Đơn vị
Giao diện

Cichlidae, Cộng hòa Trung Phi

Cá cichlid Congochromis dimidiatus

Congochromis dimidiatus

Nhiệt độ
22–25°C
pH
6–7
Bể tối thiểu
60 cm
Độ khó
Khó
Nhiệt độ
22–25°C
pH
6–7
Độ cứng (dGH)
5–8
Kích thước
6,2 cm
Bể tối thiểu
60 cm
Độ khó
Khó 6/8
Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-03.

Nuôi chung

Tính cách
Hơi dữ

Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Tóm tắt nhanh

Hợp với người thích cichlid nhỏ (6,2 cm), muốn nuôi một cặp hoặc cho đẻ. Cần bể dài tối thiểu 60 cm, nền cát mềm, nhiều hang và góc râm, ánh sáng tối. Nước 22–25 °C, pH 6–7, độ cứng 5–8 dGH. Độ khó 6/8 (khó) vì cá cần nước ổn định và phải chọn bạn cùng bể cẩn thận.

Lỗi hay gặp

  • Thả cá vào bể mới set khi hệ vi sinh chưa ổn định. Nên đợi bể ổn định rồi mới thả, vì loài này cần nước ổn định.
  • Nuôi chung với cichlid khác hoặc cá sống đáy cỡ lớn. Chúng tranh lãnh thổ và tranh ăn, nên chọn cá đàn nhỏ như Ladigesia roloffi hoặc Boraras.
  • Để cặp còn non ở chung mà không theo dõi. Một số con đực quay sang tấn công con cái, nên chuẩn bị sẵn chỗ để tách con cái ra.

AquaTome tóm tắt từ các nguồn bên dưới.

Thông tin nhanh

Congochromis dimidiatus là một loài cichlid nhỏ sống ở vùng trung tâm lưu vực sông Congo, thuộc Cộng hòa Congo và CHDC Congo. Mẫu dùng để mô tả loài lấy từ Bangui, bên sông Ubangi. Phần lớn tài liệu cá cảnh cũ gọi nó là Nanochromis dimidiatus. Sọc sẫm chạy dọc thân kéo dài vào tận vây đuôi, và đây là điểm để phân biệt nó với C. sabinae. Nhiều mẫu vật trong bảo tàng được định danh từ trước khi chi này tách ra, nên một số mẫu có thể thuộc loài khác.1

Cần bể bao lớn?

Một cặp cần bể có đáy tối thiểu 60 × 30 cm hoặc cỡ tương đương (khoảng 54 lít), dù bạn nuôi để cho đẻ hay nuôi chơi bình thường. Muốn nuôi nhiều hơn một cặp thì bể phải lớn hơn nhiều.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 22–25°C
  • pH: 6,0–7,0
  • Độ cứng: 5–8 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Loài này sống sát đáy, vì vậy nên dùng nền cát mềm. Bạn cũng cần bố trí vài cái hang để cá có chỗ đẻ. Chậu đất nung, nửa gáo dừa hay mấy đoạn ống nhựa ngắn đều dùng được. Thêm rễ lũa và cành lũa, xếp sao cho bể có nhiều góc râm.

Lá khô như lá dẻ gai, lá sồi hoặc lá bàng cho cá thêm chỗ trốn. Khi lá mục dần, vi sinh vật sẽ phát triển thành từng quần thể trên đó, và cá bột có thêm nguồn thức ăn.

Ánh sáng nên để khá tối. Những cây chịu được điều kiện này gồm Anubias, Microsorum, Taxiphyllum và các loài Cryptocoryne trồng trong chậu. Vài mảng cây nổi trên mặt nước sẽ làm ánh sáng dịu bớt. Lọc nhẹ, mặt nước hơi xao động một chút là đủ.

Các loài Congochromis cần nước ổn định. Tuyệt đối không thả chúng vào bể mới set, khi hệ vi sinh chưa ổn định.1

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, các loài Congochromis kiếm ăn dưới đáy. Chúng ăn mùn bã hữu cơ, vụn thực vật và động vật không xương sống nhỏ.

Trong bể, bạn nên cho ăn đa dạng các loại thức ăn chế biến sẵn dạng hạt nhỏ, chất lượng tốt, trong đó có loại chứa nhiều Spirulina hoặc thành phần tương tự. Thỉnh thoảng cho thêm trùng huyết sống hoặc đông lạnh, bo bo, Artemia và bọ gậy.1

Nuôi chung với con gì?

Loài này nuôi chung bể cộng đồng được, miễn là bạn chọn bạn cùng bể cẩn thận. Hợp nhất là các loài cá đàn nhỏ như Ladigesia roloffi hay Lepidarchus adonis, các loài barb nhỏ châu Phi và killifish chi Aplocheilichthys. Cá tetra Nam Mỹ hiền lành, Otocinclus, các loài cá chuột Corydoras cỡ nhỏ, cùng các loài cá chép Đông Nam Á như Trigonostigma hay Boraras cũng nuôi chung được.

Trừ khi bể rất lớn, tốt nhất đừng nuôi chung với cichlid khác. Các loài sống đáy cỡ lớn hơn thì hoàn toàn không nên cho vào bể, vì chúng sẽ tranh lãnh thổ và tranh ăn.

Nếu muốn cho đẻ, hãy nuôi riêng một cặp, hoặc nuôi cặp đó cùng một đàn cá dither miệng nhỏ, không săn mồi như các loài Nannostomus. Cá dither là cá thả kèm để cá chính bớt nhát. Loài này không quá hung dữ, nhưng con đực có tính lãnh thổ. Với phần lớn các bể, nuôi một cặp là tốt nhất. Trong bể lớn hơn thì một nhóm có thể sống chung được.1

Laichreifes Weibchen von Congochromis dimidiatus aus der Lac Mai Ndombe Region.
©

Phân biệt đực cái thế nào?

Con cái sặc sỡ hơn con đực. Bụng con cái ửng tím, và phần sau vây lưng có một hoặc vài đốm đen. Con đực trưởng thành to hơn và toàn thân ngả cam nhiều hơn. Đuôi con đực hơi có hình mũi mác, còn vây lưng và vây hậu môn có phần chóp kéo dài ngắn.

Con cái của C. sabinae và C. squamiceps có một mảng vảy ánh bạc quanh nhú sinh dục. Con cái C. dimidiatus thì không có mảng này (Lamboj, 2005).1

Sinh sản ra sao?

Các loài Congochromis sống theo cặp cố định, đẻ trong hang, và cả bố lẫn mẹ cùng giữ con. Chỉ cần đáp ứng đủ nhu cầu cơ bản là chúng đẻ khá dễ trong bể. Khi cho đẻ thì nên dùng nước mềm. Lọc tốt nhất cho bể đẻ là lọc bông chạy bằng sủi khí, chỉnh cho nước luân chuyển nhẹ.

Ghép cặp thường dễ. Nhiều khi chỉ cần thả một con đực và một con cái trưởng thành vào bể đẻ là đủ. Lúc đầu con đực có thể rượt đuổi con cái, nhưng chưa có ghi nhận nào về cá bị thương. Nếu bạn bắt đầu từ một nhóm cá non, hãy chuẩn bị sẵn để chuyển những con còn lại đi khi đã có một cặp thành đôi.

Con cái là bên chủ động tán tỉnh. Khi đã sẵn sàng, nó lên màu sinh sản và uốn thân thành hình chữ U trước mặt con đực, khoe phần bụng tím và rung người thật nhanh. Con đực chịu đáp lại sẽ đỏ hoặc cam hơn ở phần dưới phía trước thân. Ở cả hai con, màu thân nhạt đi và sọc sẫm bên hông mờ dần. Sau đó cặp cá chọn một chỗ đẻ khuất và thường tự đào lối vào.

Đẻ xong, con cái ở lại trong hang và một mình chăm ổ trứng. Con đực bị đuổi ra ngoài và canh giữ lãnh thổ xung quanh. Trứng nở sau khoảng ba ngày, tùy nhiệt độ. Khoảng 8-9 ngày sau khi đẻ thì cá bột bơi tự do.

Khi cá bột đã ra khỏi hang kiếm ăn, bạn có thể cho ăn ấu trùng Artemia, giun vi (microworm) hoặc banana worm, Cyclops và bo bo. Bố mẹ giữ con trong 5-6 tuần. Tuy vậy, ở một số cặp còn non, con đực quay sang tấn công con cái và bạn phải tách con cái ra.1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Mẫu dùng để mô tả loài này thu ở Bangui (mô tả gốc viết là Banghi), bên sông Ubangi thuộc Cộng hòa Trung Phi.

Theo các mẫu vật bảo tàng, loài này phân bố rộng khắp vùng trung tâm lưu vực Congo, thuộc Cộng hòa Congo và CHDC Congo. Vùng phân bố trải từ sông Ubangi và sông Sangha xuống phía nam tới hồ Tumba và sông Tshuapa quanh Boende, rồi sang phía đông tới Kisangani. Phần lớn số cá này được định danh trước năm 2007, khi Congochromis chưa tách khỏi Nanochromis. Lúc đó Congochromis robustus (2012) và C. rotundiceps (2022) cũng chưa được mô tả. Vì vậy một số mẫu có thể thuộc loài khác.

FishBase xem một ghi nhận ở Chad là đáng ngờ. FishBase cũng ghi loài này có ở thượng nguồn sông Chari thuộc Cộng hòa Trung Phi, nằm trong lưu vực hồ Chad. Còn các báo cáo từ Gabon và Cameroon thực ra là về Parananochromis brevirostris.1

Môi trường tự nhiên

Stiassny và Schliewen (2007) mô tả đây là loài sống ở sông và hồ lớn hơn, còn C. sabinae sống ở các suối nhỏ trong rừng mưa. Dù vậy, một số mẫu vật bảo tàng lại thu từ suối rừng nhỏ và vũng nước đầm lầy. Đến nay vẫn chưa có công bố nào mô tả chi tiết môi trường sống của loài này.1

Ghi chú

Pellegrin mô tả loài này năm 1900 với tên Pelmatochromis dimidiatus. Về sau loài được chuyển sang chi Nanochromis, và đó là cái tên xuất hiện trong phần lớn tài liệu cá cảnh cũ.

Schliewen và Stiassny (2006) chia Nanochromis thành hai nhóm không chính thức là nhóm nudiceps và nhóm squamiceps. Sau đó Stiassny và Schliewen (2007) chuyển nhóm squamiceps, trong đó có loài này, sang chi mới Congochromis.

Congochromis khác Nanochromis ở nhiều điểm. Trên đường bên phía trên, chỉ ba đến năm vảy có lỗ cuối cùng nằm dọc gốc vây lưng. Gáy phủ vảy hoàn toàn, còn ngực và má chỉ phủ vảy một phần. Răng hàm một mấu, khá chắc và mọc thưa. Xương supraneural nhỏ. Về cấu tạo bên trong, ống cảm giác đường bên trên xương răng có bốn lỗ, xương anguloarticular không có ống cảm giác đường bên, và ống trên xương nắp mang trước có sáu lỗ (Stiassny và Schliewen, 2007).

Hiện nay có sáu loài được công nhận: C. dimidiatus, C. pugnatus, Congochromis robustus, C. rotundiceps, C. sabinae và C. squamiceps. C. rotundiceps được mô tả năm 2022 từ mẫu thu quanh Malebo Pool. Loài này có khoảng cách giữa hai mắt rộng hơn (28,3-32,1% chiều dài đầu, so với 23,8-28,2% ở C. dimidiatus) và vùng trước mắt cũng rộng hơn (39,0-41,5% chiều dài đầu, so với 32,3-38,5%) (Wingi et al., 2022).

Ở C. dimidiatus và C. squamiceps, sọc sẫm dọc hông chạy vào tận vây đuôi. Còn ở C. sabinae, sọc này dừng lại trước vây đuôi (Lamboj, 2005).

Trong họ cichlid, Congochromis thuộc nhóm chromidotilapiine và gần nhất với Nanochromis. Stiassny và Schliewen (2007) cũng nhắc đến dữ liệu DNA sơ bộ xếp Chromidotilapia schoutedeni và Limbochromis robertsi chung nhóm với hai chi này.1

Tài liệu tham khảo

  • Stiassny, M. L. J. and U. K. Schliewen (2007). Congochromis, a new cichlid genus (Teleostei: Cichlidae) from central Africa, with the description of a new species from the upper Congo River, Democratic Republic of Congo. American Museum Novitates 3576, 1-14
  • Lamboj, A. (2005). Nanochromis sabinae, a new cichlid species (Teleostei, Cichlidae) from the Upper Congo River area and northeast Gabon. Zootaxa 827, 1-11
  • Riehl, R. and H.A. Baensch (1991). Aquarium Atlas. Volume 1. Melle: Mergus, Verlag für Natur-und Heimtierkunde, Germany, 1-992
  • Lamboj, A. (2004). The Cichlid Fishes of Western Africa. Birgit Schmettkamp Verlag, 1-256
  • Pellegrin, J. (1900). Poissons nouveaux du Congo français Bulletin du Muséum National d'Histoire Naturelle (Série 1) 6(3), 98-101
  • Schliewen, U. K.; Stiassny, M. L. J. (2006). A new species of Nanochromis (Teleostei: Cichlidae) from Lake Mai Ndombe, central Congo Basin, Democratic Republic of Congo Zootaxa 1169, 33-46
  • Wingi, N. U.; Schedel, F. D. B.; Schliewen, U. K. (2022). Congochromis rotundiceps sp. nov., a new cichlid species (Actinopterygii: Cichlidae) from the Congo Drainage Zootaxa 5124(3), 296-320
  • Daget, J. (1991). Nanochromis. In: Daget, J., J.-P. Gosse, G. G. Teugels and D. F. E. Thys van den Audenaerde (eds), Check-list of the freshwater fishes of Africa (CLOFFA) vol. 4 ISNB, Brussels; MRAC, Tervuren; ORSTOM, Paris, 270-2731

Nguồn

  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này, với sự cho phép của họ. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Thiết bị phù hợp

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.