Cyprinidae, Ấn Độ
Cá barb Manipur
Pethia manipurensis
- Nhiệt độ
- 18–25°C
- pH
- 5,5–7,5
- Bể tối thiểu
- 80 cm
- Độ khó
- Dễ
Tên khác: Red Jasper Barb, Cá barb jasper đỏ
- Nhiệt độ
- 18–25°C
- pH
- 5,5–7,5
- Độ cứng (dGH)
- 2–15
- Kích thướcCác nguồn ghi khác nhau
- 6,2 cm
- Bể tối thiểu
- 80 cm
- Độ khó
- Dễ 3/8
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
- Seriously Fish
- pH
- Seriously Fish
- Độ cứng (dGH)
- Seriously Fish
- Kích thước
Mỗi nguồn ghi một mức
- Aquarium Glaser: 4 cm
- Seriously Fish: 6,2 cm
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
- Seriously Fish
Dịch và tổng hợp từ Aquarium Glaser, Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-03.
Nuôi chung
- Tính cách
- Hiền
- Đàn tối thiểu
- 6 con
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →
Tóm tắt nhanh
Cá barb jasper đỏ (Pethia manipurensis) trưởng thành khoảng 4 cm, nên hợp với người chơi bể nhỏ. Đực lên màu có sọc đỏ dọc thân và mống mắt đỏ tươi, cái mống mắt hơi ngả vàng, nên dễ chọn cặp. Hồ sơ không ghi thông số nước, bể tối thiểu hay độ khó, nên cần tìm thêm trước khi nuôi.
AquaTome tóm tắt từ các nguồn bên dưới.
Thông tin nhanh
Aquarium Glaser ghi khác bảng dữ liệu: kích thước 4 cm (bảng: 6,2 cm).
Barbus manipurensis mãi đến năm 2000 mới có mô tả khoa học. Cá bắt ngoài tự nhiên chỉ dài tổng cộng 3-4 cm. Hai loài gần nó nhất là Red Sunspot Barb (B. stoliczkanus) và Odessa Barb (B. padamya). Cả ba loài vừa kể cũng có thể xếp vào chi Puntius.1
Pethia manipurensis là một loài cá nhỏ thuộc họ cá chép. Loài này dường như chỉ có ở hồ Loktak, huyện Bishnupur, bang Manipur, vùng đông bắc Ấn Độ. Ngoài tự nhiên, loài này được xếp vào nhóm nguy cấp và số lượng đang giảm dần. Dù vậy, người ta vẫn nhân giống thương mại để bán cho dân chơi cá cảnh. Cá đực có màu đỏ cam ở hai bên thân và vây đuôi, giống P. meingangbii và P. padamya. Điểm khác là dấu ở vai của loài này chỉ là một đốm nhỏ, còn hai loài kia có một vệt lớn, kéo dài theo chiều dọc.2
Cần bể bao lớn?
Bể cần có đáy tối thiểu 80 × 30 cm hoặc kích thước tương đương. Thể tích khoảng 72 lít.2
Nước cần thế nào?
Chăm sóc ra sao?
Cách bày trí bể không quá quan trọng. Dù vậy, cá thường lên màu đẹp hơn trong bể trồng dày cây và trải nền tối màu.
Cá cũng có vẻ thích khi bể có thêm ít cây nổi, rễ hoặc cành lũa và lá khô. Bể nhờ vậy cũng trông tự nhiên hơn.
Lọc không cần quá mạnh. Tuy vậy, cá có vẻ thích nước có chút dòng chảy và cũng sống tốt trong bể kiểu suối đồi.2
Cho ăn gì?
Ngoài tự nhiên, cá có lẽ sống bằng cách lục lọi kiếm ăn tảo cát, tảo, mùn bã hữu cơ, côn trùng nhỏ, giun, giáp xác và các loại động vật phù du khác.
Trong bể, loài này dễ cho ăn. Muốn cá khỏe và lên màu đẹp nhất thì nên cho ăn đều đặn các loại thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, bo bo và Artemia. Bên cạnh đó, cho ăn thêm thức ăn khô dạng mảnh và dạng hạt loại tốt, trong đó ít nhất một phần có bổ sung thành phần thực vật hoặc tảo.2
Nuôi chung với con gì?
Loài này nhìn chung rất hiền, rất hợp với bể cộng đồng có tính toán kỹ.
Cá không đòi hỏi gì đặc biệt về thông số nước, nên có thể nuôi chung với nhiều loài cá phổ biến nhất trong giới chơi cá. Đó là các loài cá họ chép nhỏ khác, cá tetra, cá đẻ con, cá cầu vồng, cá nhóm mê cung, cá da trơn và cá chạch.
Bản tính của loài này là sống thành đàn, nên mua ít nhất 6-10 con. Nuôi đủ số lượng như vậy thì cá bớt nhát, bể cũng trông đẹp và tự nhiên hơn. Thêm nữa, cá đực sẽ lên màu đẹp hơn khi có đối thủ cùng loài để ganh đua.2

Phân biệt đực cái thế nào?
Cá đực lúc lên màu sinh sản rất dễ nhận ra nhờ sọc đỏ chạy dọc thân. Tên thường gọi của loài cũng từ sọc đỏ này mà ra (jasper là một dạng silica đục dùng làm đá quý, nhất là loại màu đỏ). Ngoài ra còn một đặc điểm khác để phân biệt đực cái, và đặc điểm này lúc nào cũng thấy được. Mống mắt cá đực màu đỏ tươi, còn mống mắt cá cái hơi ngả vàng.1
Sinh sản ra sao?
Giống hầu hết các loài cá họ chép nhỏ, các loài Pethia đẻ trứng rải tự do và không chăm con.
Khi khỏe mạnh, cá đẻ khá thường xuyên. Trong bể đã ổn định lâu, có thể bạn sẽ thấy lác đác vài con cá bột xuất hiện mà không cần làm gì. Còn nếu muốn thu được nhiều cá con nhất thì cần làm bài bản hơn.
Đàn cá bố mẹ vẫn có thể nuôi vỗ chung với nhau. Song song đó, bạn nên set thêm một bể nhỏ hơn và châm đầy nước lấy từ bể đã ổn định. Bể này để ánh sáng thật mờ. Đáy bể phủ một tấm lưới có mắt đủ to để trứng lọt xuống nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không với tới. Loại thảm nhựa giả cỏ bán khắp nơi cũng dùng được và cho hiệu quả tốt, một lớp bi thủy tinh cũng vậy. Một cách khác là phủ kín phần lớn bể bằng cây lá nhỏ như Taxiphyllum spp., hoặc thả bùi nhùi cho cá đẻ. Cách này cũng cho kết quả khá ổn.
Nước nên có pH từ hơi axit đến trung tính, nhiệt độ ở mức gần cao nhất trong khoảng đã nêu ở trên. Bạn nên đặt thêm một lọc vi sinh chạy bằng máy sủi hoặc vài viên sủi khí để cấp oxy và tạo dòng chảy.
Khi cá bố mẹ đã được vỗ tốt và cá cái trông căng trứng, thả một hoặc hai cặp vào bể đẻ. Cá sẽ đẻ vào sáng hôm sau. Bạn cũng có thể cho cá đẻ theo nhóm, khoảng sáu con đực và sáu con cái là hợp lý, nhưng khi đó có thể cần bể lớn hơn.
Dù chọn cách nào, cá bố mẹ nhiều khả năng cũng sẽ ăn trứng nếu có dịp. Vì vậy, hãy vớt chúng ra ngay khi thấy trứng. Trứng nở sau 24 - 48 giờ, và khoảng 24 giờ sau đó cá bột bắt đầu bơi tự do. Mấy ngày đầu, cho cá bột ăn thức ăn cỡ trùng cỏ. Khi cá đủ lớn thì chuyển sang giun vi sinh, ấu trùng Artemia hoặc thức ăn tương tự.2
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Loài cá này đến từ bang Manipur của Ấn Độ. Tên loài cũng lấy theo tên bang này.1
Loài này được mô tả dựa trên mẫu thu ở hồ Loktak, huyện Bishnupur, bang Manipur, vùng đông bắc Ấn Độ, và dường như chỉ có ở hồ này. Đến nay chưa ai tìm thấy quần thể nào khác.
Trong hồ, P. manipurensis không nhiều. Loài này được xếp vào nhóm nguy cấp và số lượng đang giảm, dù vẫn có người nhân giống thương mại cho thị trường cá cảnh.2
Môi trường tự nhiên
Loktak là hồ lớn nhất vùng đông bắc Ấn Độ và bị khai thác nặng để lấy nước uống. Chất lượng nước trong hồ ngày càng kém đi vì phú dưỡng và bồi lắng. Thủ phạm là dòng nước đổ vào hồ mang theo chất dinh dưỡng, nước thải sinh hoạt và chất thải nông nghiệp.
Ngoài ra, rừng quanh hồ phần lớn đã bị chặt phá nên đất bị xói mòn nhiều hơn. Hồ còn bị lục bình (Eichhornia crassipes), một loài cây nổi, xâm lấn nặng.
Phần lớn mặt hồ bị phủ bởi những khối nổi lẫn lộn đất, thực vật và chất hữu cơ đang phân hủy ở nhiều mức độ khác nhau. Người dân địa phương gọi chúng là phumdi. Phumdi hình thành khi những khối nhỏ chất hữu cơ chưa phân hủy hoặc những đám lục bình dày bị phù sa lấp kín dần. Khi đó cây trên cạn có chỗ để mọc lên. Một phumdi dày tối đa khoảng 2,5 mét, trong đó khoảng 20% nhô lên khỏi mặt nước.
Phumdi hình thành tự nhiên rất có ích cho hệ sinh thái. Chúng giữ lại các chất dinh dưỡng chính và điều tiết sự luân chuyển của nước và chất dinh dưỡng trong hồ. Khi vớt lên, khối vật liệu này là một loại phân bón sinh học rất tốt. Khi đã đủ lớn, phumdi thường đủ vững để người ta dựng chòi hay trồng trọt trên đó. Ở Loktak có vài nghìn người sống cố định trên phumdi.
Khối phumdi liền lớn nhất rộng khoảng 40 km². Đây là nơi sống của quần thể cuối cùng còn sót lại của nai cà tông sừng nâu, Cervus eldi eldi. Khu vực này là Vườn quốc gia Keibul Lamjao. Nơi đây đã được bảo vệ chính thức từ vài chục năm nay và là vườn quốc gia nổi duy nhất trên thế giới.
Tuy nhiên, năm 1983 người ta xây một đập thủy điện trên sông Imphal, con sông thoát nước ra khỏi hồ. Con đập gây tác động rất lớn đến môi trường hồ. Nó chặn không cho các phumdi trôi tự do xuống hạ lưu, khiến phumdi trong hồ sinh sôi dày đặc. Thêm vào đó, người ta còn dùng rất nhiều phumdi để dựng các bẫy cá hình tròn cỡ lớn, đường kính trung bình 72 mét, gọi là athaphum. Hiện trên hồ có rất nhiều athaphum, có khu vực lên tới 40 cái trên một km².
Phumdi tăng ồ ạt như vậy đã làm giảm sức chứa của hệ sinh thái hồ và khiến bồi lắng nặng thêm. Ô nhiễm và lượng cá suy giảm cũng ảnh hưởng xấu đến đời sống của người dân sống dựa vào hồ. Bản chất của hồ đã thay đổi đáng kể. Một số loài cá từng sống ở đây, như Raiamas guttatus và Syncrossus berdmorei, đã biến mất.2
Ghi chú
Ý nghĩa tên gọi: Barbus là tiếng Latin, nghĩa là "kẻ có râu", ám chỉ các sợi râu của cá. Puntius lấy từ chữ "Punti" trong tiếng Bengal, dùng để gọi các loài barb kiểu này. manipurensis đặt theo tên bang Manipur của Ấn Độ. stoliczkanus đặt để tưởng nhớ nhà sưu tầm Ferdinand Stoliczka (1838-1874). padamya là chữ tiếng Myanmar, nghĩa là "hồng ngọc".
Nhờ thân hình nhỏ, loài này là một lựa chọn thay thế đáng cân nhắc cho những ai chơi bể nhỏ.1
Loài này còn ít người biết trong giới chơi cá cảnh. Ngoài Ấn Độ, chỉ thỉnh thoảng mới thấy bán.
Trước đây loài này nằm trong 'nhóm' Puntius conchonius, gồm các loài có họ hàng gần là P. ater, P. bandula, P. conchonius, P. cumingii, P. didi, P. erythromycter, P. gelius, P. khugae, P. macrogramma, P. meingangbii, P. nankyweensis, P. nigripinnis, P. nigrofasciatus, P. padamya, P. phutunio, P. punctatus, P. reval, P. shalynius, P. stoliczkanus, P. thelys, P. tiantian và P. ticto. Pethiyagoda và cộng sự (2012) đã chuyển toàn bộ các loài này sang chi mới Pethia. P. melanomaculata, P. pookodensis, P. muvattupuzhaensis, P. ornatus và P. yuensis cũng được chuyển theo.
Các loài trong nhóm được nhận diện qua tổ hợp đặc điểm sau: không có râu mõm, râu hàm rất nhỏ hoặc không có, tia vây lưng không phân nhánh cuối cùng cứng và có răng cưa, có một vết đen ở cuống đuôi và thường có thêm các vết, chấm hoặc vạch đen bên thân, xương dưới ổ mắt thứ 3 cao và chồng một phần lên xương nắp mang trước.
Trong nhóm này, P. manipurensis giống P. meingangbii và P. padamya nhất, vì cá đực của cả ba loài đều có màu đỏ cam ở hai bên thân và vây đuôi. Cách dễ nhất để nhận ra loài này là nhìn dấu ở vai. Dấu ở vai của P. manipurensis tương đối nhỏ, trông như một đốm. Còn ở hai loài kia, dấu này tương đối lớn và kéo dài theo chiều dọc.
Có thể phân biệt loài này với mọi loài khác trong chi Pethia qua tổ hợp đặc điểm sau: đường bên không hoàn chỉnh, chỉ có 3-5 vảy có lỗ, đốm ở vai nhỏ, theo chiều ngang chỉ phủ một vảy hoặc ít hơn và nằm hơi cao hơn đường bên, 24-25 vảy trên hàng dọc thân, 3 ½ vảy giữa hàng vảy đường bên và vây bụng, vây bụng và vây hậu môn không có đốm sẫm.
Trong nhiều năm, chi Puntius bị xem là một nhóm đa ngành kiểu gom chung, chứa hơn 100 loài cá họ chép cỡ nhỏ đến vừa. Tình trạng này kéo dài cho đến khi Pethiyagoda và cộng sự (2012) công bố một bản rà soát một phần, tập trung vào các loài ở Nam Á. Phần lớn các loài Puntius ở vùng dưới chân Himalaya được phân loại lại. Các chi mới Dawkinsia, Dravidia và Pethia được lập ra để chứa một số loài trong đó. Số còn lại hoặc được giữ trong Puntius, hoặc chuyển sang nhóm Systomus vốn đã có. Tuy vậy, định nghĩa của Systomus cũng đã thay đổi, nên một số loài Đông Nam Á trước đây xếp ở đó nay không còn thuộc nhóm này nữa.
Sau đó, người ta phát hiện tên Dravidia đã được dùng cho một chi ruồi thịt. Vì vậy, Pethiyagoda (2013) đưa ra tên thay thế là Haludaria.
Nghiên cứu năm 2012 không xét đến loài nào ở Đông Dương, Trung Quốc hay Indonesia. Do đó, khá nhiều loài trước đây thuộc Puntius hiện bị xếp vào diện incertae sedis, tức là chưa rõ vị trí phân loại. Một số loài Nam Á chưa được làm rõ cũng rơi vào tình trạng tương tự. Tạm thời, có lẽ tốt nhất nên gọi chúng là 'Puntius', đặt tên chi trong dấu ngoặc kép để cho thấy cách dùng này còn đáng ngờ.2
Tài liệu tham khảo
- Kullander, S. O. and F. Fang (2005). Two new species of Puntius from northern Myanmar (Teleostei: Cyprinidae). Copeia 2005(2), 290-302
- Kullander, S. O. and R. Britz (2008). Puntius padamya, a new species of cyprinid fish from Myanmar (Teleostei: Cyprinidae). Electronic Journal of Ichthyology, Bulletin of the European Ichthyology Society 2, 56-66
- Knight, J. D. M., K. Rema Devi, T. J. Indra and M. Arunachalam (2012). A new species of barb Puntius nigripinnis (Teleostei: Cyprinidae) from southern Western Ghats, India. Journal of Threatened Taxa 4(3), 2409-2416
- Menon, A. G. K., K. Rema Devi, and W. Vishwanath (2000). A new species of Puntius (Cyprinidae: Cyprininae) from Manipur, India. Journal of the Bombay Natural History Society 97(2), 263-268
- Shantakumar, M. and W. Vishwanath (2006). Inter-relationships of Puntius Hamilton-Buchanan (Cyprinidae: Cyprininae) found in Manipur, India. Zoos' Print Journal 21(6), 2279-2283
- Vishwanath, W. and J. Laisram (2004). Two new species of Puntius Hamilton-Buchanan (Cypriniformes: Cyprinidae) from Manipur, India, with an account of Puntius species from the state. Journal of the Bombay Natural History Society 101(1), 130-137
- Pethiyagoda, R., M. Meegaskumbura, and K. Maduwage (2012). A synopsis of the South Asian fishes referred to Puntius (Pisces: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 23(1), 69-95
- Pethiyagoda, R. (2013). Haludaria, a replacement generic name for Dravidia (Teleostei: Cyprinidae). Zootaxa 3646(2), 1992
Nguồn
- Aquarium Glaser aquariumglaser.de
- Seriously Fish seriouslyfish.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này, với sự cho phép của họ. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá barb Manipur? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.
Gửi ảnh Cá barb Manipur của bạn
Thiết bị phù hợp
- Bể cábể cá 40cmShopeeLazadaTiki
- Bể cábể cá nhỏ nuôi cá barbShopeeLazadaTiki
- Lọclọc thùng miniShopeeLazadaTiki
- Lọclọc bọt khí cho bể nhỏShopeeLazadaTiki
- Thức ănthức ăn cá nhỏShopeeLazadaTiki
- Thức ănthức ăn vi hạt cho cá cảnhShopeeLazadaTiki
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.