
Cobitidae, Ấn Độ
Cá chạch yo-yo
Botia almorhae
Tên khác: Cá chạch Pakistan, Yo-yo loach, Pakistani loach
- Nhiệt độ
- 19–27,5°C
- pH
- 6–7,5
- Độ cứng (dGH)
- 2–12
- Kích thước
- 16 cm
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
- Vừa 4/8
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-10-30.
Thông tin nhanh
Theo Seriously Fish
Có nên mua không?
Bể phải có nắp đậy kín vì loài này có tiếng hay nhảy. Cá chạch yo-yo (Botia almorhae) là một loài cá chạch họ Botiidae. Chúng sống ở một phần lưu vực sông Hằng (Ganges) tại miền bắc Ấn Độ và có thể cả Nepal. Người ta hay gọi nó là cá chạch 'Pakistan', nhưng gọi vậy là sai. B. almorhae theo nghĩa hẹp (sensu stricto) có vẻ thuộc một nhóm gồm nhiều loài rất gần nhau, và có lẽ chưa từng xuất hiện trên thị trường cá cảnh. Những con hay gặp nhất ngoài thị trường có vẻ là B. lohachata, B. sp. 'Kosi' và B. sp. 'Teesta', cùng đủ loại cá lai.
Theo Seriously Fish
Cần bể bao lớn?
Đáy bể tối thiểu nên là 120 × 45 cm hoặc tương đương. Thể tích khoảng 243 lít.
Theo Seriously Fish

Nước cần thế nào?
- Nhiệt độ: 19–27,5°C. Ngoài tự nhiên, gần như chắc chắn chúng phải trải qua những giai đoạn nước mát hơn vào một số thời điểm trong năm. Nuôi trong bể thì giữ ở khoảng giữa dải nhiệt này là đủ.
- pH: 6,0–7,5
- Độ cứng: 2–12 dGH
Theo Seriously Fish
Chăm sóc ra sao?
Mọi loài cá chạch họ Botiidae đều cần một bể bày trí có nhiều cấu trúc. Còn chọn vật trang trí cụ thể thế nào thì phần lớn tùy gu từng người.
Nếu muốn bày theo kiểu tự nhiên, bạn có thể dùng nền cát hoặc sỏi mịn, thêm nhiều đá và sỏi cuội nhẵn do nước mài, cùng rễ và cành lũa.
Ánh sáng để khá dịu cũng được. Nếu thích, bạn có thể thêm những cây sống được trong điều kiện này như Microsorum pteropus (dương xỉ java), Taxiphyllum barbieri (rêu java) hay Anubias spp. Mấy cây này còn có cái lợi là buộc được lên đồ trang trí, bố trí khéo thì tạo ra những chỗ bóng râm có ích.
Dù có trồng cây hay không, bạn cũng phải chừa thật nhiều chỗ trú, vì cá chạch Botiidae tò mò và có vẻ rất thích đi khám phá xung quanh. Đá, lũa, chậu hoa và đồ trang trí bể cá đều dùng được. Bạn phối thế nào cũng được, miễn ra hiệu quả mình muốn.
Nhớ rằng chúng rất thích lách vào khe nhỏ và hốc hẹp. Vì vậy, hãy bỏ hết những vật có cạnh sắc ra khỏi bể. Khe hay lỗ nào đủ nhỏ để cá chui vào mắc kẹt thì trám lại bằng keo silicone dùng cho bể cá. Nắp đậy kín cũng là thứ bắt buộc phải có, vì đám cá chạch này thỉnh thoảng vẫn nhảy.
Cá chạch Botiidae không cần nước chảy xiết, nhưng chúng khỏe nhất khi nước giàu oxy và có dòng chảy ở mức vừa phải. Chúng không chịu được chất thải hữu cơ tích tụ, và phải có nước thật sạch thì mới sống khỏe.
Vì thế, tuyệt đối không thả chúng vào bể chưa ổn định vi sinh. Chúng dễ thích nghi nhất với bể đã chạy lâu và ổn định. Về chăm sóc, thay 30-50% nước mỗi tuần nên coi là việc thường lệ.
Theo Seriously Fish
Cho ăn gì?
Botia spp. có vẻ chủ yếu ăn thịt, nhưng có thực vật thì chúng cũng ăn, thường là ăn cả cây thủy sinh lá mềm. Ngoài tự nhiên, chúng ăn động vật thân mềm sống dưới nước, côn trùng, giun và các loài động vật không xương sống khác.
Phần lớn chúng không kén ăn, nhưng bạn phải cho ăn đa dạng: thức ăn khô loại tốt, trùng huyết sống hoặc đông lạnh, trùng chỉ, Artemia..., cùng rau củ quả tươi như dưa leo, dưa, rau chân vịt chần hoặc bí ngòi.
Thức ăn tự làm từ nhiều nguyên liệu tự nhiên trộn lại rồi kết dính bằng gelatin cũng rất nên dùng.
Giun đất cắt nhỏ cũng là nguồn đạm tốt, nhưng chỉ nên cho ăn ít. Hầu hết cá chạch Botiidae cũng săn ốc nước, nhưng đừng trông vào chúng để dẹp nạn ốc bùng phát. Chúng không phải loài chuyên ăn thân mềm.
Khi đã quen bể, chúng ăn rất bạo dạn và thường bơi lên tầng giữa vào giờ cho ăn.
Theo Seriously Fish

Nuôi chung với con gì?
Loài này không quá hung dữ, nhưng những loài cá nhỏ hơn nhiều có thể bị chúng làm cho sợ, vì thân hình to và đôi lúc rất hiếu động. Cũng nên tránh nuôi chung với các loài bơi chậm, vây dài như betta cảnh, cá bảy màu và nhiều loài cichlid, vì vây dài dễ bị rỉa.
Hợp hơn là các loài cá họ chép hiền lành, sống ở tầng nước thoáng. Nếu bể lớn hơn, bạn có thể tính thêm các loài thuộc Barilius, Luciosoma, Balantiocheilos và Barbonymus.
Về cá tầng đáy, chúng sống tốt với hầu hết các loài Botia khác. Trong bể thật lớn thì nuôi chung với Chromobotia macracanthus cũng được.
Một số loài cá chạch họ Cobitidae và Nemacheilidae cũng nuôi chung được. Các loài thuộc Epalzeorhynchos, Crossocheilus, Garra và nhiều loài cá da trơn cũng vậy.
Như mọi khi, cách tốt nhất để tránh rắc rối là tìm hiểu kỹ trước khi chọn cá cho bể cộng đồng.
Botia spp. sống theo đàn và có thứ bậc xã hội phức tạp. Nên nuôi ít nhất 5 hoặc 6 con, tốt nhất là từ 10 con trở lên.
Nuôi một con lẻ loi thì cá có thể trở nên thu mình, hoặc hung hăng với những loài cá có dáng giống nó. Nếu chỉ mua một cặp hay ba con, con đầu đàn có thể làm những con còn lại căng thẳng đến mức bỏ ăn.
Các loài trong nhóm B. almorhae thường không bơi túm tụm chặt như vài loài cùng chi. Dù vậy, vẫn nên nuôi nhiều con vì chúng cần thường xuyên tiếp xúc với đồng loại. Bằng chứng rõ nhất là một số tập tính mang tính nghi thức đã được ghi nhận lặp đi lặp lại trong bể nuôi (xem phần 'Ghi chú').
Theo Seriously Fish
Phân biệt đực cái thế nào?
Cá cái trưởng thành thường có thân đầy đặn hơn cá đực.
Theo Seriously Fish
Sinh sản ra sao?
Chưa có báo cáo nào về chuyện loài này sinh sản trong bể của người chơi. Tuy vậy, một số loài được cho đẻ hàng loạt bằng hormone để cung cấp cho thị trường cá cảnh.
Đáng tiếc là vài năm gần đây chuyện này đã đi xa hơn hẳn. Nhiều dòng cá lai xuất hiện trên thị trường, thậm chí có cả con có vẻ là lai giữa một dạng B. histrionica với Chromobotia macracanthus.
Theo Seriously Fish

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
B. almorhae có vẻ thuộc một nhóm loài rất gần nhau nhưng vẫn là những loài riêng. Theo Grant (2007), nhóm này gồm:
B. almorhae Gray, 1831 - Loài này hay bị gọi là cá chạch 'Pakistan', nhưng gọi vậy là sai vì nó chỉ có ở một phần lưu vực sông Hằng tại miền bắc Ấn Độ và có thể cả Nepal. Trong bản mô tả, Gray (1831) chỉ ghi nơi thu mẫu chuẩn là 'Almorah'. Địa danh này ứng với huyện Almora, bang Uttarakhand, Ấn Độ, nên mẫu chuẩn (holotype) có thể lấy từ sông Kosi hoặc sông Sot (Grant, 2007). Ở lưu vực sông Kosi, người ta đã thu được loài này gần hai thành phố Roorkee và Kashipur (đều thuộc bang Uttarakhand). Loài này cũng được ghi nhận ở sông Yamuna (bang Delhi), sông Alaknanda (bang Uttarakhand), sông Markanda (phụ lưu của sông Yamuna, thuộc bang Himachal Pradesh và Haryana), sông Ghugger (bang Himachal Pradesh), sông Kali (gần thành phố Meerut và ở các huyện Muzaffarnagar, Bijnour thuộc bang Uttar Pradesh), sông Gambhir (huyện Sawai Madhopur, bang Rajasthan) và sông Chambal (huyện Kota, bang Rajasthan). Grant (2007) lưu ý rằng quần thể ở sông Chambal cần được nghiên cứu để xác nhận đó là B. almorhae hay một loài khác.
B. birdi Chaudhuri, 1909 - Loài này và B. lohachata có mặt ở đây vì đến nay vẫn chưa có ảnh của mẫu vật nào đã được xác nhận. Đây cũng là loài có thể gọi đúng tên cá chạch 'Pakistan', vì nó là loài bản địa của lưu vực sông Indus tại Pakistan và miền bắc Ấn Độ. Ở Pakistan, loài này đã được ghi nhận ở các phụ lưu dọc phần lớn chiều dài sông Indus, trong đó có sông Kabul và sông Jove ở tỉnh North-West Frontier. Nó cũng có mặt ở nhiều điểm thuộc tỉnh Punjab (có lẽ gồm cả sông Beas và sông Sutlej), ở tỉnh Balochistan (có nhiều báo cáo nhưng hiện chưa có thông tin chi tiết) và gần thành phố Sanghar, tỉnh Sindh. Năm 1995, một loài thứ hai ở Pakistan là B. javedi được mô tả từ sông Kabul gần thành phố Peshawar. Hiện loài này được coi là tên đồng nghĩa của B. birdi, dù Kottelat (2004) cho rằng cách xếp này còn đáng ngờ. Ở Ấn Độ, các điểm ghi nhận gồm sông Jhelam (một phụ lưu của sông Indus) ở bang Jammu và Kashmir, sông Sutlej ở bang Punjab, khu vực gần thị trấn Kangra ở bang Himachal Pradesh (gần như chắc chắn là sông Beas, một phụ lưu của sông Sutlej), và có thể cả sông Tawi, phụ lưu của sông Chenab ở Jammu và Kashmir.
B. lohachata Chaudhuri, 1912 - Đây là một loài khác cũng từng bị gọi là cá chạch 'Pakistan', nhưng mọi ghi nhận đã biết đều thuộc lưu vực sông Hằng ở Ấn Độ và Nepal. Ở Ấn Độ, loài này có mặt ở nhiều điểm thuộc bang Bihar, gồm các sông Gandak, Jamwari, Balkhau và Shalkia, cùng sông Rapti và sông Rohini ở huyện Gorakhpur thuộc bang Uttar Pradesh kế bên. Ở Nepal, nó được ghi nhận ở lưu vực các sông Kali Gandaki/Narayani (bên Ấn Độ gọi là Gandak), Rapti và Bagmati, cùng hai khu bảo tồn thiên nhiên Bardia và Shukla Phanta. Grant (2007) lưu ý rằng quần thể ở sông Karnali/Ghaghara thuộc vùng Seti (Nepal) và ở sông Gomti thuộc bang Uttar Pradesh (Ấn Độ) cần nghiên cứu thêm để biết chúng cùng loài với B. lohachata hay là những đơn vị phân loại khác. Tính hợp lệ của loài này vẫn còn bị đặt dấu hỏi, nhưng hiện tại nó vẫn được chấp nhận trên danh nghĩa.
B. sp. 'Kosi' - Dạng này đã được biết ở sông Kosi tại Nepal, sông Hooghly gần Kolkata (Tây Bengal, Ấn Độ), và có thể cả ở hai vùng Dhaka và Rajshahi của Bangladesh. Đây có thể là một dạng của B. almorhae, nhưng có vẻ khác ở vài điểm.
B. sp. 'Teesta' - Đến nay dạng này mới chỉ được ghi nhận ở sông Teesta/Tista thuộc bang Tây Bengal, Ấn Độ (một phần của lưu vực Brahmaputra). Cũng như dạng trên, nó có thể hóa ra chỉ là một biến thể của B. almorhae.
Theo Seriously Fish
Môi trường tự nhiên
Đây là loài sống ở sông. Chúng hay tụ lại ở các vũng sâu và những đoạn nước lặng hơn có nền đá. Trước khi sinh sản, cá di cư ngược dòng.
Theo Seriously Fish
Ghi chú
B. almorhae theo nghĩa hẹp (sensu stricto) thực sự trông ra sao vẫn còn là một bí ẩn. Không công bố khoa học nào trong số đã xem xét có ảnh cá sống, và cũng chưa tìm thấy tấm ảnh nào được xác nhận. Nghĩa là có thể loài này chưa từng xuất hiện trên thị trường cá cảnh.
Những con hay gặp nhất của nhóm loài mang tên này có vẻ là B. lohachata, B. sp. 'Kosi' và B. sp. 'Teesta' (xem ghi chú riêng từng loài bên dưới), cùng đủ loại cá lai xuất hiện từ đầu thế kỷ 21 (Grant, 2007).
Tên thông dụng nhất là cá chạch 'yo-yo', lấy từ hoa văn điển hình trên thân cá con trong nhóm. Hoa văn này gồm một loạt vạch đen, xám hoặc nâu hình chữ 'i' và chữ 'y' xen kẽ nhau (thường 4-5 vạch 'i' và 3 vạch 'y'). Ở hầu hết cá thể, nếu tưởng tượng mỗi vạch 'i' là phần giữa của một chữ 'o', bạn sẽ đọc ra được chữ 'yo-yo'.
Khi cá lớn dần, các vạch này vỡ ra, quá trình đôi khi được gọi là anastomosis. Nhóm B. almorhae còn khác các loài Botia khác ở màu nền thân 'trắng nhạt, vàng, vàng kim hoặc xanh lục rất nhạt' và kích thước trưởng thành khá lớn, tới 160 mm SL (Grant, 2007).
B. almorhae - Bản mô tả loài này rất sơ sài. Mãi một năm sau khi công bố, Gray mới đăng hình vẽ mẫu chuẩn (holotype) dưới cái tên B. grandi, nay là tên đồng nghĩa. Loài này hay bị nhầm với B. birdi và B. lohachata, và một số tác giả từng coi B. lohachata là tên đồng nghĩa muộn của nó.
Cá con có thân màu vàng nhạt với các vạch 'i' và 'y' màu nâu, vây lưng có 1-3 dải. Khi cá lớn, số dải trên cả vây ngực lẫn vây lưng tăng lên. Các vạch 'i' và 'y' nối vào nhau, tạo thành một loạt đốm vàng rất khác nhau giữa các cá thể. Một số con trưởng thành vẫn giữ lại một phần hoa văn 'i' và 'y', nhưng chuyện này có vẻ không phụ thuộc vào giới tính (Grant, 2007).
B. birdi - Cá con có màu vàng đến be, vạch 'i' và 'y' màu nâu đến đen. Ở cá trưởng thành, nửa dưới thân màu trắng ngả vàng, nửa trên sẫm hơn. Các vạch 'i' và 'y' không chạy tới mặt bụng. Ở một số cá thể, các vạch nối vào nhau, còn ở những con trưởng thành rất lớn thì có thể mất hẳn.
Vây ngực, vây hậu môn và vây bụng có thể không có hoa văn hoặc có 2-3 dải. Vây lưng có 2-3 dải nâu đến đen, vây đuôi có 3-4 dải. Chaudhuri (1909) ghi rằng mõm các mẫu vật của ông có màu hơi đỏ sau khi bắt lên.
Loài này trông rất giống B. almorhae. Grant (2007) chỉ tìm ra ba điểm khác biệt nhận ra được là kiểu màu, vùng phân bố và số đốt sống (27-30 ở B. almorhae, 30-31 ở B. birdi). Dù vậy, Grant cho rằng chừng đó đủ để giữ hai loài tách biệt chừng nào chưa có nghiên cứu di truyền.
Ngày nay lưu vực sông Indus và sông Hằng tách rời nhau, nhưng người ta cho rằng chỉ cách đây khoảng 4000 năm, sông Yamuna vẫn còn nối hai lưu vực này. Đó có thể là lý do các loài này giống nhau đến vậy.
Dù sao, bạn khó mà thấy B. birdi được bán, vì ở các con sông nơi nó sống không có hoạt động thu gom cá thương mại. Ảnh cá sống đã xác minh của loài này cũng gần như chưa từng có.
B. lohachata - Tính hợp lệ của loài này chưa bao giờ được giải quyết dứt điểm, vì nó được mô tả chỉ từ một mẫu cá con duy nhất. Cá non có ánh kim từ vàng đến bạc, còn cá trưởng thành có thân xám đến xanh lục, không có ánh kim. Thân thường có 3 vạch 'y'. Ở một số cá thể thuộc mọi lứa tuổi, các vạch này nối vào nhau hoặc vẫn tách rời.
Vây lưng có 2 hoặc 3 dải (thường là 3), vây đuôi 3-4 dải, vây hậu môn 1-2 dải (thường là 1), vây bụng 1-4 dải (số dải thường tăng theo tuổi) và vây ngực thường có 3 dải. Grant (2007) coi đây là loài riêng nhưng nhấn mạnh rằng vẫn cần xác nhận thêm. Dạng này có vẻ chắc chắn đã được xuất khẩu cho thị trường cá cảnh.
B. sp. 'Kosi' - Đây có thể là một loài chưa được mô tả. So với B. almorhae và B. lohachata, nó thường có màu nền thân nhạt hơn và thân thấp hơn so với chiều dài.
Grant (2007) đặt giả thuyết rằng đây có thể là loài chưa được mô tả. Lý do là năm 2005, Ng và Edds đã chứng minh rằng cá da trơn ở các con sông khác nhau tại Nepal (chẳng hạn Kosi, Narayani, Seti, Ghomti...), vốn trước đây bị coi là cùng một loài, thực ra là những loài khác nhau. B. sp. 'Kosi' thỉnh thoảng có bán trên thị trường.
B. sp. 'Teesta' - Grant (2007) coi đây là một loài chưa được mô tả, dựa vào vùng phân bố (lưu vực Brahmaputra chứ không phải lưu vực sông Hằng) và hoa văn hơi khác B. almorhae. Dạng này cũng đã xuất hiện trong giới chơi cá.
Theo cách xếp loại hiện nay, chi Botia phân bố từ lưu vực sông Indus ở Pakistan trải về phía đông qua miền bắc Ấn Độ, rồi xuống phía nam qua Myanmar tới tận lưu vực Salween (sông Ataran). Trước đây phạm vi này rộng hơn nhiều, nhưng các nghiên cứu hiện đại đã thay đổi phân loại của cả họ lẫn chi ở nhiều điểm.
Theo Kottelat (2004), chi Botia hiện được xác định bằng tổ hợp các đặc điểm sau. Thùy cằm phát triển thành một sợi râu. Thóp trán-đỉnh hẹp. Khoang trước của bóng hơi gần như được nang xương bao kín hoàn toàn, còn khoang sau lớn hoặc khá nhỏ. Mỏm trước của xương tiền hàm liền một khối, không bao quanh khoang rỗng nào. Mỏm mõm khá dài, có một gờ ít nhiều rõ chạy dọc mép trong. Đỉnh xương sàng trên (supraethmoid) hẹp hoặc rộng. Lỗ thị giác rất nhỏ. Gai dưới ổ mắt không cong mạnh về phía sau và chẻ đôi. Đầu trần, không có vảy.
Từ công trình của Nalbant (2002), họ Botiidae được nhiều người coi là một nhóm riêng biệt về mặt di truyền. Trước đó, nhóm này chỉ là một phân họ (Botiinae) trong họ Cobitidae. Nalbant cũng chuyển một số loài trước đây thuộc Botia sang chi mới Yasuhikotakia, dựa trên một số đặc điểm hình thái.
Sau đó, Kottelat (2004) tiếp tục chỉnh sửa phân loại. Ông lập chi Chromobotia cho B. macracanthus và xác nhận rằng các loài trước đây xếp vào chi Hymenophysa phải chuyển sang Syncrossus.
Thay đổi thứ nhất dựa trên kiểu màu cùng một số đặc điểm hình thái. Thay đổi thứ hai là vì Hymenophysa vừa là tên viết sai chính tả (McClelland viết gốc là Hymenphysa), vừa là tên đồng nghĩa muộn của Botia.
Gần đây hơn, Kottelat (2012) lập chi Ambastaia cho A. nigrolineata và A. sidthimunki, hai loài từng được xếp vào cả Botia lẫn Yasuhikotakia.
Sau các công trình này, họ Botiidae được chia thành hai tông, trong đó Botia có vẻ là dòng cơ sở nhất:
Tông Leptobotiini - Leptobotia, Parabotia, Sinibotia. Tông Botiini - Ambastaia, Botia, Chromobotia, Syncrossus, Yasuhikotakia.
Các nghiên cứu phát sinh chủng loại của Tang và cộng sự (2005) và Šlechtová và cộng sự (2006) phần lớn xác nhận hệ thống này là đúng. Tuy vậy, nghiên cứu sau không đồng ý với vị trí của Sinibotia, vì thấy chi này gần với tông Botiini hơn.
Ambastaia nigrolineata và A. sidthimunki hóa ra gần với cả Sinibotia lẫn Syncrossus hơn là với Yasuhikotakia, dù lúc đó hai loài này vẫn được xếp vào Yasuhikotakia. Šlechtová và cộng sự cũng đề xuất dùng tên phân họ theo hệ thống sau:
Phân họ Leptobotiinae - Leptobotia, Parabotia. Phân họ Botiinae - Botia, Chromobotia, Sinibotia, Syncrossus, Yasuhikotakia.
Trong hệ thống này, Botia có vẻ là dòng cơ sở, tức dòng cổ nhất. Trong một phân tích phát sinh chủng loại chi tiết hơn, Šlechtová và cộng sự (2007) xác nhận họ Botiidae là hợp lệ, với các chi kể trên là thành viên trực tiếp chứ không chia vào các phân họ. Ở đây dùng hệ thống mới hơn và đơn giản hơn này.
Một số tập tính của Botia spp. được ghi nhận thường xuyên đến mức người ta đặt cho chúng những cái tên không chính thức cho dễ gọi.
Ví dụ, khi tranh giành thứ bậc (chuyện này hay xảy ra nhất khi cá mới được thả vào bể mới, hoặc khi thêm cá mới vào đàn cũ), những con trong cuộc thường mất gần hết hoa văn và màu sắc. Hiện tượng này được gọi là 'xám đi' (greying out).
Đôi khi những màn này cũng xảy ra trong một đàn đã ổn định, khi các con tìm cách leo lên thứ bậc cao hơn. Thường thì chuyện này không có gì đáng lo.
Điều thú vị là một số quan sát cho thấy tính cách của con đứng đầu đàn (cá alpha) dường như ảnh hưởng đến cả đàn. Dù vậy, phải nói rằng gần như chưa có nghiên cứu khoa học nào về hành vi của cá chạch họ Botiidae.
Có vẻ chắc chắn là chúng có 'cá tính' ở mức nào đó. Chẳng hạn, có con vốn bạo dạn hoặc hung hăng hơn những con khác. Cá alpha thường là con lớn nhất đàn và thường là cá cái.
'Bám đuôi' (shadowing) là một tập tính thú vị. Những con nhỏ tuổi bơi sát sườn con lớn tuổi hơn và bắt chước từng cử động của nó. Một số người nuôi kể rằng có lúc nhiều con nhỏ cùng bám theo một con lớn, thậm chí ba bốn con mỗi bên!
Chưa ai biết vì sao cá làm vậy. Có thể đây là cách cả đàn giữ liên lạc với nhau khi nước sông dâng lên mùa lũ. Cũng có thể cá bơi 'theo đội hình' để giảm lực cản, hoặc tập tính này có một chức năng giao tiếp nào khác.
Người ta đã thấy tập tính này ở cả bể có dòng chảy mạnh lẫn bể có dòng chảy yếu. Nó có vẻ đã thành thói quen, đến mức nếu không có đồng loại, một số con sẽ bám theo cá loài khác.
Âm thanh có vẻ cũng quan trọng trong giao tiếp, vì các loài cá chạch này phát ra được tiếng lách cách mà tai người nghe thấy. Khi cá phấn khích, tiếng càng to. Mặt hành vi của hiện tượng này gần như chưa được nghiên cứu, nhưng người ta cho rằng tiếng kêu phát ra do cá nghiến răng hầu (răng họng) hoặc gai dưới ổ mắt.
Một điều lạ nữa là cái gọi là 'điệu nhảy của cá chạch' (loachy dance). Cả đàn bơi liên tục, bồn chồn quanh các mặt bể, thường tận dụng hết chiều dài và chiều cao bể.
Chưa rõ vì sao chúng làm vậy, và thời điểm xảy ra cũng khác nhau tùy báo cáo. Những tác nhân hay gặp nhất có vẻ là cho ăn, châm nước mới hoặc thả thêm đồng loại mới. Điệu nhảy có thể kéo dài từ vài phút đến một ngày hoặc hơn.
Cá chạch Botiidae cũng hay nằm nghỉ ở những tư thế kỳ cục, khi thì chèn dọc hoặc nằm nghiêng giữa các món trang trí, có khi nằm bẹp trên nền. Đây không phải dấu hiệu đáng lo, và có vẻ chỉ là cách nghỉ ngơi tự nhiên của chúng.
Botia spp. còn có gai dưới ổ mắt sắc và cử động được. Bình thường gai nằm giấu trong một túi da, nhưng sẽ dựng lên khi cá bị căng thẳng, chẳng hạn khi bị nhấc ra khỏi nước. Vì vậy, bạn phải cẩn thận khi bắt cá. Gai có thể mắc vào vợt, và gai của cá lớn có thể đâm rách da người.
Cá chạch Botiidae cũng dễ mắc một chứng thường gọi là 'bệnh gầy' (skinny disease), với biểu hiện là cá sụt cân. Bệnh đặc biệt hay gặp ở cá mới nhập về. Người ta cho rằng thủ phạm là một loài trùng roi thuộc chi Spironucleus.
Bệnh này chữa được, nhưng thuốc được khuyên dùng khác nhau tùy nước. Người chơi ở Anh thường dùng kháng sinh Levamisole, còn người chơi ở Mỹ dùng Fenbendazole (còn gọi là Panacur).
Theo Seriously Fish
Tài liệu tham khảo
- Chaudhuri, B. L. (1912). Descriptions of some new species of freshwater fishes from north India. Records of the Indian Museum (Calcutta) 7(5), 437-444
- Grant, S. (2007). Fishes of the genus Botia Gray, 1831, in the Indian region (Teleostei: Botiidae). Ichthyofile Number 2, 1-106
- Kottelat, M. (2004). Botia kubotai, a new species of loach (Teleostei: Cobitidae) from the Ataran River basin (Myanmar), with comments on botiine nomenclature and diagnosis of a new genus. Zootaxa 401, 1-18
- Nalbant, T. T. (2002). Sixty million years of evolution. Part one: family Botiidae (Pisces: Ostariophysi: Cobitoidea). Travaux du Museum d'Histoire Naturelle 'Grigore Antipa' 44, 309-333
- Nalbant, T. T. (2004). Hymenphysa, Hymenophysa, Syncrossus, Chromobotia and other problems in the systematics of Botiidae. A reply to Maurice Kottelat. Travaux du Museum d'Histoire Naturelle 'Grigore Antipa' 47, 269-277
- Ng, H. H. (2007). Botia udomritthiruji, a new species of botiid loach from southern Myanmar (Teleostei: Botiidae). Zootaxa 1608, 41-49
- Šlechtová, V., J. Bohlen, J. Freyhof and P. Ráb (2006). Molecular phylogeny of the Southeast Asian freshwater fish family Botiidae (Teleostei: Cobitoidea) and the origin of polyploidy in their evolution. Molecular Phylogenetics and Evolution 39(2), 529-541
- Tang, Q., B. Xiong, X. Yang and H. Liu (2005). Phylogeny of the East Asian botiine loaches (Cypriniformes, Botiidae) inferred from mitochondrial cytochrome b gene sequences. Hydrobiologia 544(1), 249-258
- Šlechtová, V., J. Bohlen and H. H. Tan (2007). Families of Cobitoidea (Teleostei; Cypriniformes) as revealed from nuclear genetic data and the position of the mysterious genera Barbucca, Psilorhynchus, Serpenticobitis and Vaillantella. Molecular Phylogenetics and Evolution 44(3), 1358-1365
- Tang, Q., H. Liu, R. Mayden and B. Xiong (2006). Comparison of evolutionary rates in the mitochondrial DNA cytochrome b gene and control region and their implications for phylogeny of the Cobitoidea (Teleostei: Cypriniformes). Molecular Phylogenetics and Evolution 39(2), 347-357
- Kottelat, M. (2012). Conspectus cobitidum: an inventory of the loaches of the world (Teleostei: Cypriniformes: Cobitoidei). Raffles Bulletin of Zoology Supplement 26, 1-199
Theo Seriously Fish
Bài viết nhắc đến loài này
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá chạch yo-yo? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.
Gửi ảnh Cá chạch yo-yo của bạn
Thiết bị phù hợp
- Bể cábể cá 120cmShopeeLazadaTiki
- Bể cábể cá 240 lítShopeeLazadaTiki
- Lọclọc thùng cho bể lớnShopeeLazadaTiki
- Lọclọc ngoài bể cáShopeeLazadaTiki
- Nền và lácát mịn cho cá chạchShopeeLazadaTiki
- Nền và lásỏi nhỏ bể cáShopeeLazadaTiki
- Thức ănthức ăn cho cá chạchShopeeLazadaTiki
- Thức ăntrùng huyết đông lạnhShopeeLazadaTiki
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.