Chăm sóc · đọc khoảng 6 phút

Cá bám đá (Suckerbelly Loaches)

Theo Loaches Online

Bài này viết từ năm 1999. Nó đáng đọc lại vì cho thấy hiểu biết về nhóm cá này đã thay đổi nhiều thế nào kể từ đó.

Cá bám đá là loại cá khỏe, miễn là bạn đáp ứng đủ những nhu cầu cơ bản của chúng. Có những con cá bám đá sống trong bể đã được khoảng năm năm, thuộc hàng cá lâu năm nhất.

Cá bám đá

Ngoài chợ cá, chúng mang đủ thứ tên: “Chinese butterfly pleco” (cá bướm Trung Hoa), “Borneo sucker” (cá hút đá Borneo), “lizardfish” (cá thằn lằn), “flossensauger” (tên tiếng Đức, nghĩa là cá hút vây) và còn nhiều tên khác. Gọi tên nào thì cá bám đá cũng nổi bật hẳn so với những loài quen mặt ở cửa hàng cá. Chúng dán tấm thân dẹt lên kính trước, trông như một con cá bơn ngoài hành tinh, nên ai đi ngang cũng phải nhìn. Nhìn kỹ vài con, bạn còn thấy được quả tim nhỏ của chúng đang đập. Đây là loài cá rất lạ, mà với nhiều người chơi thì lạ tức là rất muốn có. Vì vậy cũng dễ hiểu khi chúng thành mặt hàng quen thuộc trong giới cá cảnh. Thông tin về nhóm cá này lẽ ra phải được chia sẻ từ lâu. Chúng nhỏ, hiền và khỏe thật, nhưng không phải bể nào cũng nuôi được.

Tên “Chinese butterfly pleco” là gọi sai. Chúng không phải cá pleco, và nói cho đúng thì cũng không phải cá chạch thật. Cá pleco thật thuộc họ cá da trơn Loricariidae. Hiện đã có ít nhất một loài thuộc họ Loricariidae mang tên “butterfly pleco”, nên mong là cái tên sai kia sớm bị quên đi. Cá chạch thật thuộc họ Cobitidae. Cá bám đá là họ hàng gần của chúng, nên xếp cá bám đá chung với các “cá chạch giả” khác như các loài Nemacheilus cũng chẳng có gì sai.

Nhóm cá bám đá gồm các giống Homaloptera, Gastromyzon, Pseudogastromyzon và vài giống ít người biết hơn. Đúng như tên gọi tiếng Anh (hillstream, suối đồi), chúng sống ở suối và sông nước chảy xiết. Nhóm này có hàng chục loài, phân bố gần khắp Đông Nam Á. Để bám trụ được trong dòng nước xiết và cuộn xoáy, chúng có cơ chế hút ở bụng và vây. Miệng chúng hướng xuống dưới để gặm các thảm tảo dưới đáy suối. Các loài Gastromyzon và Pseudogastromyzon có thân dẹt, nên mới có chữ “butterfly” (bướm) trong tên. Loài hay gặp nhất từng được đoán là Gastromyzon borneensis, nhưng thực ra là Beaufortia kweichowensis. Loài này có màu nâu vàng đến nâu sẫm, điểm những đốm đen nhỏ rải lung tung, và vây có viền đen. Cá họ Homalopteridae và vài nhóm khác thì thon và tròn mình hơn, trông giống cá chạch bình thường.

Cá bám đá dài từ 4 đến 10 cm. Chúng đẻ trứng, và theo một báo cáo thì chúng đẻ trong hang. Đến thời điểm viết bài, chưa ai phân biệt được con đực với con cái qua ngoại hình. Cá đẻ được trong bể là chuyện cực hiếm, nên toàn bộ cá bán ra đều là cá bắt ngoài tự nhiên. Bản tính chúng hiền và thích sống một mình. Dù vậy, cá họ Homalopteridae ban ngày vẫn hay rúc chung vào cùng một hốc. Nhóm “bướm” có vẻ năng động nhất, và giữa chúng có xảy ra tranh giành lãnh thổ. Mấy trận đánh nhau giả của chúng xem rất vui. May là chúng không có “vũ khí” gì để làm nhau bị thương thật. Cá họ Homalopteridae thì ban ngày hiếm khi chịu ra khỏi chỗ trốn.

Nhìn chung cá bám đá khá khỏe. Chúng nhạy cảm khi pH và nhiệt độ nước thay đổi nhanh, nhưng không dễ bệnh. Chưa thấy con nào bị đốm trắng.

Môi trường sống và cách set bể

Cá bám đá đến từ một môi trường khác hẳn nơi sống của phần lớn cá nhiệt đới. Như đã nói, suối đồi có dòng chảy mạnh. Nước ở đó mát hơn đa số vùng nước nhiệt đới, và lượng oxy hòa tan cao. Thức ăn chính của cá bám đá là tảo và aufwuchs, tức các sinh vật nhỏ sống trong lớp tảo bám. Vì đã quen với những điều kiện như vậy nên chúng có thể không hợp với một bể cá nhiệt đới bình thường. Thật ra, lựa chọn khôn ngoan nhất có thể là một bể nuôi riêng loài. Hoặc bạn làm một bể mô phỏng môi trường sống, nuôi chung với các loài cá nước mát khác như cá white cloud (white cloud minnow).

Vậy bể thế nào thì hợp với cá bám đá? Có hai thứ chúng cần để sống khỏe: nước nhiều oxy hòa tan và một thảm tảo rộng. Cá bám đá sống được bằng thức ăn chế biến sẵn, và chúng có vẻ thích viên Tetra. Nhưng phải đến khi tảo được để mọc thoải mái thì cá mới trông thật sự khỏe. Tảo lục là tốt nhất, vì cá ăn cả tảo lẫn những sinh vật nhỏ sống trong đó. Cá cũng có thể ăn thức ăn sống và đông lạnh như giun đen (blackworm) và bo bo.

Cũng giống cây thủy sinh, tảo lục cần ánh sáng mạnh và nước sạch mới mọc tốt. Nếu thả quá nhiều cá hoặc cho ăn quá tay, bể sẽ bùng tảo râu đen và tảo lam, là những loại không ai muốn có. Bạn nên bày nhiều đá và thêm ít lũa. Bể nhìn sẽ tự nhiên hơn, và tảo cũng có thêm nhiều mặt để bám. Trồng cây cũng tốt cho bể, dù giữ được cân bằng giữa cây và tảo khá khó. Muốn tăng oxy thì dùng những cách quen thuộc: nhờ cây quang hợp, sục khí, tạo dòng chảy và khuấy động mặt nước.

Bạn cũng cần tính đến dòng chảy mạnh và điều kiện nước mà cá đã quen. Nước suối đồi thường mềm và hơi chua. Nhiệt độ nằm trong khoảng 18–24°C. Một thiết bị đáng thử là bộ phản ứng hydro peroxit, hay “oxydator”. Thiết bị này được cho là có thể đẩy lượng oxy lên gần mức bão hòa mà không làm pH tăng. Kết hợp nó với châm CO2 hoặc lọc qua than bùn, bạn có thể tạo ra điều kiện rất gần với một con suối đồi thật ở châu Á.

Cá nuôi chung

Đừng nuôi cá bám đá chung với loài hung dữ. Đã có hai con bị mù vì bị mấy con Botia to hơn tấn công. Ngược lại, chúng sống chung không vấn đề gì với cá white cloud, cá danio, cá cáo bay Xiêm (Siamese flying fox), cá chạch dojo, các loài cá chạch Nemacheilus, cá chạch lùn và Botia striata.

Cá heo vằn
Cá heo vằn · Ảnh: Seriously Fish, dùng với sự cho phép

Chuyện cá không lớn

Có một điểm vẫn chưa nuôi được thành công: cá bám đá không lớn. Những con flossensauger nuôi lâu năm đến giờ có vẻ vẫn chưa lớn thêm chút nào. Chúng mập, hoạt bát, trông khỏe về mọi mặt, chỉ là không lớn. Thực tế là cũng chưa nghe ai kể cá bám đá của họ lớn hơn đáng kể so với lúc mới mua.

Nguyên nhân có thể là do những gì cá phải chịu trên đường về tới nhà người chơi. Rất có thể nhiệt độ cao, thiếu oxy và cảnh bỏ đói nặng trong lúc vận chuyển đã làm chúng còi vĩnh viễn. Bạn thử nhìn kỹ mấy con ở cửa hàng cá gần nhà. Chúng thường gầy và nhợt nhạt, nhiều con đã gần chết. Có lần một nhân viên cửa hàng được hỏi họ cho cá ăn gì, và cô ấy trả lời: “Ồ, bọn tôi không cho ăn đâu, cá vào rồi ra nhanh lắm.” Còn một cách giải thích khác: có thể chỉ là chưa ai tìm ra đúng tổ hợp điều kiện để cá lớn.

Tài liệu tham khảo

  • "Collector's Edition - Catfish and Loaches: the Bottom Dwellers" Published by Tetra Press, West Germany.
  • "Aquarium Atlas" Published by MERGUS-Verlag Hans A. Baensch, 1986.