Tetraodontidae, Thái Lan
Cá nóc mắt đỏ
Carinotetraodon lorteti
Tên khác: Cá nóc mắt đỏ Mekong, Redeye Puffer, Red-eyed puffer
- Nhiệt độ
- 20–28°C
- pH
- 5–7,5
- Bể tối thiểu
- 60 cm
- Độ khó
- Vừa
Bảng dữ liệu
Xem đủ bảng
- Nhiệt độ
- 20–28°C
- pH
- 5–7,5
- Độ cứng (dGH)
- 1–12
- Kích thước
- 6 cm
- Bể tối thiểu
- 60 cm
- Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?
Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:
- Không gianDễbể từ 60 cm, cá dài 6 cm
- NướcDễpH 5–7,5, 1–12 dGH
- Nhiệt độDễ20–28°C
- Tính cáchKhóhung dữ, hay cắn vây
Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
- Seriously Fish
- pH
- Seriously Fish
- Độ cứng (dGH)
- Seriously Fish
- Kích thước
- Seriously Fish
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
- Seriously Fish
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-06.
Thông tin nhanh
Cá nóc mắt đỏ (Carinotetraodon lorteti) là một loài cá nóc nước ngọt cỡ nhỏ. Cá có nguồn gốc từ hạ lưu sông Mê Kông và lưu vực sông Chao Phraya ở Đông Dương. Ngoài tự nhiên, cá sống ở chỗ nước chảy chậm hoặc nước đứng trong các suối rừng rợp bóng, nhánh sông nhỏ và vùng ngập lũ, thường lẩn giữa đám cây dày. Cá hay cắn vây bạn cùng bể và giữ lãnh thổ rất hung, nên tốt nhất là nuôi một con riêng. Nếu bể đủ rộng và bố trí hợp lý thì vẫn nuôi được cả nhóm.1
Cần bể bao lớn?
Bể nhỏ nhất nên dùng là 60 × 30 × 30 cm (khoảng 54 lít) hoặc bể có thể tích tương đương.1
Nước cần thế nào?
Chăm sóc ra sao?
Loài này cần một bể bày kỹ, có rễ hoặc cành lũa và trồng nhiều cây thủy sinh. Bạn có thể thả thêm cây nổi để bể râm hơn. Rải thêm lá khô xuống nền thì bể càng giống tự nhiên. Lớp lá này vừa cho cá chỗ trốn, vừa nuôi các quần thể vi sinh vật, và đây có thể là nguồn thức ăn đầu đời rất quý cho cá bột.
Dòng nước từ lọc không nên mạnh. Bạn nên thay nước ít một nhưng đều đặn, vì loài này rất nhạy khi chất lượng nước xuống cấp.1
Cho ăn gì?
Cá họ nóc không có răng thật. Xương hàm của chúng biến đổi thành bốn khối giống răng dính liền nhau. Bộ răng này mọc liên tục và nhanh đến bất ngờ. Vì vậy bạn cần thường xuyên cho cá ăn các loài không xương sống có vỏ như ốc, chân cua nhỏ, sò... để cá tự mài răng, giữ răng ở độ dài vừa phải. Một số bằng chứng cho thấy lớp sinh vật bám (aufwuchs) chiếm phần đáng kể trong khẩu phần của cá ngoài tự nhiên. Do đó bạn có thể để rêu mọc trên đá, lũa và các vật trang trí cứng, thậm chí cố ý cho rêu mọc, và việc này đáng cân nhắc.
Ngoài ra có thể cho cá ăn thêm hải sản có vỏ băm nhỏ, giun đất nhỏ, ấu trùng muỗi lắc (trùng huyết) sống hoặc đông lạnh, Artemia... Thức ăn khô không nên là món chính. Riêng loại viên thật cứng thì có thể dùng được.1
Nuôi chung với con gì?
Loài này không hợp với bể cộng đồng thông thường. Tốt nhất là nuôi riêng, vì cá hay cắn vây bạn cùng bể, nhất là trong bể nhỏ.
Cá giữ lãnh thổ rất hung. Dù vậy, bạn vẫn nuôi được cả nhóm nếu bể bố trí đúng cách (xem mục 'Bảo dưỡng') và đủ rộng.1
Nuôi chung
- Tính cách
- Hung dữ
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →
Phân biệt đực cái thế nào?
Sinh sản ra sao?
Loài này đã sinh sản được trong bể nuôi. Cá đực là bên chủ động tán tỉnh. Lúc này màu cá đậm lên, và cá dựng gờ lưng, gờ bụng để phô diễn. Trứng hơi dính, được đẻ giữa đám cây thủy sinh sát nền. Các loại rêu lá nhỏ như Taxiphyllum đặc biệt hợp để cá đẻ.
Sau khi đẻ, một mình cá đực ở lại canh trứng. Trứng thường nở sau 60–72 giờ. Cá bột mới nở còn túi noãn hoàng, và túi này tiêu hết trong khoảng hai ngày. Đến lúc đó cá bột bắt đầu bơi tự do. Vì cá bột rất nhỏ, những ngày đầu bạn nên cho ăn thức ăn cỡ trùng cỏ (infusoria).1
Phân bố tự nhiên
Nguồn ghi gì
- Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Mekong, Chao Phraya · Seriously Fish1: “Known from the lower Mekong basin in Thailand, Vietnam, and Cambodia, the Chao Phraya watershed in central Thailand, and may occur in smaller river systems between.”
GBIF có 9 ghi nhận ngoài tự nhiên: 8 trong các nước trên, 1 ở nơi khác (nhiều nhất: Indonesia 1). Ghi nhận ở nơi khác có thể là cá do người thả ra, hoặc nhận nhầm loài.
- Ghi nhận trong các nước bản địa
- Ghi nhận ở nơi khác
- Nước bản địa
- Mỗi ô khoảng 160 km.
Dữ liệu: GBIF.org, 9 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-07 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Môi trường tự nhiên
Cá sống ở chỗ nước chảy chậm hoặc nước đứng trong các suối rừng rợp bóng, nhánh sông nhỏ và vùng ngập lũ. Ở những nơi như vậy, cây thủy sinh hoặc cây ven bờ thường mọc rất dày. Đáy thì có thể phủ kín lá và cành cây rụng.1
Ghi chú
C. lorteti thuộc nhóm thường gọi là 'cá nóc mắt đỏ'. Nhóm này hiện có bốn loài được công nhận, phân bố ở Đông Dương và quần đảo Đại Sunda. Ba loài còn lại trong nhóm là C. borneensis, C. irrubesco và C. salivator. Có thể phân biệt C. lorteti với ba loài này qua tổ hợp đặc điểm sau. Vây lưng có 12–13 tia, vây ngực 14 tia, vây hậu môn 11–12 tia, vây đuôi 11 tia. Mắt không lồi lên khỏi đỉnh đầu. Cá đực có vây lưng ửng đỏ với đốm đen ở gốc, gốc vây ngực trong suốt, vây hậu môn ửng đỏ với đốm đen ở gốc. Vây đuôi cá đực có phần gần gốc màu xám, phần ngoài màu đen viền trắng. Họng cá đực không có vết, thân không có sọc ngang. Cá cái có mặt bụng trơn hoặc lấm tấm đốm mờ, vây đuôi có 4–5 sọc ngang.
Chi Carinotetraodon khác các chi khác trong họ Tetraodontidae ở hai điểm. Thứ nhất, cá đực có gờ lưng và gờ bụng đặc trưng. Thứ hai, con đực và con cái khác nhau rõ cả về hình dáng lẫn màu sắc. Tetraodontidae là họ nhiều loài nhất trong bộ Tetraodontiformes. Phần lớn các loài trong họ sống ở vùng nước ven biển Nam Mỹ, Trung Phi và Đông Nam Á. Đây là họ duy nhất trong bộ có một số loài chỉ sống ở nước ngọt. Bằng chứng di truyền cho thấy cá nóc tiến vào nước ngọt ở mỗi vùng vào những thời điểm khác nhau:
- Nam Mỹ: khoảng 0–10 triệu năm trước
- Trung Phi: 17–38 triệu năm trước
- Đông Nam Á: 48–78 triệu năm trước
Cá họ này thường được gọi là 'cá nóc' vì nhiều loài có thể phồng người to lên rất nhiều khi bị stress hoặc bị đe dọa. Để phồng lên, cá hút nước vào một túi phình chuyên biệt ở mặt bụng của dạ dày. Nếu bị nhấc khỏi nước, cá cũng có thể hút không khí vào túi này. Do cơ thể biến đổi như vậy, cá nóc bơi theo một kiểu riêng gọi là 'diodontiform'. Cá vừa uốn lượn vây ngực vừa uốn lượn các vây lẻ để bơi. Cá nóc còn phát ra được âm thanh bằng cách nghiến răng hàm hoặc răng hầu, hay rung bóng bơi. Cá nóc là cá nước ngọt thứ cấp, và đa số loài trong họ chỉ sống ở biển.
Họ cá nóc còn có những đặc điểm nhận dạng khác. Da cá dai và thường phủ gai nhỏ. Tấm răng hình mỏ được chia đôi bởi một đường khớp ở giữa. Khe mang thu nhỏ, nằm ngay trước gốc vây ngực. Cá không có vây bụng và không có tia vây cứng. Vây lưng và vây hậu môn thường có gốc ngắn. Cá cũng không có xương sườn.
Thịt cá nóc có độc, có thể gây ngộ độc phải điều trị và gây chết người. Dù vậy, ở một số nước, cá nóc vẫn được coi là món đặc sản. Độc tố chính thường là tetrodotoxin hoặc saxitoxin. Loại nào chiếm ưu thế còn tùy loài, tùy vùng và tùy thời điểm trong năm. Bản thân cá không tự sinh ra độc tố. Độc tố do vi khuẩn sống cộng sinh với cá tạo ra, hoặc cá tích lũy qua chuỗi thức ăn.1
Nguồn
1 nguồn và tài liệu tham khảo
- Seriously Fish seriouslyfish.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Tài liệu tham khảo
- Kottelat, M. (1986). A review of the nominal species of fishes described by G. Tirant. Nouvelles Archives du Muséum d'Histoire Naturelle, Lyon Fasc. 24, 5-24
- Tan, H. H. (1999). A new species of Carinotetraodon from Sumatra and Borneo and validity of C. borneensis (Teleostei: Tetraodontidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 10(4), 345-354
- Dekkers, W. J. (1975). Review of the Asiatic freshwater puffers of the genus Tetraodon Linnaeus, 1758 (Pisces, Tetraodontiformes, Tetraodontidae). Bijdragen tot de Dierkunde 45(1), 87-142
- Rainboth, W. J. (1996). FAO species identification field guide for fishery purposes. Fishes of the Cambodian Mekong. Rome, FAO, 1-265
- Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27, 1-663
- Ebert, K. (2001). The puffers of fresh and brackish waters. Aqualog, Rodgau, 1-96
- Lim, K. K. P. and M. Kottelat (1995). Carinotetraodon salivator, a new species of pufferfish from Sarawak, Malaysia (Teleostei: Tatraodontidae). Japanese Journal of Ichthyology 41(4), 359-365
- Tirant, G. (1885). Notes sur les poissons de la Basse-Cochinchine et du Cambodge. Excursions et reconnaissances v. 10, 91-198
- Britz, R. and M. Kottelat (1999). Carinotetraodon imitator, a new freshwater pufferfish from India (Teleostei: Tetraodontiformes). Journal of South Asian Natural History 4(1), 39-47
- Yamanoue, Y., M. Miya, H. Doi, K. Mabuchi, H. Sakai and M. Nishida (2011). Multiple Invasions into Freshwater by Pufferfishes (Teleostei: Tetraodontidae): A Mitogenomic Perspective. PLoS ONE 6(2), e174101
Chuẩn bị để nuôi Cá nóc mắt đỏ
Bể cáTối thiểu 60 cm
Thức ăn
Lọc, sủi khí và tạo dòng
Cây thủy sinh
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Video
Carinotetraodon Lorteti hatchlings0:16, EN
Kammkugelfisch - Carinotetraodon lorteti0:34, DE-DE
Carinotetraodon Lorteti Red Eye Puffers2:26, EN
Red Eye Red Belly Puffer (Carinotetraodon lorteti) Eating a Snail!1:32, EN
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá nóc mắt đỏ? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.

Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.