Đơn vị
Giao diện

Nemacheilidae, Ấn Độ

Cá chạch công

Acanthocobitis pavonacea

Tên khác: Cá chạch báo, Cá chạch puma, Peacock Loach, Panther Loach, Puma Loach

Nhiệt độ
20–24°C
pH
6,5–7,5
Bể tối thiểu
120 cm
Độ khó
Vừa

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
20–24°C
pH
6,5–7,5
Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianKhóbể từ 120 cm, cá dài 15,6 cm
  • NướcDễpH 6,5–7,5, 2–12 dGH
  • Nhiệt độVừanước mát · 20–24°C
  • Tính cáchDễhiền

Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-28.

Thông tin nhanh

Cá chạch công (Acanthocobitis pavonacea) là một loài chạch họ Nemacheilidae cỡ lớn, sống ở lưu vực sông Brahmaputra thuộc bang Assam, đông bắc Ấn Độ. Với chiều dài chuẩn 120–156 mm, nó thuộc hàng lớn nhất trong nhóm chạch nemacheilid. Singer và Page (2015) xem đây là loài duy nhất của chi Acanthocobitis. Loài này ít gặp ngoài thị trường. Thỉnh thoảng vẫn có vài con lẫn trong các lô cá bắt ngoài tự nhiên từ đông bắc Ấn Độ, đôi khi được bán dưới tên chạch 'panther' hoặc 'puma'.1

Cần bể bao lớn?

  • Chiều dài chuẩn: 156 mm
  • Đáy bể: 120 × 30 cm
  • Thể tích: ~108 lít

Về lâu dài, cá sẽ cần bể có đáy rộng hơn 120 × 30 cm.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 20–24°C
  • pH: 6,5–7,5
  • Độ cứng: 2–12 dGH1
Detail of dorsal-fin and midbody.
©

Chăm sóc ra sao?

Cá sống tốt trong phần lớn các bể cỡ lớn, chăm sóc kỹ, miễn là có nhiều chỗ trốn. Nó cũng không phá các loại cây lá mềm.

Dù vậy, tốt nhất nên nuôi cá trong bể bố trí giống một đoạn suối hay sông chảy chậm, hoặc vùng nước ven bờ. Nền nên là cát, có thể thêm vài tảng đá đã bị nước mài tròn.

Bạn có thể trang trí thêm bằng rễ và cành lũa, xếp sao cho tạo ra vài khoảng bóng râm, rồi rải vài nắm lá khô của cây dẻ gai, sồi hoặc bàng (Terminalia). Các loại cây dễ tính như Microsorum, Bolbitis hay Anubias có thể buộc lên lũa, đá. Đèn mạnh sẽ giúp lớp aufwuchs (màng tảo và vi sinh vật bám trên bề mặt) phát triển, làm bể trông tự nhiên hơn.

Tuy dòng chảy mạnh không bắt buộc, cá nhiều khả năng cũng sống tốt trong bể kiểu suối đồi núi đã ổn định lâu, bố cục nhiều đá.1

Cho ăn gì?

Cá có vẻ không ăn thực vật. Ngoài tự nhiên, có lẽ nó săn ấu trùng côn trùng và những con mồi tương tự.

Trong bể, cá chịu ăn thức ăn khô dạng chìm. Dù vậy, bạn vẫn nên cho ăn đều đặn các loại mồi sống và đông lạnh cỡ nhỏ như Daphnia, Artemia, trùng huyết… Muốn cá khỏe nhất thì phải cho ăn đa dạng.1

Nuôi chung với con gì?

Vài báo cáo hiếm hoi về việc nuôi loài này cho thấy cá bạo dạn nhưng không hung hăng. Tuy vậy, cá trưởng thành khá to, vì thế tốt nhất không thả chung với những loài cá quá nhỏ.

Bạn cùng bể hợp nhất là những loài có kích cỡ tương đương và sống trong môi trường tương tự ngoài tự nhiên, như nhiều loài cá họ chép và cá chạch.

Các loài từ lưu vực Brahmaputra có thể nuôi chung gồm Acanthocobitis botia, Botia dario, Barilius barna, B. shacra, Chagunius chagunio, Tariqilabeo latius, Devario acuticephala, Garra arupi, G. kempi và G. lissorhynchus.

Có lẽ nuôi được một nhóm cá chạch công trong bể đủ rộng, nhưng chuyện này vẫn chưa có xác nhận chắc chắn.1

Detail of caudal-fin and posterior portion of body.
©

Phân biệt đực cái thế nào?

Con đực trưởng thành có vạt da dưới mắt (suborbital flap) to hơn, và thường thon hơn hẳn con cái.1

Sinh sản ra sao?

Đến nay chưa thấy ghi nhận nào về việc loài này sinh sản trong bể. Với các loài họ hàng, những lần thành công đều chỉ là một hai cá con tự xuất hiện trong bể lớn, đã ổn định lâu.1

Phân bố tự nhiên

Sống tự nhiên ở: Ấn Độ, Bangladesh1

Sông, hồ, vùng: Brahmaputra, Ganges1

Nguồn ghi gì
  • Ấn Độ · Seriously Fish1: “Type locality is simply 'Assam, India', and this species appears restricted to the Brahmaputra River drainage in Assam State, northeastern India and probably the neighbouring state of West Bengal given that A. longipinnis, a synonym of this species (see 'Notes'), was described from the Ganges drainage.”
  • Bangladesh, Brahmaputra, Ganges · Seriously Fish1: “Singer and Page (2015) restrict this species to the Brahmaputra and Ganges river basins of northern India and Bangladesh [p. 398].”

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Nơi thu mẫu chuẩn (type locality) chỉ ghi vỏn vẹn 'Assam, Ấn Độ'. Loài này có vẻ chỉ sống ở lưu vực sông Brahmaputra thuộc bang Assam, đông bắc Ấn Độ, và có lẽ cả ở bang West Bengal kế bên. Lý do là A. longipinnis, một tên đồng nghĩa của loài này (xem phần 'Ghi chú'), được mô tả từ mẫu ở lưu vực sông Hằng.

Singer và Page (2015) giới hạn vùng phân bố của loài này ở lưu vực sông Brahmaputra và sông Hằng thuộc miền bắc Ấn Độ và Bangladesh [tr. 398].1

Detail of head and mouth.
©

Môi trường tự nhiên

Đến nay vẫn chưa có thông tin chi tiết nào về môi trường sống của loài này.1

Ghi chú

Loài này ít gặp ngoài thị trường. Thỉnh thoảng có thể bắt gặp vài con lẫn trong các lô cá bắt ngoài tự nhiên từ đông bắc Ấn Độ, đôi khi được bán dưới tên chạch 'panther' hoặc 'puma'.

Trong tài liệu hiện nay, loài này hay xuất hiện dưới tên khoa học Nemacheilus pavonaceus. Tuy vậy, lúc mô tả ban đầu nó thuộc chi Cobitis, và về sau từng được xếp vào Noemacheilus lẫn Acanthocobitis. Theo Grant (2007), Acanthocobitis là chi đúng.

Theo Kottelat (1990), chi Acanthocobitis phân biệt chủ yếu nhờ các đặc điểm sau. Vây lưng có 9–18½ tia phân nhánh. Hoa văn không có vạch đen ở gốc vây đuôi, nhưng có một đốm mắt ở phía trên gốc vây đuôi. Môi trên có hoặc không có vài hàng nhú. Môi dưới có một khoảng hở rộng ở giữa, mỗi bên có một đệm nở rộng phủ nhú.

Loài chuẩn của chi là Acanthocobitis longipinnis Peters, 1861. Trong nhiều năm, loài này bị coi là tên đồng nghĩa muộn (junior synonym) của A. botia [theo cách xếp lúc đó], trong khi thực ra nó đồng nghĩa với A. pavonacea. Chi tiết này quan trọng vì một số tác giả đánh giá A. pavonacea là 'tách biệt về phân loại', tức là không có quan hệ gần với các loài Acanthocobitis khác. Những khác biệt rõ nhất gồm vây lưng tương đối dài (14–18 tia), vây đuôi thuôn nhọn hình mũi giáo (các loài kia có vây đuôi tròn, cụt hoặc hơi lõm), thân khá dài và mảnh, cùng kích thước trưởng thành. Grant (2007) đề xuất phân chi Paracanthocobitis cho các loài còn lại. Tuy nhiên, Kottelat (2012a) nhận xét rằng danh tính của A. longipinnis vẫn cần xác minh. Sau đó, Kottelat (2012b) xếp Paracanthocobitis là tên đồng nghĩa còn nghi vấn của Acanthocobitis.

Singer và Page (2015) xem Acanthocobitis là chi đơn loài, chỉ gồm A. pavonacea. Acanthocobitis longipinnis được coi là tên đồng nghĩa của A. pavonacea (Grant, 2007)[1]. Tuy nhiên, mẫu vật duy nhất hiện có của A. longpinnis là mẫu holotype bảo quản kém. Nếu thu thập được mẫu mới, có thể sẽ thấy hai dạng này phân biệt được với nhau [tr. 398].

Do loài chuẩn của chi ngay từ đầu đã là tên đồng nghĩa của A. pavonacea, A. pavonacea bắt buộc phải ở lại chi Acanthocobitis. Tiếp nối Grant (2007), Singer và Page (2015) nâng Paracanthocobitis lên thành chi để chứa chín loài "Acanthocobitis" còn lại, cùng năm loài mới mô tả trong công trình đó.

Họ Nemacheilidae phân bố rộng trên phần lớn lục địa Á–Âu. Tiểu lục địa Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc là những trung tâm đa dạng loài nổi bật của họ này.

Cảm ơn Steve Grant.1

Nguồn

1 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Grant, S. (2007). A new subgenus of Acanthocobitis Peters, 1861 (Teleostei: Nemacheilidae). Ichthyofile No. 2, 1-9
  • Kottelat, M. (1990). Indochinese nemacheilines. A revision of nemacheiline loaches (Pisces: Cypriniformes) of Thailand, Burma, Laos, Cambodia and southern Viet Nam. Verlag Dr. Friedrich Pfeil, München, Germany, 1-262
  • Tang, Q., H. Liu, R. Mayden and B. Xiong (2006). Comparison of evolutionary rates in the mitochondrial DNA cytochrome b gene and control region and their implications for phylogeny of the Cobitoidea (Teleostei: Cypriniformes). Molecular Phylogenetics and Evolution 39(2), 347-357
  • Grant, S. (2008). Schmerlen der Gattung Acanthocobitis Peters, 1861. BSSW-Report 20(3), 49-52
  • Kottelat, M. (2012). Acanthocobitis pictilis, a new species of loach from Myanmar and Thailand (Teleostei: Nemacheilidae). Zootaxa 3327, 45-52
  • Kottelat, M. (2012). Conspectus cobitidum: an inventory of the loaches of the world (Teleostei: Cypriniformes: Cobitoidei). Raffles Bulletin of Zoology Supplement 26, 1-199
  • Singer, R. A. and L. M. Page (2015). Revision of the zipper loaches, Acanthocobitis and Paracanthocobitis (Teleostei: Nemacheilidae), with descriptions of five new species. Copeia v. 103 (no 2), 378-4011

Chuẩn bị để nuôi Cá chạch công

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Bài viết nhắc đến loài này