Cichlidae, Venezuela

Cá phượng hoàng

Mikrogeophagus ramirezi

Tên khác: Cá phượng hoàng xanh, Cá phượng hoàng bướm, Cá ram, Ram, Ramirez' dwarf cichlid, Butterfly cichlid

Nhiệt độ
27–30°C
pH
4–7
Độ cứng (dGH)
1–10
Kích thước
4 cm
Bể tối thiểu
60 cm
Độ khó
Khó 6/8

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-30.

Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Ảnh Cá phượng hoàng

Xem tất cả 24 ảnh →

Thông tin nhanh

Cá phượng hoàng (Mikrogeophagus ramirezi) là một loài cichlid lùn sống ở vùng llanos thuộc lưu vực sông Orinoco, trải qua Venezuela và Colombia. Đây là một trong những loài cichlid lùn được chơi nhiều hơn cả, nên các trại sản xuất chúng với số lượng khổng lồ. Các dòng cảnh như 'gold', 'vây dài' và 'balloon' thường yếu về gen và mau chết. Cá hoang dã có nguồn gen tốt hơn nhưng khó nuôi hơn. Loài này đòi hỏi nước lúc nào cũng phải thật sạch.

  • Kích thước tối đa: 40 mm SL
  • Kích thước bể: 60 × 30 cm
  • Nhiệt độ: 27–30°C
  • pH: 4,0–7,0
  • Độ cứng: 1–10 dGH
  • Độ khó: 6/8 (trung bình)

Theo Seriously Fish

Cần bể bao lớn?

Với một cặp, bể có đáy 60 × 30 cm hoặc tương đương (khoảng 54 lít) là đủ.

Theo Seriously Fish

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 27–30°C
  • pH: 4,0–7,0
  • Độ cứng: 1–10 dGH

Theo Seriously Fish

Adult male from the Danish aquarium trade.
Ảnh: Seriously Fish, dùng với sự cho phép

Chăm sóc ra sao?

Miễn là bể có đủ chỗ trú và vật dựng, loài này không kén đồ trang trí. Chậu gốm, đoạn ống nhựa hay các vật liệu nhân tạo khác đều dùng tốt.

Nếu muốn bể trông tự nhiên hơn, bạn có thể dùng nền cát mềm, rồi xếp rễ và cành lũa sao cho tạo ra nhiều góc râm và hang hốc. Thêm một hai phiến đá phẳng hoặc vật tương tự để cá có chỗ đẻ.

Rải thêm lá khô sẽ làm bể càng giống tự nhiên. Khi lá phân hủy, các quần thể vi sinh có lợi sẽ phát triển theo. Chúng có thể là nguồn thức ăn phụ rất quý cho cá bột. Tanin và các chất khác do lá mục nhả ra thì đưa nước trong bể lại gần với điều kiện ngoài tự nhiên.

Bạn cũng có thể trồng cây thủy sinh. Các chi như Microsorum, Taxiphyllum, Cryptocoryne và Anubias có lẽ tiện nhất, vì có thể gắn chúng lên đồ trang trí. Có điều, không loài nào trong số này có nguồn gốc Nam Mỹ.

Lọc, hoặc ít nhất là dòng chảy, không nên quá mạnh. Bạn nên tránh thay quá nhiều nước một lần. Mức nên làm là thay đều đặn mỗi lần 10–15%.

Tuyệt đối không thả loài này vào bể mới set hoặc bể chưa ổn định vi sinh. Khi chất lượng nước đi xuống, cá dễ mắc một chứng giống bệnh thủng đầu và mòn đường bên (hole-in-the-head) ở các loài khác. Lúc đầu bệnh lộ ra bằng những hố nhỏ, do thịt quanh đầu và quanh các lỗ đường bên bị ăn mòn.

Theo Seriously Fish

Cho ăn gì?

Các loài Mikrogeophagus vốn kiếm ăn ở đáy. Chúng thường ngậm từng ngụm nền, sàng lấy thứ ăn được rồi nhả phần còn lại ra qua khe mang và miệng. Ngoài ra, chúng cũng gặm nhặt trên các bề mặt cứng và đớp mồi ngay trong tầng nước.

Trong bể, bạn nên cho ăn đa dạng thức ăn sống và đông lạnh như trùng huyết, Artemia, bo bo, giun grindal..., kèm thức ăn khô loại chìm, chất lượng tốt, cỡ hạt đủ nhỏ. Cá hoang dã lúc đầu có thể chê thức ăn khô, nhưng thường sẽ dần quen và chịu ăn.

Thức ăn tự làm, đông bằng gelatin, cũng cho kết quả tốt. Ví dụ, bạn có thể trộn thức ăn khô cho cá với hải sản có vỏ xay nhuyễn, trái cây và rau tươi. Sau đó dùng đầu ống pipet sắc hoặc dao nhỏ cắt thành miếng tròn vừa miệng cá.

Theo Seriously Fish

Nuôi chung với con gì?

Cửa hàng thường bán M. ramirezi như cá cho bể cộng đồng, nhưng thực ra loài này không hợp với bể cộng đồng thông thường. Chúng cần nước rất sạch và giành ăn kém. Dù vậy, không có nghĩa là bạn buộc phải nuôi riêng chúng.

Bạn cùng bể nên chọn nhất là một đàn characid hiền, hay bơi ở tầng nước thoáng, hoặc các loài tương tự. Có vẻ cá phượng hoàng xem sự có mặt của đàn cá nhỏ là dấu hiệu quanh đó không có nguy hiểm. Nhờ vậy chúng có thể bớt nhát.

Hãy tìm hiểu thật kỹ từng loài định nuôi chung. Tránh các loài giữ lãnh thổ hoặc hung dữ, trong đó có phần lớn các loài cichlid khác, và cả những loài cần nước cứng hơn. Bạn cùng bể cũng phải sống được trong nước ấm như loài này cần. Paracheirodon axelrodi và P. simulans là hai loài đáp ứng được điều kiện này.

Cá non thích sống thành đàn. Khi đến tuổi sinh sản, chúng bắt đầu ghép cặp. Lúc đẻ, mỗi cặp sẽ giữ một vùng lãnh thổ rộng khoảng 60 cm.

Theo Seriously Fish

Adult female from the Danish aquarium trade.
Ảnh: Seriously Fish, dùng với sự cho phép

Phân biệt đực cái thế nào?

Cá đực trưởng thành to hơn cá cái, vây kéo dài hơn một chút và màu đậm hơn.

Phần lớn cá cái có một mảng hồng nhạt ở bụng, cá đực thì không có. Tuy vậy, dấu hiệu này có thể không đúng với một số dòng cảnh (xem 'Ghi chú').

Theo Seriously Fish

Sinh sản ra sao?

Loài này đẻ trứng trên giá thể, cả bố lẫn mẹ cùng chăm con. Tốt nhất nên cho cá sinh sản trong một bể riêng, không có cá khác.

Có vẻ không có tác nhân đặc biệt nào kích cá đẻ. Điều quan trọng nhất là cho ăn tốt và chăm bể thật kỹ. Tuy nhiên, trứng khá khó ấp. Nếu nước không thật sạch và mềm, trứng dễ bị nấm hoặc không phát triển.

Những cặp còn non kinh nghiệm có thể ăn trứng, nhưng thường sau vài lần là chúng làm đúng. Ngược lại, cá sản xuất thương mại (xem 'Ghi chú') thường chất lượng khá kém. Chúng có thể không thụ tinh được nhiều trứng, hoặc cứ đẻ xong lại ăn hết.

Nếu không có sẵn cá trưởng thành đã phân biệt được đực cái, tốt nhất là bắt đầu với một nhóm cá non và để chúng tự ghép cặp. Cặp nào thành đôi thì tách ra. Nếu được, bạn nên mua nhóm cá non này từ người nhân giống tư nhân có uy tín.

Cá thường đẻ trứng trên bề mặt cứng như phiến đá phẳng, mẩu lũa, lá cây bản rộng hoặc ngay trên kính bể. Cách đẻ cũng giống các loài khác. Cá cái đẻ một hoặc vài hàng trứng, rồi cá đực bơi vào thụ tinh. Cặp cá lặp lại như vậy nhiều lần.

Nếu bạn nuôi cặp bố mẹ trong bể cộng đồng và muốn có nhiều cá bột, lúc này nên chuyển cá khác ra ngoài hoặc chuyển trứng đi. Cả cá đực và cá cái đều chăm con như nhau.

Trứng nở sau 2–3 ngày. Sau đó cá bột gần như nằm yên thêm 5 ngày, và trong thời gian này chưa cần cho ăn thêm. Khi cá bột đã bơi tự do, cho chúng ăn giun vi (microworm), trùng cỏ và các loại thức ăn siêu nhỏ khác trong 2–3 ngày đầu. Sau đó có thể chuyển sang mồi lớn hơn như Artemia mới nở.

Theo Seriously Fish

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Phần lớn tài liệu cho rằng loài này chỉ có ở vùng llanos của Venezuela và Colombia, thuộc lưu vực sông Orinoco. Tuy vậy, một trong các mẫu cá trong ảnh được cho là bắt ở sông Purus, Brazil. Đây là một phụ lưu của Amazon, nằm khá xa lưu vực Orinoco.

Nơi thu mẫu chuẩn là 'hệ thống Orinoco, Venezuela'.

Theo Seriously Fish

Adult pair in courtship display; female at front, two competing males behind.
Ảnh: Seriously Fish, dùng với sự cho phép

Môi trường tự nhiên

Llanos là một vùng rộng lớn với độ đa dạng sinh học rất cao, gồm đồng cỏ savan nhiệt đới, đồng bằng ngập nước theo mùa và rừng. Tổng diện tích của vùng gần 600.000 km², trải trên lãnh thổ Venezuela và Colombia. Thời tiết ở đây theo chu kỳ năm rất rõ, có mùa mưa và mùa khô tách biệt. Nhiệt độ thì cao quanh năm.

Vùng này nằm ở phía bắc và phía tây sông Orinoco, có nhiều phụ lưu của sông chảy qua.

Các loài cá khác cũng sống trong vùng và có bán trên thị trường cá cảnh gồm Brochis delphax, Platydoras costatus, Baryancistrus beggini, Hypancistrus inspector, Panqolus maccus, Panaque nigrolineatus, Hemigrammus rhodostomus, H. stictus, Hyphessobrycon sweglesi, Paracheirodon axelrodi, Pristella maxillaris, Copella nattereri, Biotodoma wavrini, Geophagus abalios, Heros severus, Mesonauta insignis, Satanoperca daemon và Uaru fernandezyepezi.

Theo Seriously Fish

Ghi chú

M. ramirezi còn có tên tiếng Anh là 'Ramirez' dwarf cichlid' và 'butterfly cichlid'. Đây là một trong những loài cichlid lùn được chơi nhiều hơn cả.

Vì vậy, các trại sản xuất loài này với số lượng khổng lồ và đã lai tạo ra nhiều dòng cảnh, gồm 'gold', 'vây dài' (có cả dạng xanh và vàng, còn được bán dưới tên 'lyre-tail', 'veil-tail' và 'hi-fin'), 'electric/neon blue', 'super neon blue gold', 'pearl/perlmutt' và 'balloon'.

Những dạng nuôi nhân tạo này, nhất là dòng balloon, thường yếu về gen, dễ bệnh, tuổi thọ ngắn và sinh sản kém. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp người ta chỉ bán ra cá đực.

Người ta cho rằng các trại có thể đã dùng hormone để tăng sản lượng. Cá thường được nuôi bằng thức ăn khô giàu protein và sắc tố carotenoid để nhanh lớn và lên màu đậm hơn.

Dòng 'German Blue' kinh điển trước đây được xem là chất lượng tốt. Nay dòng này cũng được sản xuất ở nhiều nước khác nhau, và chất lượng vì thế đi xuống.

Cá hoang dã chắc chắn có nguồn gen tốt hơn, nhưng khó tính hơn về nước và thức ăn. Có thể nói chúng chỉ hợp với người chơi có kinh nghiệm. Vì vậy khó mà khuyên nuôi loài này, trừ khi bạn tìm được người nhân giống tư nhân có uy tín.

Chi Mikrogeophagus hiện có ba loài được công nhận. Loài thứ ba được mô tả năm 2022, từ vùng thượng lưu lưu vực Rio Guaporé ở Mato Grosso, Brazil. Hai loài còn lại sống cách biệt nhau về địa lý. M. ramirezi có ở Venezuela và Colombia, còn loài cùng chi M. altispinosus có nguồn gốc từ Bolivia và miền tây Brazil. M. altispinosus cũng to hơn, kém màu hơn và không có các vệt xanh óng ánh trên vây, thân và đầu.

Lịch sử phân loại của nhóm này khá rối. Vị trí xếp loài và cách viết đúng của loài chuẩn M. ramirezi gây nhầm lẫn suốt vài thập kỷ, cho đến khi Kullander (2011) công bố công trình của mình. Ban đầu, loài này được mô tả trong chi Apistogramma. Sau đó, Hans Frey (1957) gắn nó với tên Microgeophagus trong một cuốn sách về cá cảnh. Tuy vậy, Frey không đưa ra đặc điểm chẩn đoán nào và chỉ gợi ý rằng sau này loài có thể được xếp vào chi đó.

Tên Microgeophagus chỉ được chấp nhận rộng rãi từ năm 1971, khi Axelrod dùng nó trong một cuốn sách phổ thông về nhân giống cá cảnh. Dù vậy, Klee (1971) lại bác bỏ tên này và đề xuất xếp loài vào Geophagus. Kullander (1977) mô tả chi mới Papiliochromis với loài chuẩn là P. ramirezi. Cũng trong bài báo đó, ông xem Microgeophagus là tên không khả dụng nhưng không giải thích cụ thể vì sao.

Papiliochromis được dùng trong cả sách báo của người chơi lẫn tài liệu khoa học cho đến khi Bailey và Robins (1982) đưa ra kết luận mới. Hai ông cho rằng Microgeophagus sensu Axelrod (1971) là tên khả dụng cũ nhất cho một chi cichlid có loài chuẩn là A. ramirezi, nên phải được xem là hợp lệ.

Géry (1983, 1986) lập luận rằng Microgeophagus sensu Frey (1957) mới là tên khả dụng cũ nhất của chi, còn Allgayer (1985) lại xem Papiliochromis là hợp lệ. Kullander (1998) dùng Mikrogeophagus. Ông cho đây là tên khả dụng cũ nhất, vì nó đã xuất hiện như một tên hợp lệ trong Jeg har akvarium, một cuốn sách cá cảnh tiếng Đan Mạch in năm 1968. Theo ông, Microgeophagus sensu Frey (1957) là một nomen nudum không khả dụng, do thiếu cả mô tả chẩn đoán lẫn loài chuẩn.

Vì vậy, chi Mikrogeophagus được ghi cho Jens Meulengracht-Madsen, 1968, người viết các phần tương ứng trong cuốn sách (sách do Schiøtz và Christensen biên tập). Tuy nhiên, đây được xem là một hành vi danh pháp 'không chủ ý', vì Meulengracht-Madsen tin rằng mình đang dùng một tên đã có sẵn.

Từ sau Kullander (1998), Mikrogeophagus được chấp nhận rộng rãi, dù rõ ràng một số tác giả không đồng tình.

Sau một thời gian lắng xuống, Isbrücker (2011) khơi lại vấn đề và cho rằng Microgeophagus sensu Frey (1957) thực ra mới là tên khả dụng cũ nhất của chi. Kullander (2011) bác bỏ dứt khoát lập luận này. Ông công bố một phân tích chi tiết về các tên chi từng được dùng cho loài, phần lớn bắt nguồn từ sách báo cá cảnh chứ không phải tài liệu khoa học.

Hiện nay tên Mikrogeophagus được chấp nhận chung là đúng. Dù vậy, trong sách báo cá cảnh cũ, M. ramirezi vẫn hay xuất hiện dưới tên Apistogramma ramirezi, Microgeophagus ramirezi hoặc Papiliochromis ramirezi.

Mikrogeophagus và một số chi có họ hàng thường được xếp vào phân họ giả định Geophaginae. Kullander (1998) thực hiện một nghiên cứu phát sinh chủng loại dựa trên hình thái, chia họ Cichlidae vùng Tân nhiệt đới thành sáu phân họ. Trong đó, Geophaginae gồm 16 chi, chia vào ba 'tông':

  • Acarichthyini - Acarichthys và Guianacara.
  • Crenicaratini - Biotoecus, Crenicara, Dicrossus và Mazarunia.
  • Geophagini - Geophagus, Mikrogeophagus, nhóm 'Geophagus' brasiliensis, nhóm 'Geophagus' steindachneri, Gymnogeophagus, Satanoperca, Biotodoma, Apistogramma, Apistogrammoides và Taeniacara.

Các nghiên cứu phân tử sau đó của Farias và cộng sự (1999, 2000, 2001) bổ sung Crenicichla và Teleocichla vào Geophaginae. López-Fernández và cộng sự (2005) cũng ủng hộ kết quả này. Đây là phân tích phân tử chi tiết nhất về nhóm tính đến nay, bao gồm 16 trong số 18 chi và 30 loài.

Tuy nhiên, kết luận của họ về quan hệ giữa các chi có phần khác với các giả thuyết trước. Có thể tóm lại thành các nhóm phân định chưa chặt chẽ sau:

  • quan hệ nhóm chị em giữa Acarichthys và Guianacara, nhưng mức ủng hộ còn yếu.
  • một 'nhánh Satanoperca' có mức ủng hộ tốt, gồm Satanoperca, Apistogramma, Apistogrammoides và Taeniacara.
  • một 'nhánh lớn' gồm Geophagus, Mikrogeophagus, nhóm 'Geophagus' brasiliensis, nhóm 'Geophagus' steindachneri, Gymnogeophagus, Biotodoma, Crenicara và Dicrossus.
  • một 'nhánh crenicarine' gồm Biotoecus và Crenicichla.

Nghiên cứu này không có mẫu đại diện nào của Teleocichla hay Mazarunia. Dù vậy, Teleocichla đã được xác lập vững chắc là nhóm chị em của Crenicichla. Còn Mazarunia thì trong các công trình trước đây xếp gần Dicrossus và Crenicara.

Các kết luận chính khác của bài báo là xác nhận Geophaginae là một nhóm đơn ngành, với dấu hiệu rõ rệt là đã trải qua bức xạ thích nghi nhanh. Bức xạ thích nghi là quá trình một loài hay một dạng tổ tiên duy nhất phân hóa thành nhiều dạng, mỗi dạng thích nghi chuyên biệt với một ổ sinh thái riêng.

Theo Seriously Fish

Tài liệu tham khảo

  • Harpaz, S. and D. Padowicz (2007). Colour Enhancement in the Ornamental Dwarf Cichlid Mikrogeophagus ramirezi by Addition of Plant Carotenoids to the Fish Diet. The Israeli Journal of Aquaculture - Bamidgeh 59(4), 195-200
  • Kullander, S. O. (2011). Nomenclatural availability of putative scientific generic names applied to the South American cichlid fish Apistogramma ramirezi Myers & Harry, 1948 (Teleostei: Cichlidae). Zootaxa 3131, 35-51
  • Morgenstern, R. (2012). Microgeophagus, Papiliochromis oder Mikrogeophagus – endlich Klarheit? DCG-Informationen 43(4), 74-82
  • Reis, R. E., S. O. Kullander and C. J. Ferraris, Jr. (eds) (2003). Check list of the freshwater fishes of South and Central America. CLOFFSCA. EDIPUCRS, Porto Alegre, i-xi + 1-729
  • Robins, C. R. and R. M. Bailey (1982). The status of the generic names Microgeophagus, Pseudoapistogramma, Pseudogeophagus and Papiliochromis (Pisces: Cichlidae). Copeia 1982(1), 208-210
  • Anonymous (1948). The Ramirezi dwarf cichlid identified. [Apistogramma ramirezi is attributed to Myers & Harry in this work. The author is anonymous (probably W. T. Innes). A more complete description appeared later in Myers & Harry 1948. The Aquarium, Philadelphia v. 17, 77
  • Myers, G. S. and R. R. Harry (1948). Apistogramma ramirezi, a cichlid fish from Venezuela. Proceedings of the California Zoological Club 1(1), 1-8

Theo Seriously Fish

Bài viết nhắc đến loài này

Thiết bị phù hợp

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.