Đơn vị
Giao diện

Cyprinidae, Ấn Độ

Cá Pethia shalynius

Pethia shalynius

Tên khác: Shalyni Barb, Cá barb Shalyni

Nhiệt độ
16–24°C
pH
6–7,5
Bể tối thiểu
75 cm
Độ khó
Vừa

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
16–24°C
pH
6–7,5
Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianVừabể từ 75 cm, cá dài 5,5 cm
  • NướcDễpH 6–7,5, 2–12 dGH
  • Nhiệt độVừanước mát · 16–24°C

Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-07.

Thông tin nhanh

Cá barb Shalyni (Pethia shalynius) là một loài cá chép nhỏ, có vẻ là loài đặc hữu của bang Meghalaya ở đông bắc Ấn Độ. Người ta mới ghi nhận nó ở vài địa điểm thuộc vùng đồi Khasi và Jaintia. Phần lớn là những con suối ở độ cao trên 1200 m, nước mát, trong và nhiều oxy. Loài này có vẻ đang bị đe dọa do hoạt động công nghiệp. Cá rất hiền, nhưng không hợp với bể cộng đồng thông thường vì nó ưa nước mát.

  • Độ khó: Trung bình, vì cá cần bể đã chạy ổn định lâu và nước phải ổn định.1

Cần bể bao lớn?

Chiều dài chuẩn (SL): 5,5 cm.

Đáy bể: 75 × 30 cm. Thể tích: khoảng 68 lít.

Bạn cần bể có đáy tối thiểu 75 × 30 cm hoặc tương đương.1

Wild-collected specimens.
©

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 16–24°C
  • pH: 6,0–7,5
  • Độ cứng: 2–12 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Cá lên màu đẹp nhất dưới ánh sáng dịu. Chúng trông rất nổi trong bể trồng dày cây với nền màu hơi tối. Một lựa chọn khác là set bể mô phỏng sông suối, nền gồm đá và sỏi đủ cỡ, thêm vài tảng đá lớn đã bị nước mài nhẵn.

Bạn có thể bày thêm cành lũa và các cây như Microsorum, Bolbitis hoặc Anubias. Mấy loại cây này buộc lên lũa, đá là sống được.

Ngoài tự nhiên cá sống ở nước chảy và cần nước ổn định. Vì vậy tuyệt đối không thả chúng vào bể chưa ổn định vi sinh. Thay nước 30–50% thể tích bể mỗi tuần là việc bắt buộc.1

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, cá nhiều khả năng sục sạo kiếm ăn. Thức ăn của chúng là tảo silic, tảo, mùn hữu cơ, côn trùng nhỏ, giun, giáp xác và các loại động vật phù du khác.

Trong bể, cá dễ cho ăn. Muốn cá khỏe và lên màu đẹp nhất thì nên cho ăn đều đặn thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, bo bo, Artemia. Kèm theo đó là cám vảy và cám viên loại tốt, trong đó ít nhất một phần nên có thêm thành phần thực vật hoặc tảo.1

Specimen from the aquarium trade.
©

Nuôi chung với con gì?

Cá rất hiền nhưng khó hợp với bể cộng đồng thông thường, vì chúng ưa nước mát.

Bạn cùng bể tốt nhất có lẽ là những loài sống ở môi trường tương tự ngoài tự nhiên, nhất là các loài cá chép cùng cỡ bơi ở tầng nước thoáng. Ngoài ra bạn có thể chọn các loài chạch thuộc họ Balitoridae, Cobitidae và Nemacheilidae, hoặc các loài cá chép sống đáy như Crossocheilus và Garra.

Ngoài tự nhiên đây là loài sống theo đàn, nên mua ít nhất 6–10 con.

Nuôi đủ đàn thì cá bớt nhát và bể trông tự nhiên, đẹp mắt hơn. Cá đực cũng lên màu đẹp hơn khi có đối thủ cùng loài.1

Phân biệt đực cái thế nào?

Cá đực trưởng thành nhỏ hơn, thon hơn và nhiều màu hơn hẳn cá cái, nhất là vào mùa sinh sản.1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Địa điểm mô tả loài (type locality) là 'hồ Barapani, cách Shillong khoảng 20 km về phía bắc, đồi Khasi, Meghalaya, Ấn Độ, độ cao 1100 m'. Loài này có vẻ là loài đặc hữu của bang Meghalaya. Ở đây người ta mới ghi nhận nó tại vài địa điểm thuộc vùng đồi Khasi và Jaintia.

Loài này có vẻ đang bị đe dọa do hoạt động công nghiệp trong vùng. Những ghi nhận cũ ở Assam nhiều khả năng là do nhận dạng nhầm.1

Preserrved specimen from the aquarium trade.
©

Môi trường tự nhiên

Đây là loài sống ở tầng giữa và tầng đáy (benthopelagic). Phần lớn ghi nhận đến từ các con suối và nhánh suối nhỏ ở độ cao khá lớn, trên 1200 m so với mực nước biển. Nước ở đó mát, trong và nhiều oxy. Nền gồm đá gốc, đá tảng, đá cuội và sỏi.

Ở những nơi này thường không có cây thủy sinh, dù cây cối ven bờ có thể mọc rậm.

Loài này cũng sống ở một số ao và hồ nhỏ, kể cả vài vùng nước tù có nền bùn.

Tại Meghalaya có một con suối tên 'Seinpoh' chảy nhẹ trên nền đá. Người ta ghi nhận P. shalynius sống ngay trong suối, đồng thời bắt gặp chúng đẻ ở các ruộng lúa gần đó (Engeszer et al. 2007).

Sống chung ở địa điểm này có Danio rerio, D. meghalayensis và Olyra longicaudata, cùng vài loài thuộc chi Dario và Lepidocephalichthys chưa xác định được tên.

Phần lớn Meghalaya là đồi rừng và mưa rất nhiều. Vì vậy độ sâu, tốc độ dòng chảy, độ đục và thông số nước ở đây nhiều khả năng thay đổi mạnh vào một số thời điểm trong năm.1

Ghi chú

Loài này còn ít người chơi biết đến. Ngoài Ấn Độ thì chỉ thỉnh thoảng mới có hàng, dù người ta đang cố gắng sản xuất thương mại để bán làm cá cảnh.

Có thể phân biệt P. shalynius với các loài trông giống nó qua tổ hợp đặc điểm sau. Cá không có râu. Hàng vảy ngang có 6–7 vảy, hàng vảy dọc có 20–23 vảy. Đường bên không hoàn chỉnh, kết thúc ở hoặc trước vảy thứ 11. Phần trước thân không có đốm đen. Cuống đuôi có hai vệt đen, vệt phía trước rõ hơn. Dọc thân có một sọc xanh lam.

Trước đây loài này nằm trong 'nhóm' Puntius conchonius, gồm các loài có họ hàng gần với nhau: P. ater, P. bandula, P. conchonius, P. cumingii, P. didi, P. erythromycter, P. gelius, P. khugae, P. macrogramma, P. manipurensis, P. meingangbii, P. nankyweensis, P. nigripinnis, P. nigrofasciatus, P. padamya, P. phutunio, P. punctatus, P. reval, P. shalynius, P. stoliczkanus, P. thelys, P. tiantian và P. ticto. Pethiyagoda et al. (2012) đã chuyển toàn bộ các loài này sang chi mới Pethia. P. melanomaculata, P. pookodensis, P. muvattupuzhaensis, P. ornatus và P. yuensis cũng được chuyển theo.

Riêng 'Puntius' narayani không được chuyển sang chi mới. Hiện chưa rõ loài này thuộc chi nào, vì nó là loài duy nhất có 9 tia vây lưng phân nhánh và 6 tia vây hậu môn phân nhánh.

Các loài Pethia được nhận diện qua tổ hợp đặc điểm sau. Chúng không có râu mõm. Râu hàm rất nhỏ hoặc không có. Tia vây lưng không phân nhánh cuối cùng cứng và có răng cưa. Cuống đuôi có một vệt đen, và hai bên thân thường có thêm vệt, đốm hoặc sọc đen. Xương dưới ổ mắt thứ 3 rộng và chồng một phần lên xương nắp mang trước.

Nhiều năm liền, chi Puntius bị xem là một chi gom chung, đa ngành (polyphyletic), chứa hơn 100 loài cá chép cỡ nhỏ đến vừa. Tình trạng này kéo dài cho đến khi Pethiyagoda et al. (2012) công bố bản rà soát một phần, tập trung vào các loài ở Nam Á.

Phần lớn các loài Puntius ở vùng dưới chân dãy Himalaya được phân loại lại. Các chi mới Dawkinsia, Dravidia và Pethia được lập ra để chứa một số loài. Số còn lại hoặc vẫn ở trong Puntius, hoặc chuyển sang nhóm Systomus vốn có sẵn. Tuy vậy, định nghĩa của Systomus cũng bị sửa lại, nên một số loài Đông Nam Á trước đây xếp ở đó không còn thuộc nhóm này nữa.

Sau đó người ta phát hiện tên Dravidia đã bị một chi ruồi thịt dùng trước. Vì vậy Pethiyagoda (2013) đưa ra tên thay thế là Haludaria.

Nghiên cứu trên không xét loài nào ở Đông Dương, Trung Quốc hay Indonesia. Do đó khá nhiều loài từng thuộc Puntius hiện bị xếp là incertae sedis, tức chưa rõ vị trí phân loại. Một số loài Nam Á chưa được xác định rõ tình trạng cũng rơi vào trường hợp này.

Tạm thời có lẽ nên gọi các loài này là 'Puntius', đặt tên chi trong dấu ngoặc kép để cho thấy cách gọi này còn nghi vấn. Ở đây hiện cũng dùng cách viết đó.1

Nguồn

1 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Pethiyagoda, R., M. Meegaskumbura, and K. Maduwage (2012). A synopsis of the South Asian fishes referred to Puntius (Pisces: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 23(1), 69-95
  • Knight, J. D. M., K. Rema Devi, T. J. Indra and M. Arunachalam (2012). A new species of barb Puntius nigripinnis (Teleostei: Cyprinidae) from southern Western Ghats, India. Journal of Threatened Taxa 4(3), 2409-2416
  • Mercy, T. V. A. and E. Jacob (2007). A new species of Teleostei: Puntius pookodensis (Cyprinidae) from Wayanad, Kerala, India. Journal of the Bombay Natural History Society 104(1), 76-78
  • Kullander, S. O. and F. Fang (2005). Two new species of Puntius from northern Myanmar (Teleostei: Cyprinidae). Copeia 2005(2), 290-302
  • Engeszer, R. E., L. B. Patterson, A. A. Rao and D. M. Parichy (2007). Zebrafish in the wild: a review of natural history and new notes from the field. Zebrafish 4(1), 21-40
  • Ramanujam, S. N., M. Manorama, and S. Dey (2010). Ichthyodiversity of Meghalaya: India Electronic Journal of Ichthyology 6(2), 15-26
  • Yazdani, G. M. and S. Talukdar (1975). A new species of Puntius (Cypriniformes: Cyprinidae) from Khasi and Jaintia Hills (Meghalaya), India. Journal of the Bombay Natural History Society 72(1), 218-221
  • Pethiyagoda, R. (2013). Haludaria, a replacement generic name for Dravidia (Teleostei: Cyprinidae). Zootaxa 3646(2), 1991

Chuẩn bị để nuôi Cá Pethia shalynius

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Video

  • Pethia shalynius (wild) bij Aquarium Speciaalzaak Utaka0:56, EN

  • Pethia Shalynius0:05, EN

  • Pethia shalynius (wild)0:40, EN

  • releasing new fish"pethia shalynius"(shalynnai) in my pond #shillong #fish #pondfishing #meghalaya0:44, EN