Đơn vị
Giao diện

Cyprinidae, Lào

Cá barb Barbodes aurotaeniatus

Barbodes aurotaeniatus

Nhiệt độ
18–26°C
pH
6–7,5
Bể tối thiểu
80 cm
Độ khó
Dễ
Nhiệt độ
18–26°C
pH
6–7,5
Độ cứng (dGH)
2–15
Kích thước
6,5 cm
Bể tối thiểu
80 cm
Độ khó
Dễ 2/8
Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-01.

Nuôi chung

Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Thông tin nhanh

Barbodes aurotaeniatus là một loài cá chép nhỏ sống ở trung và hạ lưu sông Mekong, thuộc Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Loài này ít gặp trên thị trường cá cảnh. Chúng chỉ có một cặp râu hàm trên và không có râu mõm như các loài Barbodes khác. Hai bên thân cá thường có bốn vệt đen nhỏ dựng đứng. Ngoài tự nhiên, chúng sống ở suối, kênh tưới tiêu và mương. Cá có vẻ rất hiền, nuôi tốt nhất theo nhóm 6 đến 10 con có cả đực lẫn cái.1

Cần bể bao lớn?

Bể cần có đáy tối thiểu 80 × 30 cm hoặc diện tích tương đương, tức khoảng 72 lít.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 18–26°C
  • pH: 6,0–7,5
  • Độ cứng: 2–15 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Loài này khá dễ nuôi, miễn là bể được chăm sóc tốt. Tuy vậy, trong bể bày biện quá trống trải, cá có thể trông hơi nhợt màu.

Ánh sáng dịu cùng nền tối sẽ khiến cá lên màu đẹp nhất. Chúng sẽ trông rất tuyệt trong bể trồng cây có lũa, rễ cây xoắn và vài mảng cây nổi.

Cách bày lý tưởng nhất là dựng lại một đoạn suối chảy chậm.

Bạn có thể dùng nền cát, sỏi hoặc trộn cả hai. Có thể thêm vài viên đá nhẵn bị nước bào mòn, to nhỏ khác nhau.

Lọc không cần mạnh, nhưng nên tạo một chút dòng chảy. Thêm rễ cây, cành, nhánh nhỏ và ít cây thủy sinh để cá có chỗ ẩn.

Rải thêm vài nắm lá khô là bể ra dáng tự nhiên hẳn. Lá khô cũng có thể làm màu cá đẹp hơn.1

Cho ăn gì?

Nhiều khả năng đây là loài ăn tạp, chuyên lục lọi kiếm ăn. Thức ăn của chúng gồm giun, côn trùng và các động vật không xương sống nhỏ khác, cùng thực vật và mùn hữu cơ.

Trong bể, cá dễ cho ăn. Tuy vậy, muốn cá khỏe và đẹp màu nhất thì nên cho ăn đều đặn các loại thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, bo bo và Artemia. Bên cạnh đó là thức ăn khô dạng mảnh và dạng hạt loại tốt, trong đó ít nhất một phần nên có thêm thành phần thực vật hoặc tảo.1

Nuôi chung với con gì?

Cá có vẻ rất hiền, nên hẳn sẽ là thành viên lý tưởng cho một bể cộng đồng được tính toán kỹ.

Bạn nên chọn những loài sống ở môi trường tương tự ngoài tự nhiên, nhất là các loài bơi ở tầng nước thoáng như các loài cá chép khác cùng cỡ. Nhiều loài chạch cobitid, nemacheilid và chạch botiid cỡ nhỏ cũng hợp.

Hãy mua một nhóm ít nhất 6–10 con có cả đực lẫn cái, và nuôi thêm các loài cá bơi đàn khác để cá thấy an toàn. Làm vậy, bạn sẽ được ngắm một bể cá trông tự nhiên hơn.

Khi có con đực khác cùng loài để ganh đua, con đực cũng lên màu đẹp hơn.1

This species normally has 4 dark markings on each flank, but may occasionally have more, as seen in the specimen on the left here.
©

Phân biệt đực cái thế nào?

Con đực trưởng thành nhiều khả năng nhỏ hơn, thon hơn và sặc sỡ hơn con cái, nhất là khi vào mùa sinh sản.1

Sinh sản ra sao?

Có thể chưa có ghi nhận nào về việc loài này sinh sản. Dưới đây là cách làm dành cho các loài họ hàng:

Như phần lớn các loài cá chép nhỏ, các loài 'Puntius' đẻ trứng rải tự do và không chăm con.

Khi khỏe mạnh, chúng đẻ khá thường xuyên. Trong một bể đã ổn định lâu, có thể bạn sẽ thấy lác đác vài con cá bột xuất hiện mà không cần can thiệp gì.

Tuy nhiên, muốn thu được nhiều cá con nhất thì phải làm bài bản hơn.

Bạn vẫn có thể vỗ cả đàn cá bố mẹ chung một bể, nhưng cần set thêm một bể nhỏ hơn và đổ nước đã ổn định vào.

Bể này nên để ánh sáng thật tối. Đáy bể phủ một lớp lưới có mắt đủ to để trứng lọt xuống, nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không với tới. Loại thảm nhựa giả cỏ bán khắp nơi cũng dùng được và cho hiệu quả tốt. Một lớp bi thủy tinh cũng vậy.

Một cách khác là trồng kín phần lớn bể bằng cây lá mịn như các loài Taxiphyllum, hoặc thả búi sợi cho cá đẻ. Cách này cũng cho kết quả khá.

Nước nên có pH hơi axit đến trung tính, nhiệt độ ở mức cao trong khoảng đã nêu ở trên. Bạn nên đặt thêm một lọc bọt biển chạy bằng máy sủi hoặc một vài quả sủi khí để cấp oxy và tạo dòng chảy.

Khi cá bố mẹ đã được vỗ kỹ và cá cái trông căng trứng, thả một hoặc hai cặp vào bể đẻ. Cá sẽ đẻ vào sáng hôm sau.

Bạn cũng có thể cho cá đẻ theo đàn, khoảng sáu con mỗi giới là vừa, dù có thể sẽ cần bể lớn hơn.

Dù làm cách nào, cá bố mẹ nhiều khả năng sẽ ăn trứng nếu có dịp. Vì vậy, hãy vớt chúng ra ngay khi thấy trứng.

Trứng nở sau 24–36 giờ. Cá bột bắt đầu bơi tự do sau 3–4 ngày.

Vài ngày đầu, cho cá bột ăn thức ăn cỡ trùng cỏ. Khi cá đủ lớn thì chuyển sang giun vi sinh, ấu trùng Artemia hoặc các loại tương tự.1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Loài này được mô tả từ mẫu ở 'Thu-dâu-môt, Vietnam', thuộc hạ lưu sông Mekong. Theo hiểu biết hiện nay, chúng phân bố trên phần lớn trung và hạ lưu sông Mekong cùng các nhánh sông ở Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Ngoài ra, chúng còn có mặt ở vài lưu vực nhỏ ven biển đông nam Thái Lan.1

Môi trường tự nhiên

Loài này sống ở nhiều kiểu môi trường, từ suối nước chảy đến kênh tưới tiêu, mương và đôi khi cả hồ chứa.

Chúng sống chung với nhiều loài cá khác. Ví dụ, tại một điểm thuộc hệ thống sông Xe Kaman ở Lào, người ta ghi nhận chúng sống cùng Channa gachua, Devario gibber, Mastacembelus armatus, Monopterus albus, Rasbora paviana và Rhinogobius taenigena.1

Ghi chú

B. aurotaeniatus ít gặp trên thị trường cá cảnh.

Theo Kottelat (1998), loài này có một cặp râu hàm trên và đường bên hoàn chỉnh. Hoa văn thường gồm bốn vệt đen nhỏ dựng đứng ở hai bên thân, lần lượt nằm phía trên điểm đầu đường bên, dưới điểm bắt đầu vây lưng, dưới cuối gốc vây lưng và trên cuống đuôi. Ngoài ra còn một vệt ở mặt lưng, ngay dưới điểm bắt đầu vây lưng.

Trước đây loài này thuộc chi Puntius. Suốt nhiều năm, chi này bị xem là một nhóm đa ngành gom chung hơn 100 loài cá chép cỡ nhỏ đến trung bình. Tình hình chỉ thay đổi khi Pethiyagoda và cs. (2012) công bố một bản rà soát từng phần cho các loài ở Nam Á.

Phần lớn các loài Puntius vùng dưới chân Himalaya được xếp lại. Các chi mới Dawkinsia, Dravidia (sau sửa thành Haludaria) và Pethia được lập ra để chứa một số loài trong đó. Số còn lại hoặc vẫn ở trong Puntius, hoặc chuyển sang nhóm Systomus vốn đã có. Tuy nhiên, định nghĩa của nhóm Systomus cũng thay đổi, nên một số loài Đông Nam Á từng xếp ở đó nay không còn thuộc nhóm này.

Kottelat (2013) công bố một bản cập nhật danh pháp toàn diện cho cá Đông Nam Á. Trong đó, loài này nằm trong số nhiều loài Puntius cũ được chuyển sang chi Barbodes. Các loài Barbodes khác với các chi họ hàng ở hoa văn và cách hoa văn thay đổi khi cá lớn. Cá con nhỏ có 3–5 chấm dọc hàng vảy giữa thân, trong đó có một chấm ở giữa gốc vây đuôi, cộng thêm một chấm ở điểm bắt đầu vây lưng. Khi cá lớn dần, các chấm trên hàng vảy giữa thân có thể nhiều thêm và có thể nối lại thành một sọc hoặc một dải rộng. Chấm ở điểm bắt đầu vây lưng có thể to ra thành một mảng lớn hoặc một vạch rộng.

Ngoài ra, các đặc điểm sau cũng hữu ích khi định danh các loài Barbodes. Tia đơn cuối cùng của vây lưng có răng cưa ở mặt sau. Cá có râu mõm (trừ B. aurotaeniatus) và có râu hàm trên. Môi trơn và mỏng, rãnh sau môi bị ngắt ở giữa. Đường bên có thể hoàn chỉnh hoặc không, với 22–32 vảy trên hàng đường bên ở thân. Giữa điểm bắt đầu vây lưng và đường giữa bụng phía trước gốc vây bụng có ½4/1/4½ hàng vảy. Quanh cuống đuôi có 12 hàng vảy. Cung mang thứ nhất có 12–15 lược mang.1

Tài liệu tham khảo

  • Freyhof, J., D. V. Serov and T. N. Nguyen (2000). A preliminary checklist of the freshwater fishes of the River Dong Nai, South Vietnam. Bonner Zoologische Beiträge 49(1-4), 93-99
  • Kottelat, M. (2001). Fishes of Laos. WHT Publications, Colombo, 1-198
  • Kottelat, M. (1998). Fishes of the Nam Theun and Xe Bangfai basins, Laos, with diagnoses of twenty-two new species (Teleostei: Cyprinidae, Balitoridae, Cobitidae, Coiidae and Odontobutidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 9(1), 1-128
  • Rainboth, W. J. (1996). Fishes of the Cambodian Mekong. FAO Species Identification Field Guide for Fishery Purposes. FAO, Rome, 1-265
  • Pethiyagoda, R., M. Meegaskumbura, and K. Maduwage (2012). A synopsis of the South Asian fishes referred to Puntius (Pisces: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 23(1), 69-95
  • Pethiyagoda, R. (2013). Haludaria, a replacement generic name for Dravidia (Teleostei: Cyprinidae). Zootaxa 3646(2), 199
  • Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core biography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement No. 27, 1-6631

Nguồn

  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này, với sự cho phép của họ. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Thiết bị phù hợp

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.