Đơn vị
Giao diện

Characidae, Peru

Cá tetra tim chảy máu

Hyphessobrycon erythrostigma

Nhiệt độ
21–28°C
pH
4–7,5
Bể tối thiểu
90 cm
Độ khó
Vừa

Tên khác: Cá bleeding heart tetra, Peru Bleeding Heart, Bleeding Heart Tetra, Cá tim chảy máu, Cá tim rỉ máu

Nhiệt độ
21–28°C
pH
4–7,5
Độ cứng (dGH)
1–12
Kích thước
6 cm
Bể tối thiểu
90 cm
Độ khó
Vừa 5/8
Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish, Aquarium Glaser · cùng một mức
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish, Aquarium Glaser. Cập nhật 2026-11-03.

Nuôi chung

Tính cách
Hiền
Đàn tối thiểu
10 con

Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Thông tin nhanh

Tetra tim chảy máu (Megalamphodus erythrostigma) là một loài characid ở thượng nguồn lưu vực Amazon, vùng giáp ranh giữa Brazil, Peru và Colombia. Nhóm phụ 'bleeding heart' có ba loài trông na ná nhau, và đây là loài được biết đến nhiều nhất. Cá có một đốm vai màu đỏ nhạt mà không loài characid nào khác có. Nhìn chung đây là loài hiền, dù cá đực trưởng thành có tính giữ lãnh thổ ở một mức nhất định. Ngoài tự nhiên, chúng chủ yếu sống ở các nhánh sông nước chảy chậm, các nhánh phụ và hồ trong rừng.1

Cần bể bao lớn?

Bể nhỏ nhất nên dùng là bể có đáy 90 × 30 cm hoặc tương đương (khoảng 81 lít).1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 21–28°C
  • pH: 4,0–7,5
  • Độ cứng: 1–12 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Loài này không kén cách trang trí bể. Tuy vậy, cá thường lên màu đẹp hơn trong bể bày biện kỹ, có cây sống và nền tối màu.

Muốn bể trông tự nhiên, bạn có thể rải nền cát mịn, rồi xếp rễ và cành lũa sao cho tạo ra nhiều chỗ râm.

Thả thêm lá khô sẽ làm bể mang đậm chất biotope hơn. Khi lá phân hủy, các quần thể vi sinh có lợi cũng phát triển theo. Đám vi sinh này có thể thành nguồn thức ăn phụ rất quý cho cá bột. Tanin và các chất khác do lá mục nhả ra cũng giúp nước gần với điều kiện tự nhiên hơn. Bạn có thể để lá trong bể cho mục hết, hoặc cứ vài tuần vớt ra và thay lá mới.

Loài này có vẻ sống khỏe nhất dưới ánh sáng khá dịu. Chúng cũng thích có cây nổi trên mặt nước.

Giống nhiều loài cá vốn sống trong môi trường nước nguyên sơ, chúng không chịu được chất thải hữu cơ tích tụ và cần nước thật sạch. Vì vậy, thay nước hằng tuần phải là việc làm thường lệ. Tuyệt đối không thả cá vào bể chưa ổn định vi sinh.1

Cho ăn gì?

Bản tính của loài này là ăn tạp, gặp gì ăn nấy.

Ở cá hoang dã bắt từ hồ Ayapuá, dạ dày chứa vụn trái cây, côn trùng thủy sinh và ấu trùng (Trichoptera, Diptera). Trái cây chiếm 98,5 %, còn côn trùng và ấu trùng chiếm 1 % tổng lượng thức ăn.

Dạ dày của cá bắt ở suối igarapé Ubim chứa 75 % côn trùng thủy sinh và ấu trùng (Ephemeroptera: Baetidae và Diptera: Chironomidae), 20 % mảnh vụn thực vật bậc cao và 5 % cây thủy sinh.

Nuôi trong bể, cá rất dễ cho ăn. Muốn cá khỏe và lên màu đẹp nhất thì bạn nên cho ăn đều đặn các loại mồi sống và mồi đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết (ấu trùng chironomid), Daphnia và Artemia. Song song đó là thức ăn khô dạng mảnh và dạng hạt loại tốt, trong đó ít nhất một phần nên có thêm thành phần thực vật hoặc tảo.

Cá cũng gặm những miếng trái cây tươi thả chìm trong bể. Có điều, trái cây chỉ nên để trong bể vài giờ.1

Nuôi chung với con gì?

Hyphessobrycon erythrostigma đặc biệt hợp với bể cộng đồng. Bạn nên nuôi thành đàn, lúc nào cũng tối thiểu 10–15 con, còn tỷ lệ đực cái thì không quan trọng. Một đàn như vậy nhìn rất đã mắt, đến cả người không chơi cá cũng thường xuyên bị cuốn hút.2

Nhìn chung đây là loài hiền, rất hợp với bể cộng đồng có tính toán kỹ chuyện chọn cá. Riêng cá đực trưởng thành có tính giữ lãnh thổ ở một mức nhất định. Đôi khi chúng có thể gây sự cả với những loài có dáng giống mình.

Bạn đồng bể phù hợp nhất có lẽ là các loài characid cùng cỡ, cá rìu (gasteropelecid), lebiasinid, các loài cá da trơn nhỏ hơn họ callichthyid hoặc loricariid, và cichlid cỡ vừa không săn mồi.

Nên mua một đàn có cả đực lẫn cái, tối thiểu 8-10 con. Thả thêm vài loài cá bơi đàn khác để cá thấy an toàn. Làm vậy thì bể sẽ cho bạn cảnh tượng trông tự nhiên hơn.

Màn đối đầu giữa các con đực rất đáng xem. Khi tranh sự chú ý của con cái hoặc tranh thứ bậc trong đàn, chúng sẽ khoe màu đẹp nhất.1

Phân biệt đực cái thế nào?

Hyphessobrycon erythrostigma dài khoảng 6 cm, tính luôn vây đuôi thì tổng chiều dài vào khoảng 8 cm. Con cái nhỏ hơn con đực. Vây lưng của con cái cũng không vươn dài như ở con đực.2

Cá đực lớn hơn cá cái thấy rõ và có màu đậm hơn.

Ở cá đực trưởng thành, vây lưng, vây bụng và vây hậu môn dài ra rất nhiều. Cá cái trưởng thành thì thường có thân tròn hơn, nhất là khi đang mang trứng.1

Sinh sản ra sao?

Loài cá này ít khi được cho sinh sản. Lý do không phải là không làm được. Chúng đẻ rải rác theo từng đợt, mỗi ngày chỉ vài trứng và kéo dài trong thời gian dài. Kiểu đẻ này khiến người ta không thể nhân giống cho có lãi, vì ương 10 con cá bột cũng tốn công y như ương 1.000 con. Do đó các trại giống chuyên nghiệp không mặn mà với loài này. Nhưng chuyện đó chẳng có gì đáng lo. Cá tim chảy máu Peru vốn có nhiều ngoài tự nhiên, nên nó mang lại cho ngư dân Peru một nguồn thu tốt, đều đặn và thân thiện với môi trường.2

Cá đẻ trứng rải và không chăm con.1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Cá tim chảy máu Peru (Hyphessobrycon erythrostigma) chủ yếu xuất khẩu từ Peru. Thực ra loài này phân bố khá rộng ở vùng thượng nguồn Amazon, và người ta cũng gặp nó ở Brazil, Ecuador và Colombia.2

Nơi thu mẫu chuẩn được ghi là 'có lẽ là vùng biên giới giữa Peru và Brazil'. Loài này có nguồn gốc ở thượng nguồn lưu vực Amazon, thuộc vùng 'Tres Fronteras', nơi biên giới ba nước Brazil, Peru và Colombia gặp nhau.

Theo hiểu biết hiện nay, vùng phân bố của chúng trải từ sông Purus ở Brazil ngược lên ít nhất tới lưu vực sông Nanay gần Iquitos, Peru. Cá cũng có mặt ở một số nhánh sông thuộc Colombia.1

Môi trường tự nhiên

Cá chủ yếu sống ở các nhánh sông nước chảy chậm, các nhánh phụ và hồ trong rừng. Chúng thường quanh quẩn gần các khối gỗ chìm như rễ cây, cành gãy, đám cây ven bờ rủ xuống mặt nước hoặc cây thủy sinh.

Nước ở đây thường gần như không có khoáng hòa tan và có độ đệm kém. Nước ngả màu nâu do xác thực vật mục rữa nhả dần tanin và axit hữu cơ ra.

Ở hai con suối rừng (igarapé) Baré và Ubim, miền tây Brazil, người ta bắt được H. erythrostigma ở những đoạn rộng 5-7 mét, hai bên bờ có cây cối rậm rạp rủ xuống mặt nước.

Nền đáy ở đó chủ yếu là cát. Cá thích ở vùng ranh giới giữa chỗ nước nông và chỗ nước sâu hơn. Độ dẫn điện đo được là 14,2-62,1 mS/cm³, oxy hòa tan từ 0,12 đến 0,40 mg/l và pH 3,8-6,4.

Ở hồ Ayapuá, thuộc sông Purus, Brazil, cá sống trong vùng nước trắng (nước đục). Nhiệt độ nước tại đây là 29,6°C, độ dẫn điện 20 mS/cm³, oxy hòa tan 38,5%, pH 5,0-5,5 và độ sâu khoảng 1,5 mét.

Các loài cá sống cùng khu vực gồm Hyphessobrycon bentosi, Hemigrammus bellottii, Paracheirodon sp. 'n', Nannostomus eques, N. unifasciatus, N. trifasciatus, Carnegiella strigata, Carnegiella marthae, Bunocephalus sp. và Otocinclus sp.1

Ghi chú

Ba loài cá tim chảy máu có họ hàng gần và trông rất giống nhau. Dễ nhận ra nhất là H. pyrrhonotus, vì nó có một sọc đỏ như máu trên lưng mà hai loài kia không có. Còn H. socolofi và H. erythrostigma thì dễ phân biệt nhất qua màu vây hậu môn. Cả hai đều có một sọc sáng óng ở vây này. Ở H. socolofi, sọc này không chạy tới mút trước của vây hậu môn. Ở H. erythrostigma, sọc chạy thẳng vào mút trước của vây và tạo thành hình cái móc.2

Nhóm phụ 'bleeding heart' gồm ba loài trông na ná nhau, và đây là loài được biết đến nhiều nhất. Hai loài còn lại là H. socolofi và H. pyrrhonotus.

Cả ba loài đều có đốm vai màu đỏ nhạt, một đặc điểm không loài characid nào khác có. Chúng còn có chung các đặc điểm sau: 6-14 răng hàm trên, 7-9 vảy phía trên đường bên, 5-7 vảy phía dưới đường bên và 26-33 tia vây hậu môn.

Có hai điểm để phân biệt loài này với H. pyrrhonotus. Thứ nhất, nó không có mảng sắc tố đỏ hình nêm ở phần trên thân, còn H. pyrrhonotus thì có. Thứ hai, cá đực trưởng thành của loài này có các cấu trúc dạng móc trên vây hậu môn, vây bụng và vây lưng, còn H. pyrrhonotus thì không.

Một số ít phân tích di truyền cho thấy nhóm bleeding heart có lẽ là một nhóm đơn ngành, nhưng số loài trong nhóm có thể nhiều hơn hiện biết (Paz et al., 2014). Chẳng hạn, H. socolofi theo cách hiểu hiện nay có vẻ là một đơn vị phân loại cận ngành. H. pyrrhonotus cũng gồm nhiều dòng tách biệt. Dù vậy, cần thêm nghiên cứu mới rút ra được hệ quả về mặt phân loại.

Chi Hyphessobrycon theo cách công nhận hiện nay là một dòng đa ngành, gồm nhiều chi bên trong. Quá trình tách chi này ra đã bắt đầu.

Giống nhiều loài characid nhỏ, H. erythrostigma được biết là dễ mắc một chứng khiến một phần hoặc toàn bộ vảy trên thân chuyển sang màu vàng ánh kim. Có ý kiến cho rằng thủ phạm là ký sinh trùng, nhưng đến nay vẫn chưa rõ có đúng vậy không. Cá mắc chứng này trông không có vẻ gì khó chịu. Tuổi thọ và sức khỏe chung của chúng dường như cũng không giảm.1

Nguồn

  1. Seriously Fish seriouslyfish.com
  2. Aquarium Glaser aquariumglaser.de

Các phần trên dịch từ những nguồn này, với sự cho phép của họ. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Bài viết nhắc đến loài này

Thiết bị phù hợp

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.