Đơn vị
Giao diện

Cyprinidae, Thái Lan

Cá danio hồng

Danio roseus

Nhiệt độ
18–25°C
pH
6–7,5
Bể tối thiểu
90 cm
Độ khó
Dễ

Tên khác: Cá danio tím, Purple passion danio, Rosy Danio

Nhiệt độ
18–25°C
pH
6–7,5
Độ cứng (dGH)
2–15
Kích thước
5,5 cm
Bể tối thiểu
90 cm
Độ khó
Dễ 2/8
Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-03.

Nuôi chung

Tính cách
Hiền
Đàn tối thiểu
8 con

Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Có nên mua không?

Bể cần nắp đậy khít vì loài này nổi tiếng hay nhảy. Nắp phải thật kín, vì cá trong chi này nhảy rất giỏi và lọt được qua những khe hở nhỏ đến bất ngờ.

Cá danio hồng (Danio roseus) là một loài cá chép nhỏ sống ở lưu vực sông Mekong thuộc miền bắc Thái Lan và Lào. Người ta cũng đã ghi nhận loài này ở miền bắc Myanmar. Cá có màu đẹp, khỏe và thường rẻ, nên rất được ưa chuộng. Đôi khi cá được bán dưới tên 'purple passion danio'. Loài này rất giống D. albolineatus sensu stricto, nhưng thân thon hơn, râu mõm ngắn hơn và nửa sau thân không có sọc tối. Nhiều con đang có trong giới chơi cá được cho là cá lai giữa hai loài này.1

Cần bể bao lớn?

Chiều dài chuẩn (SL) của cá là 5,5 cm. Đáy bể 90 × 30 cm, thể tích khoảng 81 lít.

Bể có đáy 90 × 30 cm hoặc tương đương là mức nhỏ nhất nên tính tới.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 18–25°C
  • pH: 6,0–7,5
  • Độ cứng: 2–15 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Cá trông đặc biệt nổi bật trong bể trồng dày cây với nền tối màu. Trong bể bày biện thưa thớt, cá có thể nhạt màu hơn.

Nên nuôi cá trong bể nhiều cây, hoặc set bể mô phỏng sông suối có nước chảy. Nền nên là đá và sỏi đủ cỡ, thêm vài tảng đá lớn đã bị nước bào nhẵn.

Bạn có thể lắp thêm máy tạo dòng hoặc tận dụng đầu ra của lọc để tạo dòng chảy. Tuy vậy, đừng để nước chảy cuồn cuộn như thác. Ngoài tự nhiên, các loài danionin nhỏ thường ở những đoạn nước êm hơn và vùng sát bờ.

Có thể thêm rễ lũa, cành cây và cây thủy sinh. Các chi cây khỏe như Microsorum, Bolbitis hay Anubias là lựa chọn lý tưởng, vì chúng sống tốt khi gắn lên vật trang trí trong bể.

Nắp bể phải thật khít. Cá trong chi này nhảy rất giỏi và lọt được qua những khe hở nhỏ đến bất ngờ.1

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, gần như chắc chắn cá chủ yếu săn côn trùng và ấu trùng côn trùng. Trong bể, cá nhìn chung không kén ăn và nhận hầu hết các loại thức ăn.

Một hai loại thức ăn khô chất lượng tốt có thể dùng làm thức ăn chính. Dù vậy, bạn nên thường xuyên cho ăn thêm các loại thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, Daphnia, Artemia... để cá lên màu đẹp nhất và có thể trạng tốt nhất.1

Nuôi chung với con gì?

Loài này rất hiền, là lựa chọn lý tưởng cho một bể cộng đồng bày trí đầy đủ.

Cá không đòi hỏi gì đặc biệt về thông số nước, nên có thể nuôi chung với nhiều loài cá phổ biến nhất trong giới chơi cá. Đó là các loài cá chép nhỏ khác, cá tetra, cá đẻ con, cá cầu vồng, cá mê cung, cá da trơn và cá chạch.

Một bể cộng đồng gồm toàn các loài đến từ cùng một quốc gia hay cùng lưu vực sông với cá danio hồng cũng là một dự án thú vị. Trên thị trường có bán khá nhiều loài sống cùng khu vực với nó.

Bản tính loài này là sống theo đàn, nên nuôi một nhóm ít nhất 8-10 con.

Nuôi đủ đông thì cá bớt nhát, cả đàn cũng trông tự nhiên và đẹp mắt hơn. Con đực sẽ lên màu đẹp nhất khi phải ganh đua nhau giành sự chú ý của con cái.1

Phân biệt đực cái thế nào?

Con cái thường lớn hơn con đực và nhìn chung thân cao hơn. Điểm này càng rõ khi con cái đang mang trứng.1

Sinh sản ra sao?

Giống nhiều loài cá chép nhỏ, loài này đẻ trứng rải và không chăm con.

Nói cách khác, khi cá khỏe và sung sức thì chúng đẻ thường xuyên. Trong một bể đã chín và trồng dày cây, có thể bạn sẽ thấy lác đác vài con cá bột xuất hiện mà không cần can thiệp gì.

Còn nếu muốn thu được nhiều cá bột hơn thì phải làm bài bản hơn một chút.

Đàn cá bố mẹ vẫn có thể vỗ chung với nhau. Song song, bạn chuẩn bị thêm một hoặc vài thùng nhỏ hơn, khoảng 20-30 lít, đổ nước tới một nửa.

Các thùng này để ánh sáng thật mờ. Đáy thùng phủ một lớp lưới có mắt đủ lớn để trứng lọt qua, nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không với tới trứng.

Tấm thảm nhựa dạng 'cỏ' bán khá phổ biến cũng dùng được và cho hiệu quả rất tốt. Một cách khác là thả rêu Java hoặc cây lá nhỏ khác cho kín phần lớn thùng, cách này cũng cho kết quả tốt.

Nước nên có pH từ hơi chua đến trung tính. Nhiệt độ để gần ngưỡng cao của khoảng nêu ở trên.

Lúc đầu có thể đặt thêm một lọc máy nhỏ, hướng dòng chảy dọc theo hết chiều dài bể.

Khi đã vỗ cá bố mẹ đủ tốt và con cái trông căng trứng, bạn thả một hoặc hai cặp vào mỗi thùng.

Để kích cá đẻ, cứ vài giờ bạn châm thêm một ít nước mát để thùng đầy dần lên. Đồng thời cho cá ăn từng ít một thức ăn sống và đông lạnh.

Thường thì sáng hôm sau cặp cá sẽ đẻ. Cách dễ và nhanh nhất để biết là nhìn con cái. Nếu cá đã đẻ, bụng con cái sẽ thon đi thấy rõ.

Cá bố mẹ sẽ ăn bất cứ quả trứng nào chúng tìm thấy, nên tốt nhất là vớt chúng ra sau một hai ngày. Lúc này bạn thay lọc máy bằng một lọc mút đã chín để cá bột không bị hút vào lọc.

Thời gian trứng nở phụ thuộc phần nào vào nhiệt độ, nhưng thường mất 24-36 giờ. Vài ngày sau đó cá bột bắt đầu bơi tự do.

Thức ăn đầu tiên nên là Paramecium hoặc thức ăn khô làm sẵn có hạt đủ mịn (đường kính 5-50 micron). Khi cá bột đủ lớn để ăn được thì cho ăn thêm ấu trùng Artemia, giun vi sinh (microworm)...1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Loài này được mô tả từ lưu vực sông Mekong ở các tỉnh Nong Khai và Chiang Rai (miền bắc Thái Lan) và tỉnh Louangphabang (miền bắc Lào). Về sau người ta biết cá còn sống xa hơn về phía bắc, vì đã có ghi nhận ở nhiều điểm tại miền bắc Myanmar.

Địa điểm thu mẫu chuẩn là 'Nam Tok Than Thip, cách đường chính 3 km tại Ban Tad Some, cách Sam Kon 13 km về phía tây trên đường Loei - Nong Khai'.1

Môi trường tự nhiên

Cá thường gặp nhất ở những con suối nhỏ có nước chảy, giàu oxy, nằm dưới tán rừng. Người ta cũng bắt được cá ở vùng nước lặng của những con sông lớn hơn, và có đúng một ghi nhận ngay trên dòng chính sông Mekong.

Những nơi như vậy thường thay đổi theo mùa. Độ sâu, dòng chảy, nhiệt độ và thành phần hóa học của nước đều khác nhau tùy thời điểm trong năm.

Qua hình ảnh, sông Nam Khwe ở Myanmar có nước khá nông, đục và chảy tương đối nhanh. Đáy sông là đá tảng đủ cỡ, cây cối ven bờ tương đối ít.

Các loài sống cùng khu vực gồm Danio albolineatus và vài loài chưa định danh thuộc Barilius và Opsarius. Ở sông Nam Lawe, một con sông lớn hơn cũng ở Myanmar, cá sống chung với Badis ruber, Colisa labiosa, Lepidocephalichthys berdmorei và một loài Danio chưa định danh.1

Ghi chú

D. roseus mới xuất hiện trong giới chơi cá cảnh tương đối gần đây nhưng đã rất được ưa chuộng. Cá có màu đẹp, khỏe và thường khá rẻ, nên rất hợp với người mới chơi. Đôi khi cá được bán dưới tên 'purple passion danio'.

Loài này rất giống D. albolineatus sensu stricto nhưng khác ở vài đặc điểm. Rõ nhất là thân tương đối thon hơn, râu mõm ngắn hơn và nửa sau thân không có sọc tối.

Dân nhân giống ở Đông Âu đã lai thành công D. albolineatus với D. roseus, và nhiều con đang có trong giới chơi hiện nay được cho là cá lai. Nếu muốn tránh cá lai, hãy dè chừng những con giá rất rẻ mà vừa có nhiều màu xanh lam phấn trên thân, vừa có nhiều màu đỏ ở các vây lẻ.

Mấy năm gần đây, người ta thường gọi tên các sọc trên thân và vây của nhóm danionin như sau:

  • Sọc P, hay "sọc sắc tố" (pigment stripe), là sọc sẫm màu chạy dọc giữa thân. Ở một số loài, sọc này kéo dài vào tận vây đuôi. Các sọc phía trên nó được đánh số P+1, P+2..., các sọc phía dưới là P-1, P-2, P-3.
  • Sọc A là sọc ở giữa vây hậu môn. Sọc gần gốc vây (nằm phía trên) là A+1, sọc xa gốc vây (nằm phía dưới) là A-1.
  • Sọc D là sọc nằm ngay dưới mép vây lưng.

Theo Fang (2003), đặc trưng của các loài Danio là có một sọc A trên vây hậu môn và từ hai sọc P trở lên trên vây đuôi. Chúng còn có vài đặc điểm bên trong cơ thể, chẳng hạn các phiến mũi to ra.

Mấy năm gần đây, phân loại của chi này bị xáo trộn khá nhiều sau khi một loạt nghiên cứu phát sinh loài được công bố.

Các cây phát sinh loài cũ hơn dựa trên dữ liệu phân tử nhìn chung thống nhất rằng chi này là một nhóm đơn ngành, gồm hai nhánh lớn. Nhóm 'Danio devario' gồm các loài to hơn, thân cao hơn. Nhánh 'D. rerio' gồm các loài nhỏ hơn, thon hơn.

Tuy nhiên, năm 2003 Fang thực hiện một nghiên cứu chi tiết hơn dựa trên đặc điểm hình thái, có xét cả các loài thuộc những chi họ hàng. Lần đầu tiên, kết quả cho thấy chi Danio theo cách hiểu trước đó là một nhóm đa ngành, tức là không phải mọi loài trong chi đều bắt nguồn từ cùng một tổ tiên chung.

Tên chi Devario được đề xuất cho các loài lớn hơn, còn tên Danio chỉ dành cho các loài nhỏ hơn. Ngoại lệ là loài chuẩn D. dangila, loài này có thể dài tới khoảng 89 mm SL. Các nghiên cứu phân tử gần đây của Mayden và cộng sự (2007) và Fang và cộng sự (2009) tiếp tục dẫn tới những thay đổi khác. Nghiên cứu năm 2009 xem chi Danio gồm ba phân nhánh. Sau đó, Kottelat (2013) tách ba phân nhánh này thành các chi riêng biệt, cụ thể như sau.

Các loài trước đây là D. erythromicron, D. margaritatus, D. choprae và D. flagrans được gộp chung vào chi Celestichthys Roberts, 2007, một tên chi được khôi phục lại. Những loài này có hoa văn thân rất riêng, là các vạch đứng (D. erythromicron, D. choprae, D. flagrans) hoặc các đốm sáng (D. margaritatus). Râu của chúng rất ngắn hoặc không có.

Kottelat (2013) chỉ giữ lại loài chuẩn D. dangila trong chi Danio. Loài này được tách riêng nhờ kích thước lớn hơn và hình dạng vây đuôi. Ở cá trưởng thành, vây đuôi chỉ hơi lõm, thậm chí gần như cụt bằng. Trong các loài cá chép khác, chỉ có Tinca tinca (cá tench thường) mang đặc điểm này.

Các loài còn lại, trong đó D. rerio được cho là loài cổ nhất, được xếp vào chi Brachydanio Weber & de Beaufort, 1916, cũng là một tên chi được khôi phục lại. Kullander (2015) không theo cách tách này, vì các phân tích phát sinh loài ủng hộ mạnh một chi Danio duy nhất theo nghĩa của Fang (2003), còn Devario là một chi riêng. Catalog of Fishes và FishBase đều giữ tất cả các loài này trong chi Danio.1

Tài liệu tham khảo

  • Conway, K. W., W.-J. Chen and R. L. Mayden (2008). The 'Celestial Pearl danio' is a miniature Danio (s.s) (Ostariophysi: Cyprinidae): evidence from morphology and molecules. Zootaxa 1686, 1-28
  • Fang, F. and M. Kottelat (2000). Danio roseus, a new species from the Mekong basin in northeastern Thailand and northwestern Laos (Teleostei: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 11(2), 149-154
  • Fang, F. (2003). Phylogenetic Analysis of the Asian Cyprinid Genus Danio (Teleostei, Cyprinidae). Copeia 2003(4), 714-728
  • Fang, F., M. Norén, T. Y. Liao, M. Källersjö and S. O. Kullander (2009). Molecular phylogenetic interrelationships of the south Asian cyprinid genera Danio, Devario and Microrasbora (Teleostei, Cyprinidae, Danioninae). Zoologica Scripta 38(1), 1-20
  • Mayden, R. L., K. L. Tang, K. W. Conway, J. Freyhof, S. Chamberlain, M. Haskins, L. Schneider, M. Sudkamp, R. M. Wood, M. Agnew, A. Bufalino, Z. Sulaiman, M. Miya, K. Saitoh, S. He (2007). Phylogenetic relationships of Danio within the order Cypriniformes: a framework for comparative and evolutionary studies of a model species. Journal of Experimental Zoology, Molecular Development and Evolution 308B, 642-654
  • Roberts, T. R. (2007). The 'Celestial Pearl Danio', a new genus and species of colourful minute cyprinid fish from Myanmar (Pisces: Cypriniformes). Raffles Bulletin of Zoology 55(1), 131-140
  • Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27, 1-6631

Nguồn

  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này, với sự cho phép của họ. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Thiết bị phù hợp

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.