Đơn vị
Giao diện

Sinh sản · đọc khoảng 19 phút

Sinh sản và vòng đời của tép Amano

Theo Aquarium Breeder

Tép Amano (Caridina multidentata) là một trong những loài tép cảnh nước ngọt cỡ nhỏ được nuôi phổ biến nhất trong bể thủy sinh. Phần dưới đây nói kỹ về chuyện sinh sản và vòng đời của loài tép này.

Tép Amano
Tép Amano©

Nhìn chung, một đời tép Amano trải qua 12 giai đoạn rõ rệt. Khởi đầu là trứng, sau đó là giai đoạn ấu trùng (9 giai đoạn zoea), rồi tới tép con và cuối cùng là tép trưởng thành. Từ lúc nở, tép mất khoảng 40 ngày để thành tép con, rồi cần thêm 90–120 ngày nữa mới trưởng thành.

Tép Amano có vòng đời kiểu di cư giữa sông và biển (amphidromous). Tép trưởng thành sống và sinh sản trong nước ngọt. Còn ấu trùng của chúng thì chỉ lớn lên được trong nước biển.

Các phần tiếp theo đi vào chi tiết từng mặt trong đời sống và quá trình sinh sản của tép Amano.

Ở đây không bàn chuyện chăm sóc tép Amano. Nếu cần phần đó, bạn xem bài hướng dẫn riêng về loài này.

Phần một: Vòng đời của tép Amano

Giao phối

Vòng đời tép Amano bắt đầu từ lúc giao phối. Một lần giao phối chỉ kéo dài vài giây. Nhưng nó chỉ xảy ra khi con cái đã sẵn sàng.

  • Con cái trưởng thành tích trứng trong cặp buồng trứng, trứng cũng hình thành ngay tại đây. Cặp buồng trứng nằm ở chỗ nối giữa phần đầu ngực (mai) và phần bụng (đuôi). Ở tép Amano, bộ phận này rất dễ thấy. Do vị trí và hình dạng đặc trưng, dân chơi hay gọi nó là “yên ngựa” (saddle).
  • Con cái phải lột xác (bỏ lớp vỏ cũ) trước khi giao phối thì trứng mới thụ tinh được.
  • Lột xác xong, con cái tiết ra một chất hóa học (pheromone) vào nước xung quanh để gọi con đực. Đây là tín hiệu báo cho con đực biết nó đã sẵn sàng sinh sản. Lúc đó các con đực sẽ cuống cuồng đi tìm nó để giao phối.
  • Khi giao phối, con đực phải nằm đúng tư thế vuông góc với con cái. Nó chuyển túi tinh (spermatophore) vào một bộ phận chứa chuyên biệt trên bụng con cái.

Thụ tinh

Tép Amano thụ tinh ngoài.

Sau khi lột xác, cơ thể con cái đủ mềm để đẩy trứng từ “yên ngựa” xuống túi ấp. Trên đường đi xuống, trứng đi ngang qua túi tinh và được thụ tinh ngay lúc đó.

Giai đoạn 1 – Trứng

Sau khi thụ tinh, trứng bám vào các chân bơi (pleopod) của con cái. Tép Amano quạt chân bơi để giữ trứng sạch và đủ oxy.

Con cái càng to thì ôm được càng nhiều trứng.

Caridina multidentata thuộc nhóm đẻ trứng nhỏ và nhiều trứng. Trứng hình bầu dục, cỡ 0,50×0,31 mm lúc mới đẻ và 0,54×0,35 mm lúc sắp nở.

Tép Amano rất mắn đẻ. Một nghiên cứu ghi nhận mỗi lứa Caridina multidentata có thể mang từ 747 đến 4391 trứng (trung bình 1872 trứng).

Có điều, đến lúc nở thì phần lớn số trứng đã rụng mất. Lý do là trứng hút nước nên to dần ra, chỗ ôm trứng không còn đủ, thế là lứa trứng nhỏ lại. Vì vậy, kể cả con cái to cũng thường chỉ còn vài trăm trứng (200–400 trứng).

Con cái ôm trứng cho đến ngày nở. Tùy nhiệt độ, tép Amano thường ôm trứng 4–5 tuần. Ví dụ ở nhiệt độ nước 25,5 °C, trứng đã thụ tinh mất khoảng 25 ngày để nở ra ấu trùng.

Khi bạn nhìn thấy mắt phôi qua vỏ trứng thì chỉ vài ngày nữa là trứng nở.

Tép đực hoàn toàn không chăm con.

Giai đoạn 2–10 (mới nở và 9 giai đoạn zoea)

Ảnh của K-I Hayashi và T. Hamano

Mới nở ra, ấu trùng sống trôi nổi như sinh vật phù du. Chúng phải qua 9 giai đoạn mới có hình dạng giống tép trưởng thành.

Zoea là tên gọi ấu trùng bơi tự do của các loài giáp xác mười chân sống dưới nước.

Giai đoạn zoeaKích thước (tổng chiều dài)Thời gian
Thứ nhất1,55 (1,48–1,76) mmđến 10 ngày
Thứ hai1,76 (1,59–1,93) mm4 đến 13 ngày
Thứ ba2,10 (1,82–2,35) mm6 đến 14 ngày
Thứ tư2,10 (1,82–2,35) mm10 đến 18 ngày
Thứ năm2,21 (1,89–2,75) mm12 đến 22 ngày
Thứ sáu2,76 (2,42–3,10) mm14 đến 29 ngày
Thứ bảy2,95 (2,81–3,24) mm15 đến 31 ngày
Thứ tám3,90 (3,59–4,32) mm16 đến 33 ngày
Thứ chín5,01 (4,77–5,35) mm22 đến 35 ngày
Tép con đầu tiên4,83 (4,60–5,20) mm24 đến 38 ngày

Caridina multidentata không có giai đoạn megalopa. Trong khoa học, megalopa là giai đoạn chuyển tiếp giữa dạng phù du (zoea) và hình dạng cuối cùng của con vật.

Giai đoạn 11 – Tép con (lớn lên)

Tép Amano con khá bé nhưng lớn rất nhanh. Ngoài tự nhiên, bé như vậy là rất nguy hiểm, vì gần như loài nào cũng có thể ăn thịt chúng.

Ở giai đoạn này, tép con cần rất nhiều dinh dưỡng. Trong bể đã chạy lâu và ổn định thì chuyện này không đáng lo. Tép Amano con cũng dễ ăn y như tép lớn.

Chúng ăn được đúng những loại thức ăn của tép lớn, chỉ là phần ăn nhỏ hơn. Đây là một bước quan trọng trong đời chúng.

11.1. Lột xác (lớn lên)

Tép Amano có lớp vỏ ngoài cứng, gồm nhiều lớp. Lớp vỏ này che chắn nội tạng, nhưng cũng giữ cơ thể không lớn lên được, vì vỏ không to ra theo phần thân bên trong. Do đó, muốn lớn thì tép buộc phải lột xác (bỏ lớp vỏ cũ).

Mỗi lần lột xác, tép bỏ hẳn lớp vỏ cũ đã khoáng hóa và thay bằng một lớp vỏ mới.

Tép lột xác nhanh hay chậm tùy vào tuổi và nhiệt độ. Tép Amano còn rất nhỏ có thể vài ngày lột một lần. Tép con thường 1–3 tuần lột một lần, còn tép đã lớn hẳn thì 1–2 tháng một lần. Tép thường cũng nhờ lột xác mà mọc lại những chân bị mất.

Tép vừa lột xác rất dễ bị các con khác tấn công.

Quan trọng. Canxi (Ca) là thành phần thiết yếu của vỏ tép. Muốn vỏ mới cứng lại (canxi hóa), tép cần rất nhiều canxi. Lúc lột xác là lúc tép yếu ớt và dễ tổn thương nhất.

Giai đoạn 12 – Trưởng thành

Ở tép Amano, có thể hiểu giai đoạn tép con là quãng thời gian trước khi chúng đủ tuổi sinh sản.

Khi cơ quan sinh sản bắt đầu phát triển, tép con chuyển sang giai đoạn trưởng thành. Thường thì chúng mất khoảng 3–4 tháng để trưởng thành.

Từ lúc này, bạn đã phân biệt được đực cái bằng mắt thường. Một vòng đời khép lại, và một vòng đời mới bắt đầu.

Phần hai: Cho tép Amano sinh sản

Tép Amano trưởng thành sống và sinh sản trong nước ngọt. Nhưng zoea (ấu trùng) của chúng phải có nước lợ mới sống được.

Zoea của loài này nở ra đã ở dạng phù du. Ngoài tự nhiên, dòng nước cuốn chúng trôi ra biển, và chúng lớn lên ở đó. Biến thái xong, tép con bơi ngược dòng về vùng nước ngọt nơi chúng sinh ra.

Tái hiện lại quá trình này trong bể ở nhà không dễ chút nào. Chính vì vậy mà gần như toàn bộ tép Amano trên thị trường đều là tép bắt ngoài tự nhiên.

Dụng cụ cần có để cho tép Amano sinh sản

  • Một bể ương 4–10 lít để nuôi zoea Amano.
  • Vài chai 4–10 lít để nuôi cấy Tetraselmis sp. (thức ăn cho zoea Amano).
  • Muối biển Instant Ocean và Reef Crystals Reef Salt.
  • Khúc xạ kế.
  • Ống hút bóp loại lớn (hoặc xi lanh lớn).
  • Bộ test nước biển.
  • Nắp và đèn.
  • Dây hơi mềm.
  • Máy sục khí (không bắt buộc).
  • Van một chiều (không bắt buộc).

1. Bể ương

Một số người chơi cho rằng không cần set bể ương từ trước.

Tuy vậy, nếu không chuẩn bị gì trước thì tỉ lệ sống thấp hơn hẳn. Nhiều khả năng là do hai yếu tố cộng lại:

  • Thông số nước chưa kịp ổn định.
  • Thực vật phù du và tảo chưa đủ thời gian để bắt đầu mọc trong bể ương.

Vì vậy vẫn nên chuẩn bị trước. Bạn set bể ương vài ngày trước khi định chuyển zoea Amano sang.

Nuôi zoea Amano không cần bể to. Bể ương 4–10 lít là dư dùng.

2. Pha nước mặn

Bước tiếp theo là pha muối biển.

Quan trọng. Tuyệt đối không dùng muối bể cá thông thường hay muối ăn để pha nước mặn. Loại muối đó sẽ giết chết zoea Amano.

Bạn chỉ dùng muối biển chuyên dụng (như muối biển Instant Ocean hoặc loại tương tự).

Một nghiên cứu cho thấy ấu trùng tép Amano chịu được dải độ mặn khá rộng (17–34 ppt, tức 1,0128–1,0256 SG). Dù vậy, phần lớn người chơi nuôi thành công hơn ở mức 30–35 ppt (1,0226–1,0264 SG).

Vì thế bạn nên nhắm tới mức 32 ppt (1,0241 SG). Muốn đo chính xác thì phải có khúc xạ kế. Nhiệt độ giữ trong khoảng 22–26 °C.

  • Cho muối biển vào nước.
  • Khuấy kỹ trong vài phút.
  • Để yên khoảng 20–30 phút.
  • Khuấy lại lần nữa để muối tan hết và đều khắp.
  • Độ mặn cao quá thì thêm nước ngọt, thấp quá thì thêm muối biển.

Nên dùng nước RO hay nước bể cũ?

Loại nào cũng dùng được, và mỗi loại có cái lợi, cái hại riêng.

Nước bể cũ có sẵn vi sinh vật, nên thực vật phù du và tảo trong bể ương lên nhanh hơn. Cái dở là bạn không thể chắc chắn hoàn toàn rằng trong nước không có thứ gì hại cho zoea Amano.

Ngược lại, với nước RO thì bạn tự quyết mọi thông số theo ý mình. Có điều thực vật phù du và tảo sẽ lâu lên hơn trong bể ương.

Bể ương cần bao nhiêu nước mặn?

Mực nước khoảng 7–10 cm là đủ. Đừng đổ đầy bể ương.

Đổ đầy bể còn phản tác dụng. Bể nông thì zoea Amano có nhiều oxy hơn. Bể sâu thì chắc chắn bạn phải dùng máy sục khí.

Mà máy sục khí lại nguy hiểm cho zoea Amano. Chuyện này sẽ nói kỹ ở phần sau.

3. Chuẩn bị thức ăn cho zoea Amano

Đây là bước quan trọng nhất. Nhắc lại lần nữa, đây là bước QUAN TRỌNG NHẤT!

Bạn cần thực vật phù du Tetraselmis sp. nuôi cấy sống. Tetraselmis sp. là một loài tảo lục đơn bào có 4 roi rõ ràng. Tế bào Tetraselmis nuôi cấy bơi tự do được trong nước biển.

Một nghiên cứu cho thấy chỉ có Tetraselmis nuôi cấy sống mới giữ được ấu trùng tép Amano sống và lớn lên đến giai đoạn tép con. Ngay cả Tetraselmis dạng bảo quản cũng không hiệu quả bằng.

Có cần cho zoea Amano ăn thêm gì khác không?

Không cần. Ấu trùng Amano chỉ ăn Tetraselmis nuôi cấy là sống khỏe cho tới khi thành tép con.

Đây là một trong số ít trường hợp không cần cho ăn đa dạng. Cho ăn thêm chỉ làm nước dễ hỏng hơn.

3.1. Cách 1 (nên dùng)

  • Lấy vài chai 4–10 lít để nuôi cấy thực vật phù du (Tetraselmis).
  • Đổ nước mặn vào.
  • Thêm phân cho tảo.
  • Bật đèn 24 giờ.
  • Cho Tetraselmis vào chai.
  • Sau 2–3 ngày, nước sẽ ngả xanh. Đó chính là thứ bạn cần, vì nước xanh nghĩa là Tetraselmis đang lên.

Lúc này bạn có thể cho một ít Tetraselmis vào bể ương, khoảng 50 ml cho mỗi 6 lít nước.

3.2. Cách 2

  • Một số người nuôi không châm Tetraselmis cho zoea Amano ăn. Họ thả thẳng zoea vào chai nuôi cấy tảo.

Cách này có mấy nhược điểm:

  • Nếu mẻ Tetraselmis hỏng thì ấu trùng Amano chết theo. Đừng bỏ hết trứng vào một giỏ.
  • Tảo mọc nhanh không kiểm soát được, có thể làm tụt oxy trong bể ương.
  • Tetraselmis cũng cần thức ăn (phân bón) để sinh sôi. Mà châm phân vào bể ương thì dễ làm hỏng nước.

Khi nào cần chuẩn bị thức ăn cho ấu trùng Amano?

Bạn nên nuôi Tetraselmis ít nhất 3–4 ngày trước khi ấu trùng Amano nở ra.

Quan trọng. Có người mắc một lỗi rất đơn giản mà đủ làm chết ấu trùng Amano. Họ có bật đèn 24 giờ, nhưng bắt đầu muộn. Tảo không kịp mọc, và ấu trùng chết đói.

Có cần bón phân cho Tetraselmis không? Bón thế nào?

Tetraselmis cũng cần thức ăn mới sinh sôi được.

Nếu bạn dùng nước bể cũ (nước thay ra), có thể trong đó đã đủ dinh dưỡng cho Tetraselmis. Nếu dùng nước RO thì bạn cần châm một loại phân thủy canh bất kỳ.

Trên thị trường có vài loại phân chuyên cho tảo, nhưng không nhất thiết phải mua.

4. Ngày trứng nở

Khi thấy mắt phôi qua vỏ trứng thì vài ngày nữa trứng sẽ nở.

Có một điều thú vị là phôi không nở cùng một lúc. Một số trứng nở sớm hơn nhóm chính 3–5 ngày. Nhờ vậy bạn biết lúc nào cần canh kỹ hơn.

Muốn kích trứng nở thì có một mẹo nhỏ là thay khoảng 20–25% nước.

Có hai cách làm:

  • Cách thứ nhất là chuyển con cái sang bể khác khi nó sắp nở, đợi trứng nở xong thì đưa nó về bể chính.

Quan trọng. Chỉ dùng nước ngọt. Đừng thả tép Amano trưởng thành vào nước mặn, vì chúng không chịu được.

  • (Nên chọn) Nếu không muốn mất công làm bể riêng cho con cái, bạn cứ để nguyên mọi thứ như cũ.

Trứng nở vào ban đêm. Ấu trùng mới nở (zoea) rất nhỏ nên dễ bị hút vào lọc.

Để tránh chuyện đó, bạn giảm lưu lượng lọc (tắt hẳn nếu được) và đặt một chiếc đèn bàn ở phía đối diện với lọc.

Ấu trùng Amano rất nhạy sáng nên sẽ bị đèn hút về phía đó.

5. Chuyển ấu trùng Amano

Sáng hôm sau, bạn dùng ống hút bóp hoặc xi lanh lớn bắt ấu trùng Amano rồi chuyển sang bể ương.

Ấu trùng Amano không cần tập quen dần với nước mặn. Cứ thả thẳng vào là được.

Trong vài tuần đầu, ấu trùng bơi chúc đầu xuống. Chúng gần như trong suốt nên rất khó nhìn thấy. Nhớ là ấu trùng phải được đưa vào nước mặn trong vòng 2–3 ngày, nếu không sẽ chết hết. Từ ngày thứ 4 trở đi, số ấu trùng hao dần 10–15%, cho tới khi chết sạch trong vòng 7–10 ngày.

6. Cho ấu trùng Amano ăn

Theo một nghiên cứu, ấu trùng Amano bắt đầu ăn từ giai đoạn 3. Trước đó chúng có thể sống nhờ noãn hoàng (lecithotrophic). Vì vậy, trong quãng thời gian ngắn còn ở nước ngọt, bạn không cần cho chúng ăn.

Lecithotrophy là kiểu sống nhờ noãn hoàng hoặc các chất khác mà con mẹ dự trữ sẵn trong trứng.

Qua giai đoạn đó, ấu trùng cần Tetraselmis để lớn. Vì vậy trong nước phải có sẵn tảo từ trước.

7. Hạ độ mặn

Sau 4 tuần, bạn sẽ thấy ấu trùng Amano thay đổi đôi chút. Từ lần thay nước kế tiếp, bạn có thể bắt đầu hạ độ mặn xuống 20–25 ppt (1,015–1,0188 SG).

8. Chuyển ấu trùng Amano sang nước ngọt

Sau 40–45 ngày, ấu trùng biến thái xong và thành tép Amano thật sự. Lúc này chúng là bản thu nhỏ của tép trưởng thành, nghĩa là không còn chịu được độ mặn cao nữa.

Bạn sẽ thấy chúng chỉ bơi về phía trước, trong khi ấu trùng thì bơi được mọi hướng.

Khi thấy tép con bơi như điên, không ngừng nghỉ, nghĩa là chúng đã sẵn sàng sang bể chính. Ngoài tự nhiên, kiểu bơi này là dấu hiệu tép con đang tìm đường ngược dòng về vùng nước ngọt của tép trưởng thành.

Có một mẹo nhỏ là đừng chuyển đột ngột từ nước mặn sang nước ngọt. Bạn thay một nửa nước mặn bằng nước bể chính và để như vậy 1 ngày cho tép con quen dần với nước mới. Sau đó rút nước trong tô xuống sát đáy cho dễ chuyển chúng sang bể chính.

Hỏi đáp về chuyện nuôi ấu trùng Amano

Ấu trùng nổi lên mặt nước và dính vào màng vi khuẩn. Phải làm sao?

Chuyện này thường xảy ra trong 3 tuần đầu, khi ấu trùng còn yếu và chưa tự điều khiển được chuyển động. Thỉnh thoảng ấu trùng nổi lên mặt nước, dính vào màng vi khuẩn rồi chết. Có mấy cách để tránh:

  • Vớt màng vi khuẩn bằng tay. Bạn đặt một mảnh giấy lên mặt nước vài giây rồi nhấc lên, cả lớp màng protein sẽ dính theo giấy. Làm lại lần nữa với mặt còn lại của tờ giấy. Sau đó bỏ tờ giấy đi và lấy tờ mới. Đừng dùng lại giấy cũ.
  • Dìm ấu trùng xuống bằng tay. Bạn dùng ống nhỏ giọt, ống hút bóp hoặc xi lanh, nhỏ từng giọt một.
  • Thay nước.
  • Tăng tuần hoàn và sục khí để màng không hình thành được trên mặt nước.

Bể ương có cần sục khí không?

Nói cho đúng thì bể nông không cần sục khí.

Nhưng nếu bể ương gần đầy nước thì bạn cần sục một ít. Đừng sục mạnh quá. Dòng khí không được cuốn ấu trùng xoay vòng khắp bể.

Nên đặt đèn ở đâu?

Thực tế cho thấy đặt đèn phía trên bể thì màng sinh học ít hình thành hơn. Nhờ vậy ấu trùng Amano cũng ít bị dính hơn.

Bể ương Amano có cần lọc không?

Không cần. Ấu trùng Amano thải rất ít.

Hơn nữa, lọc có thể hút mất những ấu trùng bé xíu.

Trước đây bể ương từng chạy lọc. Nhưng bỏ lọc đi thì tỉ lệ sống cao hơn, nên giờ không dùng lọc nữa.

Bao lâu thay nước một lần?

Thường thì lần thay nước đầu tiên (10–15%) là sau tuần đầu. Sau đó cứ 2–3 ngày thay một lần.

Nếu Tetraselmis mọc dày đến mức bạn gần như không nhìn thấy vách bên kia của bể thì nên thay nhiều nước hơn. Chỉ cần nhớ dụ ấu trùng dồn vào một góc bể trước khi thay.

Bạn cũng để ý mực nước. Nước bay hơi làm độ mặn tăng lên, và ấu trùng sẽ bị ảnh hưởng.

Không thay nước thì vẫn nuôi được ấu trùng Amano, nhưng tỉ lệ sống sẽ giảm rõ rệt.

Vì sao nuôi Tetraselmis hay gặp trục trặc?

Tetraselmis có thể tàn vì mấy lý do sau:

  • Tảo thiếu thức ăn. Bạn châm phân cho tảo, nhưng cẩn thận đừng châm quá liều, vì quá liều cũng có thể làm tảo lên chậm đi.
  • Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp có thể làm chết Tetraselmis.
  • Đèn quá mạnh hoặc bật quá lâu. Nên cho tảo nghỉ đèn một khoảng ngắn, ít nhất 3–5 giờ.

Tỉ lệ sống là bao nhiêu?

Tép Amano đẻ nhiều (trung bình 1872 trứng) là có lý do. Tiếc là dù bạn làm đúng hết mọi bước, cũng chỉ vài chục ấu trùng sống sót.

Kết luận

Vòng đời của Caridina multidentata, tức tép Amano, thường chia thành 12 giai đoạn: trứng, zoea (9 giai đoạn), tép con và tép trưởng thành.

Con cái ôm trứng dưới bụng. Tùy nhiệt độ, thời gian ấp kéo dài 4–5 tuần.

Tép Amano có thời gian phát triển khá dài (40 ngày), với nhiều giai đoạn zoea phức tạp. Sau nhiều lần lột xác để lớn, chúng thành thục sinh dục sau 3–4 tháng và trở thành tép trưởng thành.

Cho tép Amano sinh sản trong bể nuôi thì khó, nhưng làm được. Nhiều thí nghiệm cho thấy thức ăn, nhiệt độ và độ mặn là ba điều kiện ảnh hưởng lớn nhất đến tỉ lệ sống của ấu trùng.

Tài liệu tham khảo

  • 曹林泉, 秦政, 姜玉声, 刘鑫, 李晓东, 林源, 黄楷涛, and 刘胥. “Embryonic Development of Caridina japonica and in vitro Incubation of Its Fertilized Eggs.” PROGREES IN FISHERY SCIENCES 41, no. 1 (2020): 145-152.
  • Hayashi, K. I., and Tatsuo Hamano. “The complete larval development of Caridina japonica De Man (Decapoda, Caridea, Atyidae) reared in the laboratory.” Zoological Science 1, no. 4 (1984): p571-589.
  • Hamasaki, Katsuyuki, Sota Nishimoto, Masakazu Okada, Asahi Kimura, Kosei Otsubo, and Shigeki Dan. “Dietary effects of phytoplankton and zooplankton on larval survival, duration and growth of four Caridina species (Decapoda: Caridea: Atyidae) under laboratory conditions.” Crustacean Research 49 (2020): 225-237.
  • Kondo, Shuji, Katsuyuki Hamasaki, and Shigeki Dan. “Larval performance of three amphidromous shrimp species in the genus Caridina (Decapoda: Caridea: Atyidae) under different temperature and salinity conditions.” Crustacean Research 50 (2021): 41-54.
  • Klann, Marleen, and Gerhard Scholtz. “Early embryonic development of the freshwater shrimp Caridina multidentata (Crustacea, Decapoda, Atyidae).” Zoomorphology 133, no. 3 (2014): 295-306.

Hỏi đáp thêm từ người nuôi

  • Men vi sinh cho bể ương. Bạn có thể thêm men vi sinh vào bể ương pha bằng nước RO, nhưng không cần thiết. Ấu trùng thải ít, chỉ cần nhớ thay nước đều.
  • Chọn loại tảo nào. Giữa Nannochloropsis, Tetraselmis và tảo silic Phaeodactylum thì chắc chắn nên chọn Tetraselmis. Có vẻ chỉ Tetraselmis mới cho ấu trùng đủ mọi thứ chúng cần, còn với các loại khác thì tỉ lệ sống cực thấp. Nannochloropsis từng được một số phòng thí nghiệm dùng cho ấu trùng, nhưng hiệu quả thực tế ra sao thì chưa rõ. Khi nuôi thực tế, chỉ thấy thành công với Tetraselmis.
  • Đèn. Chu kỳ chiếu sáng ảnh hưởng đến mức hoạt động của ấu trùng. Đèn cũng quyết định tảo mọc nhanh hay chậm. Tetraselmis nuôi trong chai riêng thì bật đèn 24 giờ. Khi đã cho tảo vào bể ương, bạn cần theo dõi xem tảo lên nhanh cỡ nào, thấy nhiều quá thì giảm giờ chiếu đèn. Một người nuôi chạy đèn bể ương 16 giờ bật, 8 giờ tắt.
  • Test nước. Chủ yếu chỉ cần lo amoniac. Bộ test nitrat và photphat thì mua hay không tùy bạn. Nếu thay nước đều thì bình thường sẽ không có nitrat. Đo ra nitrat nghĩa là trước đó nước đã có nhiều amoniac, tức là nước đang xấu. Bể ương không được có nhiều chất thải, có nhiều là có gì đó không ổn.
  • Không dùng nước máy. Đừng pha muối hay khoáng với nước máy, dù cho bể nước ngọt hay nước mặn. Nước máy có thể chứa tạp chất (photphat, nitrat, silicat, sắt, đồng…) gây hại cho bể nước mặn, thường dẫn đến bùng rêu hại và chết vật nuôi. Lý do lớn nhất là bạn không kiểm soát được chất lượng nước máy. Một người nuôi giữ được zoea đến ngày 22 thì mẻ tảo sập, nước chuyển từ xanh sang vàng đỏ, và gần như mất hết zoea. Nhiều khả năng thủ phạm là nước máy. Nước trong bể ương nên có màu xanh lá nhạt. Không cần chỉnh KH, GH vì nhà sản xuất muối đã tính sẵn, bạn chỉ cần pha theo hướng dẫn trên bao muối.
  • Bể lớn. Trong khối nước lớn, ấu trùng có ít oxy hơn so với bể nông. Bạn sẽ phải dùng đá sủi, và dòng khí sẽ đẩy ấu trùng lên mặt nước, nơi chúng hay bị dính rồi chết. Bạn cũng phải cho nhiều Tetraselmis hơn, nên khó kiểm soát tảo mọc và nước dễ xấu. Nuôi bể lớn không phải là không được hay là sai. Chỉ là làm theo cách đã mô tả ở trên thì dễ hơn.
  • Thay nước tự động. Một người nuôi thay nước sau 7 ngày đầu, rồi lắp hệ thống thay nước tự động. Ban đầu người này tính thay khoảng 2% mỗi ngày, về sau chạy 30 ml mỗi ngày, dùng nước mặn pha bằng nước RO.
  • Ấu trùng vẫn nổi mặt nước dù đã làm đủ cách. Không thể cứu hết ấu trùng được. Bạn chỉ có thể giảm hao hụt hết mức.
  • Ấu trùng nở trong bể nước ngọt. Một người nuôi kể ấu trùng nở trong bể nước ngọt mà gần 2 tuần vẫn sống. Chuyện này khó nói, vì nước ngọt có hại cho chúng, và nên xem lại có đúng là tép Amano không. Muốn cho Amano sinh sản thì cần muối biển và thức ăn chuyên dụng.
  • Cát và ốc trong bể ương. Cách này chưa ai thử. Có điều ốc có thể thải nhiều hơn ấu trùng Amano, nên nhiều khả năng sẽ phản tác dụng.
  • Nuôi trong xô. Bạn giữ nhiệt độ phòng khoảng 22–26 °C. Có cần sục khí hay không là tùy độ sâu của xô. Xô sâu thường chỉ cần một dây hơi.
  • Cả mẻ sập khoảng ngày 23–25. Một người nuôi giữ được hơn 50 ấu trùng đến ngày 23 thì mẻ sập vào ngày 24, cuối cùng chỉ còn 2 tép con sống sót. Nuôi được hai tép con từ hàng trăm ấu trùng đã là thành công thật sự, vì phần lớn người thử không được con nào. Nhiều khả năng mẻ sập là do thay nước quá ít (chỉ 1–2 lần trong 24 ngày, trong khi cần thay 2–3 ngày một lần) và thiếu thức ăn khi ấu trùng lớn dần. Chất thải tích lại, và thế cân bằng giữa thức ăn với chất lượng nước bị phá vỡ. Lần sau nên thay ít nước (10–15%) mỗi 2–3 ngày, tăng dần lượng thực vật phù du khi ấu trùng lớn (đến tuần thứ ba thì cho ăn hai lần mỗi ngày), và khuấy động mặt nước thêm một chút để ấu trùng ít bị kẹt vào màng sinh học.