The Spruce Pets

Nhiệt độ cơ thể
Theo định nghĩa, cá là động vật có xương sống máu lạnh, và gần như không có ngoại lệ. Thân nhiệt của cá vì thế luôn xấp xỉ nhiệt độ nước xung quanh. Thú sống dưới nước như cá voi hay chuột nước thì khác. Cũng như con người, chúng thường giữ thân nhiệt cao hơn nước xung quanh rất nhiều, kể cả khi nước lạnh đến mức một con thú bình thường không sống nổi. Nếu nước quá lạnh, hoặc con thú ngâm mình trong nước lạnh quá lâu khiến cơ thể điều hòa thân nhiệt không theo kịp, nó sẽ bị hạ thân nhiệt. Khi đó nhiệt độ lõi cơ thể tụt dần, tim đập chậm lại và cuối cùng con vật chết.
Cá cảnh nước ngọt cũng giống thú ở chỗ loài nào cũng chỉ sống được trong một khoảng nhiệt độ nhất định. Nhiệt độ bể lệch xa khỏi khoảng đó là cá chết, vì cá hoàn toàn không tự điều hòa được thân nhiệt. Mỗi loài cần một mức nhiệt riêng, tùy vào nhiệt độ vốn có của vùng nước quê nhà của chúng.

Cá thở như thế nào
Cá cảnh có xương sống (cột sống), giống con người và các loài thú khác. Cơ thể cá được xây theo cùng một sơ đồ cơ bản, với bộ xương và các cơ quan chính giống thú. Điều bất ngờ hơn là nhiều loài cá biết chăm con, có ý thức về gia đình, nhận ra được từng người cụ thể và thậm chí còn biểu lộ cảm xúc. Chúng ta vẫn còn nhiều điều chưa biết về cá cảnh. Có một điều chắc chắn là cá không phải đồ trang trí. Chúng là thú nuôi, và chúng xứng đáng được tôn trọng, được chăm sóc tử tế.
Cá cũng cần oxy để thở, nhưng thường chỉ lấy được oxy hòa tan trong nước, qua mang. Mang là những cơ quan hình lá, thường mỗi bên cổ có bốn chiếc. Chúng nằm trong một khoang và có nắp mang (một tấm xương) đậy bên ngoài. (Nhóm cá mê cung như cá sặc (gourami) hay cá betta là ngoại lệ. Chúng thở được không khí nhờ một cơ quan đặc biệt tên là cơ quan mê cung.) Mang chằng chịt mạch máu. Cá hớp nước vào miệng, đẩy nước chảy qua mang, rồi cho nước thoát ra ở khe hở giữa nắp mang và thân.

Cá thở nhanh hay chậm một phần là do nhu cầu oxy của nó và lượng oxy sẵn có trong nước. Vì thế bể bắt buộc phải có đủ oxy hòa tan trong nước, chứ có oxy ở mặt nước thôi là chưa đủ. Bọt khí sủi lên qua nước không giúp gì cho cá cả. Mang chỉ hấp thụ được oxy sau khi oxy đã hòa tan vào nước.
Các bộ phận cơ bản của cơ thể

Hình minh họa chi tiết dưới đây có chú thích các bộ phận của một con cá cảnh nước ngọt, như vây, vảy và đường bên. Nhìn vào đó bạn sẽ dễ hình dung cấu tạo cơ thể cá hơn.
Nội tạng
Ở cá cũng như ở thú, quy luật nào cũng có không ít ngoại lệ. Dù vậy, nhìn chung những loài cá hay gặp trong bể nước ngọt đều có cấu tạo cơ thể theo kiểu chuẩn.

Thân cá phần lớn là hai khối cơ bên to nằm ở hai bên cột sống. Những lớp mô liên kết chia khối cơ này ra thành từng đoạn, mỗi đoạn ứng với một đốt sống. Bạn có thể thấy cấu tạo này ở hầu như bất kỳ con cá nấu chín nào ngoài nhà hàng, hay ở hình cá in trong sách. Khối cơ này là bộ phận chính giúp cá bơi. Nội tạng thường chỉ gói gọn trong một khoảng rất nhỏ ở phía trước. Vì vậy phần lớn cái mà mình vẫn tưởng là thân cá thật ra lại là đuôi (đừng nhầm với vây đuôi).
Muốn biết vùng nội tạng kéo dài đến đâu, bạn nhìn vào chỗ bắt đầu vây hậu môn. Điểm này nằm khá lệch về phía trước, và đó là nơi ống tiêu hóa kết thúc. Người từng học giải phẫu người sẽ thấy cá có đủ các cơ quan quen thuộc, chỉ thiếu phổi và khoang ngực. Cá có dạ dày, ruột, gan, lách, thận và các cơ quan khác.

Da và vảy
Cá có da, và da cá có vảy phủ ngoài. Da cá cũng mắc bệnh được, cũng chịu tác động của ánh nắng và cũng có thể bị vật sắc cứa rách. Nhiệm vụ của lớp da là bảo vệ nội tạng bên trong. Da cá có thể để trần, hoặc được phủ vảy hay các tấm xương, và bên ngoài những lớp này còn có thêm một lớp phủ nữa.
Vảy cá có loại đục, có loại trong suốt. Khi vảy trong suốt, vẻ ngoài và màu sắc của con cá có thể đến từ sắc tố trên da chứ không phải từ màu hay cấu trúc của vảy. Cá vàng calico là một ví dụ. Còn các tấm xương thì bạn có thể thấy ở cá chuột Corydoras hoặc cá da trơn bọc giáp Nam Mỹ (Plecostomus).

Vây
Gần như loài cá nào cũng có hai cặp vây chẵn và ba vây lẻ. Hai cặp vây chẵn là vây ngực và vây bụng (vây chậu), tương ứng với tay và chân của người. Chúng gắn vào các đai xương trong cơ thể, giống như đai vai và đai chậu của chúng ta.

Ba vây lẻ là vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi, như trong hình kèm theo. Nâng đỡ các vây này là các tia vây, có khi bằng xương, có khi bằng sụn. Ở một số họ cá, vây lưng tách hẳn ra làm hai phần. Phần trước có tia gai, còn phần sau có tia phân nhánh. Nhóm characin (như cá tetra) và một vài nhóm khác còn có thêm một vây mỡ nhỏ. Vây này làm từ mô mỡ và không có tia vây.
Bóng hơi (bóng bơi)
Ngoài ra, cá thường có một cơ quan rất đặc trưng là bóng hơi. Bóng hơi là một túi dài chứa đầy khí, nằm trong khoang cơ thể. Có loài có bóng hơi kín hoàn toàn, có loài có bóng hơi thông với ống tiêu hóa qua một ống dẫn. Đôi khi bóng hơi chia thành hai phần khá tách biệt nhưng vẫn thông với nhau. Cá dùng bóng hơi để điều chỉnh tỷ trọng cơ thể, giống như tàu ngầm dùng két lặn để điều khiển sức nổi. Nói cho đúng thì phải so sánh theo chiều ngược lại mới phải.

Ở những loài có bóng hơi chia ngăn, trọng tâm cơ thể cá cũng có thể thay đổi được. Thật ra bóng hơi chính là cơ quan tương ứng với phổi ở các động vật có xương sống bậc cao. Dấu hiệu của chuyện này đã thấy ở nhóm gọi là cá phổi. Chúng đưa không khí vào bóng hơi và thở không khí thật, theo kiểu na ná như thú.
Những con "cá phổi" này thật ra có tên là "cá mê cung", thuộc họ Anabantidae và một số họ cá khác. Cơ quan mê cung là một cơ quan riêng, khác hẳn mang, và những loài này vẫn có mang như thường. Ngoài tự nhiên, cá dùng đến cơ quan mê cung khi nước nơi chúng sống bẩn đến mức gần như hoặc hoàn toàn hết oxy. Chúng cũng dùng nó khi bị kẹt trong vũng nước quá nhỏ, không đủ oxy để sống. Cơ quan mê cung nằm gần mang. Không khí đi qua hoặc đi vào cơ quan này, rồi thoát ra ngoài qua miệng hoặc khe mang. Vì vậy trông cá như đang đớp khí trên mặt nước.

Đường bên
Phần lớn cá cảnh nước ngọt có một đường bên chạy từ đầu dọc xuống thân. Đường bên gồm những ống chứa chất tiết dạng keo, dưới đáy ống có các lông cứng. Đây là cơ quan cảm giác bắt được rung động tần số thấp, có thể xem như "tai" của cá. Nhờ có đường bên, cá cảm nhận được khoảng cách, biết phía trước có chướng ngại vật dù không nhìn thấy, và né được kẻ săn mồi.
Lỗ mũi

Nghe thì lạ, nhưng cá đúng là có lỗ mũi. Thường thì một con cá có tới 4 lỗ mũi. Đây là cơ quan để ngửi. Lỗ mũi cá không dùng để thở, vì nó không thông với miệng hay mang.
Lời kết

Giải phẫu cá là một chủ đề rất thú vị, và vẫn còn nhiều điều để tìm hiểu. Mong là giờ bạn đã hiểu thêm đôi chút về những con vật mà mình vẫn gọi là cá cảnh nước ngọt.
Câu hỏi thường gặp
- Đường bên của cá dùng để làm gì? Đường bên là một hệ cảm giác chuyên biệt. Nhờ nó mà cá phát hiện được rung động, cảm nhận được chướng ngại vật và tránh được kẻ săn mồi.
- Cá thở dưới nước bằng cách nào? Cá thường lấy oxy trong nước qua mang. Mang là những cơ quan hình lá, có rất nhiều mạch máu.
- Vì sao có những con cá trông như đang "đớp khí" trên mặt nước? Một số loài, như cá mê cung, có cơ quan mê cung để thở không khí khi nước thiếu oxy. Lúc chúng làm vậy, trông như đang đớp khí trên mặt nước.

Nguồn tham khảo
- What is Hypothermia? Centers for Disease Control and Prevention.



Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.