Bệnh · đọc khoảng 8 phút
Cá bị sán mang: dấu hiệu, cách chữa và phòng
AquaTome tổng hợp từ 5 nguồn rồi tự viết

Tóm tắt nhanh
- Sán mang là những con giun dẹp nhỏ thuộc nhóm monogenea. Chúng bám trên mang, da và vây, làm cá thở gấp, banh hoặc khép chặt nắp mang, cọ mình và bỏ ăn.
- Trước khi đánh thuốc, bạn hãy đo amoni, nitrit, pH và xem chất khử clo có khử được chloramine không, vì nước kém và mang bị kích ứng rất dễ nhầm với sán. Trong lúc chữa, nhớ tăng sục khí.
- Muốn biết chắc là sán thì phải soi mẫu mang dưới kính hiển vi. Praziquantel là thuốc lựa chọn hàng đầu, và phải đánh nhắc lại vì thuốc không diệt trứng.
Sán mang là gì
Sán mang là nhóm giun dẹp nhỏ có tên monogenea. Chúng sống phần lớn bên ngoài thân cá, bám trên da, vây và mang. Con trưởng thành thường dài khoảng 600 µm, thân dẹp, hình bầu dục.
Sán lây thẳng từ cá này sang cá khác, không cần vật chủ trung gian. Có hai họ hay gặp:
- Dactylogyrus (họ Dactylogyridae) đẻ trứng và sống chủ yếu ở mang. Chúng hay bám các loài cá họ chép nước ngọt như danio, barb, cá vàng và koi. Con sán có hai cặp điểm mắt.
- Gyrodactylus (họ Gyrodactylidae) phần lớn đẻ con. Chúng sống chủ yếu trên thân và vây, đôi khi ở mang, và sinh sôi rất nhanh trong bể nuôi khép kín. Con sán không có điểm mắt.
Ngoài tự nhiên, sán hiếm khi gây hại. Trong bể hay hồ nuôi chật, số sán có thể tăng đến mức cá bệnh và chết hàng loạt. Cá nhiễm nặng ở mang sẽ khó thở và chịu thiếu oxy rất kém. Cá cũng có thể chết vì nhiễm trùng thứ phát hoặc vì mất khả năng điều hòa thẩm thấu.
Ở khoảng 22–25°C, sán có thể đi từ trứng đến trưởng thành chỉ trong vài ngày. Ở gần 1–2°C, quá trình này có thể kéo dài năm, sáu tháng.
Dấu hiệu
- Cá thở nhanh hoặc thở gắng sức, kể cả khi nước đủ oxy.
- Nắp mang banh ra, hoặc ngược lại khép chặt.
- Cá cọ mình vào đáy, vách bể hoặc đồ trang trí.
- Cá lừ đừ, bơi sát mặt nước hoặc tụ ở đầu ra của lọc, bỏ ăn.
- Cá cụp vây, da đổi màu ở chỗ sán bám hút.
- Sán bám da có thể làm cá tróc vảy, chỗ sán bám rỉ dịch hơi hồng.
- Đôi khi thấy những chấm tối li ti trên sợi mang.
- Ở ca nặng, mang sưng và nhợt, cá thở càng gấp và ngoi lên đớp khí trên mặt nước.
Muốn chắc là sán thì phải lấy mẫu mang, vây hoặc nhớt da soi dưới kính hiển vi quang học. Mẫu phải lấy từ cá còn sống hoặc vừa chết, vì sán suy đi rất nhanh sau khi cá chết.
Soi xong, bạn nên xác định xem đó là họ nào, vì cách chữa khác nhau. Dactylogyrus đẻ trứng, nên phải chữa lâu hơn để diệt lứa sán non khi trứng nở.
Những bệnh dễ nhầm với sán mang
- Bệnh mang do vi khuẩn và nước kém cũng cho dấu hiệu tương tự. Bạn hãy đo amoni, nitrit và pH trước.
- Mang bị kích ứng do chloramine trong nước máy chưa khử hết. Khả năng này cần loại trừ trước tiên.
- Ở koi, hiện tượng kênh mang có thể do ấu trùng sán lá Centrocestus formosanus đóng kén sâu trong sợi mang, chứ không phải do monogenea. Chuyện này có mục riêng bên dưới.
Nguyên nhân
Thủ phạm thường là cá mới mua về. Cá mang sán trông vẫn khỏe, nhưng có thể lây cho cả đàn cá chưa từng tiếp xúc với sán. Trứng và ấu trùng sán còn sống được trong bể mà không cần bám trên cá.
Cá bị căng thẳng thì nguy cơ cao hơn. Những nguồn gây căng thẳng hay gặp là:
- nuôi quá dày
- nước kém
- thức ăn thiếu chất
- cá rượt đánh nhau
Người ta đã chứng minh cortisol, hormone stress của cá, làm sán monogenea sinh sản mạnh hơn.
Làm gì ngay
- Đo amoni, nitrit, pH và xem lại chất khử clo trước khi kết luận là sán.
- Tăng sục khí hoặc khuấy mặt nước suốt thời gian chữa. Nước ấm giữ ít oxy hơn, trong khi cá bị sán mang lại chịu thiếu oxy kém.
- Theo dõi sát khi đánh thuốc. Cá nào phản ứng xấu thì vớt ra khỏi thuốc ngay.
- Đừng cho ăn nhiều trong lúc chữa, vì thức ăn thừa làm amoni tăng.
Cá yếu hoặc nhiễm quá nặng có thể không qua nổi đợt chữa.
Chữa
Praziquantel là thuốc lựa chọn hàng đầu cho sán monogenea. Ở Mỹ, FDA chưa duyệt thuốc này cho cá, nên muốn dùng cho cá thì phải có bác sĩ thú y kê đơn.
Các nguồn ghi liều và lịch dùng khác nhau:
| Cách dùng | Liều và lịch |
|---|---|
| Tắm trong bể | 2,5 mg/L trong 24 giờ, sau đó thay 50% nước. Lặp lại vào ngày 7 và ngày 14 vì thuốc không diệt trứng. |
| Thả trong nước, trên 25°C | 2–3 mg/L, 3–4 ngày đánh một lần, tổng cộng 20 ngày. |
| Thả trong nước, 20–25°C | 2–3 mg/L, 4–5 ngày đánh một lần, tổng cộng 25 ngày. |
| Diệt Dactylogyrus trong bể khép kín | 3 đợt, mỗi đợt 5–6 ngày ở 2,5 mg/L/ngày. Giữa các đợt nghỉ 1–4 tuần không thuốc. |
| Dùng dài ngày | Bắt đầu ở 2,5 mg/L, lặp lại cách ngày. Một số loài chịu được tổng liều cộng dồn đến 10 mg/L. |
| Tắm ngắn | 10 mg/L trong 3 giờ. |
| Trộn thức ăn | 35–125 mg/kg trộn vào thức ăn, tối đa 3 ngày. |
Giữa các lần đánh praziquantel, bạn thay 50–75% nước.
Nếu dùng praziquantel dạng bột, hãy hòa bột với một ít cồn, đổ vào xô nước lấy từ bể, khuấy đều rồi mới cho vào bể. Bột tan không hết có thể làm hư mang cá nặng.
Người ta mô tả praziquantel ở liều chữa bệnh là an toàn với gần như mọi loài nước ngọt, kể cả tép, ốc và cây thủy sinh. Thuốc cũng không hại vi sinh trong lọc. Tuy vậy, có ghi nhận cá hôn (kissing gourami) phản ứng xấu với một sản phẩm praziquantel. Trước khi xả nước bể cảnh có praziquantel ra ngoài, bạn cho nước chạy qua than hoạt tính.
Formalin (formaldehyde) là lựa chọn khác, nhưng mỗi nguồn ghi một kiểu:
- 30 mg/L kèm sục khí mạnh. Nếu cần thì đánh lại sau khoảng 30 ngày.
- 0,15–0,25 ml/L trong 30–60 phút, chỉ dùng trong bể cách ly sục khí tốt. Tuyệt đối không dùng trong bể trưng bày có cây hoặc tép, ốc.
Formalin ngốn oxy, và cá đang bệnh chịu thuốc này kém. Một số sán cũng đã cho thấy kháng formaldehyde.
Một nghiên cứu trên cá chép con nhiễm Dactylogyrus anchoratus cho thấy hai cách sau đều làm giảm hơn 90% mức nhiễm:
- tắm formaldehyde 0,17 ml/l trong 15 phút
- fenbendazole 25 mg/l, ngâm 2 lần, mỗi lần 12 giờ, nghỉ 24 giờ giữa hai lần
Từ kết quả này, nhóm nghiên cứu đề xuất các sản phẩm fenbendazole đã đăng ký có thể thay formaldehyde, vốn chưa đăng ký, để trị sán monogenea. Nghiên cứu này cũng thử ivermectin 0,031 mg/l trong 1 giờ, mebendazole 1 mg/l trong 12 giờ, và levamisole 50 mg/l trong 2 giờ hoặc 3 lần × 1 giờ.
Một vài lựa chọn khác:
- Levamisole 2 mg/L là lựa chọn hàng thứ hai, hiệu quả vừa phải.
- Oxy già (hydrogen peroxide) 300–560 mg/L trong 10 phút. Bạn phải hết sức cẩn thận, vì có những con cá không chịu nổi.
- Thuốc tím (kali permanganat) 2 mg/L, ngâm dài. Cách này hợp hơn khi cá bị cả columnaris hoặc nấm nước (water mould).
Muối cho kết quả thất thường với sán. Các mức hay dùng là:
- Nhúng muối 30–35 g/L trong 3–5 phút. Với ca không cấp tính, tắm muối nhẹ 5 g/L trong 90 phút.
- Nhúng cá nước ngọt vào nước biển ít nhất 10 phút, với một số loài sán là 15 phút. Cá lật mình thì vớt ra ngay.
- Muối 3–5 g/L chỉ làm cá dễ chịu hơn một chút, không diệt chắc được sán trưởng thành.
Một thí nghiệm dùng muối 25 g/L trong 15 phút diệt sạch Gyrodactylus turnbulli nhưng chỉ diệt được 72% G. bullatarudis. Một nghiên cứu khác còn thấy nâng độ mặn từ 0 lên 3 g/L làm số Gyrodactylus tăng lên.
Thuốc gốc lân hữu cơ (trichlorfon, dichlorvos) trước đây từng dùng ở khoảng 0,25 mg/L hoạt chất. Nhóm này nguy hiểm cho cả cá lẫn người, và nhiều nước đã cấm dùng để trị sán cho cá. Có ghi nhận trichlorfon 0,5–2 ppm đi kèm dị tật cột sống ở Melanotaenia pygmaea. Nước thiếu oxy làm nhóm thuốc này độc hơn. Sau khi đánh, sán có thể quay lại trong 5–30 ngày, nên có khi phải đánh tới ba lần, mỗi lần cách nhau khoảng 21 ngày.
Cũng có nguồn ghi Dactycid có thể hại ốc.
Kiểm tra lại
Chữa xong, bạn lấy mẫu soi lại dưới kính hiển vi. Thời điểm soi lại ghi không rõ ràng, nhiều khả năng là sau 1–2 tuần.
Kênh mang ở koi chưa chắc là sán mang
Dân chơi koi ở Việt Nam gọi hiện tượng cá banh nắp mang là kênh mang, và có người gọi bệnh này là sán lá. Một nguyên nhân hay được bàn tới là ấu trùng sán lá Centrocestus formosanus. Đây là sán thuộc nhóm digenea, không phải monogenea. Ấu trùng đóng kén sâu trong sợi mang. Chúng vào cá qua ốc Melanoides tuberculata, còn sán trưởng thành sống trong chim và thú, kể cả người.
Một người bán koi kể rằng formalin, đồng sunfat, muối, thuốc tím và xanh malachite đều không diệt được ấu trùng trong mang. Người này dùng praziquantel trộn thức ăn ở mức 50–75 mg/kg thức ăn trong 3–5 ngày, cho ăn 10–15% trọng lượng thân cá. Họ nói cách này đã thử ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Praziquantel có mùi rất nặng. Trộn liều cao vào thức ăn thì cá có thể chê, và thuốc sẽ kém tác dụng. Trộn thêm chất kết dính để thuốc bám vào thức ăn.
Phòng
- Cách ly cá mới ít nhất bốn tuần trong bể đơn giản, lấy mẫu mang, vây và da soi dưới kính hiển vi.
- Nhúng cá mới trước khi thả vào bể đang chạy. Trong thời gian cách ly, bạn có thể cân nhắc đánh thuốc trị ký sinh phổ rộng để phòng.
- Trứng sán dính và chịu được thay đổi độ mặn, nên chỉ nhúng thôi có thể không sạch trứng.
- Cho cá ăn đủ chất và giữ nước ổn định để cá bớt căng thẳng.
- Xử lý cả bể chứ không riêng cá, và lặp lại liều. Trứng và ấu trùng sống được ngoài cá, còn trứng thì chịu được một số thuốc.
- Sán rất khó diệt tận gốc. Trước khi thả cá lại, bạn nên xả cạn, phơi khô và khử trùng bể.
Sai lầm hay gặp
- Bỏ các liều praziquantel nhắc lại. Trứng nở ra và bệnh bùng lại từ đầu.
- Dùng chất khử clo không khử được chloramine.
- Cho ăn nhiều trong lúc chữa làm amoni tăng.
- Thả cá mới mà không cách ly.
- Đánh formalin xuống hồ lúc chạng vạng. Formalin ngốn oxy.
Khi nào cần lo
- Cá ngoi lên đớp khí, mang sưng và nhợt. Đây là dấu hiệu ca nặng.
- Bể hoặc hồ nuôi dày. Trong điều kiện nuôi chật, số sán có thể tăng đến mức cá chết hàng loạt. Một người bán koi ở Việt Nam cũng kể hồ thả dày và lúc thời tiết thay đổi là lúc cá dễ nhiễm nặng ở mang.
- Nước ấm, vì nước ấm giữ ít oxy hơn. Ở Singapore, phòng không máy lạnh thường ở mức 28–31°C, và khi chữa ở nhiệt độ như vậy thì càng phải sục khí kỹ.
- Cá đã yếu hoặc nhiễm quá nặng. Những con này có thể không qua nổi đợt chữa.
Câu hỏi thường gặp
Tắm muối có trị được sán mang không?
Không chắc chắn. Muối 3–5 g/L chỉ làm cá dễ chịu hơn chút ít, không diệt chắc được sán trưởng thành. Một thí nghiệm với muối 25 g/L trong 15 phút diệt sạch một loài Gyrodactylus nhưng chỉ diệt được 72% loài khác. Một nghiên cứu còn thấy nâng độ mặn từ 0 lên 3 g/L làm số sán tăng.
Praziquantel có hại tép, ốc, cây và lọc không?
Ở liều chữa bệnh, người ta mô tả praziquantel là an toàn với gần như mọi loài nước ngọt, kể cả tép, ốc và cây, và không hại vi sinh trong lọc. Có ghi nhận cá hôn phản ứng xấu với một sản phẩm praziquantel. Bột thuốc tan không hết có thể làm hư mang cá.
Vì sao phải đánh praziquantel nhiều lần?
Vì thuốc không diệt trứng. Một cách làm là đánh 2,5 mg/L trong 24 giờ, thay 50% nước, rồi lặp lại vào ngày 7 và ngày 14. Bỏ các liều nhắc lại thì trứng nở ra và bệnh bùng lại.
Koi bị kênh mang có phải do sán mang không?
Chưa chắc. Ở koi, kênh mang có thể do ấu trùng sán lá Centrocestus formosanus đóng kén sâu trong sợi mang, chứ không phải do sán monogenea. Một người bán koi kể formalin, muối, thuốc tím, đồng sunfat và xanh malachite đều không diệt được ấu trùng này.
Làm sao biết chắc cá bị sán mang?
Bạn phải lấy mẫu mang, vây hoặc nhớt da soi dưới kính hiển vi, từ cá còn sống hoặc vừa chết. Trước đó, hãy đo amoni, nitrit, pH và loại trừ chloramine trong nước máy, vì nước kém và mang bị kích ứng rất dễ nhầm với sán.





Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.