Đơn vị
Giao diện

Cyprinidae, Sri Lanka

Cá devario pathirana

Devario pathirana

Tên khác: Cá danio pathirana, Cá danio tiger, Cá danio Ceylon, Barred 'Danio', Tiger danio, Ceylon danio

Nhiệt độ
23–26°C
pH
6–7,5
Bể tối thiểu
120 cm
Độ khóCác nguồn ghi khác nhau
Dễ

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
23–26°C
pH
6–7,5
Độ khóCác nguồn ghi khác nhau
Dễ 2/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianKhóbể từ 120 cm, cá dài 8 cm
  • NướcDễpH 6–7,5, 1–8 dGH
  • Nhiệt độVừakhoảng nhiệt độ hẹp · 23–26°C
  • Tính cáchVừahơi dữ, hay cắn vây
  • Bầy đànVừađàn từ 6 con

Độ khó 2/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish, Aquarium Glaser · cùng một mức
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Aquarium Glaser: 2
  • Seriously Fish: 4

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Aquarium Glaser, Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-03.

Thông tin nhanh

Devario pathirana (trước đây xếp vào chi Danio) là loài dễ nuôi, cho sinh sản cũng không khó. Cá trưởng thành dài khoảng 8 cm. Loài này có nguồn gốc từ Sri Lanka.1

Có nên mua không?

Cá 'danio' vằn (Devario pathirana) là một loài devario mới chỉ ghi nhận ở vài con suối nhỏ thuộc lưu vực sông Nilwala, tây nam Sri Lanka. Ở phần trước mỗi bên thân, cá có 7 đến 11 vạch dọc màu xanh lam sẫm, hình dạng không đều. Trên cuống đuôi có thêm một sọc ngang ngắn. Ngoài tự nhiên loài này đang bị đe dọa, nhưng vẫn có trại nhân giống thương mại, dù số lượng ít. Đôi khi người bán gọi nó là danio 'tiger' hoặc danio 'Ceylon'.

Bể cần nắp đậy thật khít vì loài này hay nhảy. Thay 30-50% nước mỗi tuần nên coi là việc định kỳ.2

Cần bể bao lớn?

Chiều dài chuẩn: 80 mm SL (8 cm). Đáy bể: 120 × 45 cm. Thể tích: khoảng 243 lít.

Để nuôi lâu dài, bạn nên dùng bể có đáy tối thiểu 120 × 45 cm.2

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 23–26°C
  • pH: 6,0–7,5
  • Độ cứng: 1–8 dGH2

Chăm sóc ra sao?

Loài này không khó nuôi nếu bể được chăm chút tốt. Dù vậy, bạn nên set bể theo kiểu một con suối hay dòng sông có nước chảy. Nền gồm đá cuội mòn nước to nhỏ khác nhau, cát, sỏi mịn và có thể thêm vài tảng đá nhỏ.

Bạn có thể bày thêm rễ hoặc cành lũa. Phần lớn cây thủy sinh sẽ không sống khỏe trong kiểu bể này. Những loại cây bền như Microsorum, Bolbitis hoặc Anubias thì vẫn trồng được bằng cách gắn lên lũa, đá trong bể.

Ngoài tự nhiên cá sống ở những nơi nước còn nguyên sơ, vì thế nó không chịu được chất bẩn hữu cơ tích tụ. Muốn cá khỏe thì nước phải gần như sạch tinh.

Cá không cần dòng chảy quá mạnh. Nhưng nó sống tốt nhất khi nước giàu oxy hòa tan và có dòng chảy vừa phải.

Thay 30-50% nước mỗi tuần nên coi là việc định kỳ. Bể phải có nắp thật khít vì mọi loài Devario đều nhảy rất giỏi.2

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, gần như chắc chắn cá chủ yếu ăn côn trùng và ấu trùng côn trùng. Trong bể, cá không kén ăn và nhận hầu hết các loại thức ăn.

Bạn có thể dùng thức ăn khô chất lượng tốt làm khẩu phần chính. Tuy vậy, nên thường xuyên cho thêm các bữa thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, Daphnia, Artemia, v.v. Có vậy cá mới lên màu đẹp nhất và giữ thể trạng tốt.2

Nuôi chung với con gì?

Về chăm sóc, loài này đòi hỏi ngang với Devario malabaricus, loài nổi tiếng hơn nhiều. Chúng khá hợp với bể cộng đồng. Có điều bể phải chừa đủ khoảng trống cho chúng bơi.1

Cá không quá hung hăng. Có điều, nó hiếu động suốt ngày và tranh ăn rất hăng, nên có thể làm khổ những loài bơi rất chậm hoặc nhút nhát. Cá cũng có thể rỉa những chiếc vây dài.

Vì vậy loài này chỉ hợp với bể lớn, nuôi chung với các loài khỏe và có kích cỡ tương đương.

Có rất nhiều lựa chọn phù hợp, gồm nhiều loài thuộc họ cá chép (cyprinid), cá chạch, cichlid, cá da trơn và cá characin. Dù vậy, như mọi lần ghép bể, bạn cần tìm hiểu kỹ trước khi chọn bạn cùng bể.

Ngoài tự nhiên cá sống thành đàn, vì thế bạn nên mua tối thiểu 6-10 con. Nuôi theo đàn thì bể trông đẹp và tự nhiên hơn. Cá cũng bớt hoảng sợ, và cá đực chịu khoe màu đẹp nhất.

Ngoài ra, loài này hay gây sự hơn hầu hết các loài cùng giống. Nuôi số lượng kha khá sẽ có lợi, vì các màn gây hấn thường chỉ diễn ra giữa cá cùng loài. Khi có nhiều đối thủ, thường sẽ không có con yếu nào bị bắt nạt quá mức.2

Nuôi chung

Tính cách
Hơi dữ
Đàn tối thiểu
6 con

Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Phân biệt đực cái thế nào?

Cá cái trưởng thành có bụng tròn hơn, màu nhạt hơn và lớn hơn cá đực một chút.2

Sinh sản ra sao?

Giống hầu hết các loài cá chép nhỏ, các loài Devario đẻ tự do, rải trứng và không chăm con.

Khi khỏe, cá đẻ khá thường xuyên. Trong bể lâu năm trồng nhiều cây, có thể bạn sẽ thấy lác đác vài con cá bột xuất hiện mà không cần làm gì.

Tuy nhiên, muốn thu được nhiều cá bột nhất thì cần làm bài bản và có kiểm soát hơn.

Bạn vẫn có thể vỗ cả đàn cá bố mẹ chung một bể. Song song đó, hãy set thêm một bể nhỏ có đáy khoảng 45 cm × 30 cm và đổ đầy nước cũ đã ổn định.

Bể này để ánh sáng thật mờ. Đáy bể phủ một lớp lưới có mắt đủ to để trứng lọt xuống, nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không với tới. Tấm thảm nhựa dạng 'cỏ' bán khá phổ biến cũng dùng được và cho hiệu quả tốt. Một lớp bi thủy tinh cũng vậy.

Một cách khác là thả kín phần lớn bể bằng cây lá nhỏ như Taxiphyllum hoặc búi len (mop len). Cách này cũng có thể cho kết quả khá ổn.

Nước nên hơi axit đến trung tính, nhiệt độ ở mức cao của khoảng đã nêu ở trên. Nên đặt thêm lọc bọt biển chạy bằng máy sủi hoặc vài viên đá sủi để cấp oxy và tạo dòng nước.

Khi cá bố mẹ đã được vỗ kỹ và cá cái trông căng trứng, bạn thả một hoặc hai cặp vào bể đẻ.

Nếu cá đã sẵn sàng, chúng thường đẻ trong vòng 24 giờ. Sau khi đẻ, cá cái thường thon hẳn đi. Dù có thấy cá đẻ hay không, sau 48 giờ cũng nên vớt cá bố mẹ ra.

Thời gian trứng nở phụ thuộc phần nào vào nhiệt độ, nhưng thường là 24-36 giờ. Vài ngày sau đó cá bột bắt đầu bơi tự do.

Thức ăn đầu tiên cho cá bột nên là Paramecium hoặc loại tương tự. Khi cá bột đủ lớn để ăn được, bạn cho thêm ấu trùng Artemia, giun vi mô (microworm), thức ăn khô dạng bột, v.v.2

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Đây là loài đặc hữu của Sri Lanka, mãi đến cuối những năm 1980 mới được mô tả. Ngoài tự nhiên, chúng chỉ sống ở một vùng nhỏ trên đảo này.1

Loài này chỉ được ghi nhận ở một loạt suối nhỏ và nhánh suối chảy ra từ Khu bảo tồn rừng Kanneliya, cùng các nhánh của Opatha Ela (suối Opatha) gần ngôi làng cùng tên ở tây nam Sri Lanka.

Nơi thu mẫu chuẩn được ghi là 'nhánh của Opatha Ela, chảy xuống từ Khu bảo tồn rừng Kanneliya đến Opatha, 6°15'40"N, 80°23'45"E, Sri Lanka'.

Mọi quần thể đã biết đều nằm trong lưu vực sông Nilwala. Ít nhất 70% diện tích lưu vực này nay đã thành đất canh tác, và ở một số khu vực người ta khai thác cát rất mạnh.

Các hoạt động này của con người đã phá mất phần lớn rừng nguyên sinh và làm nước xấu đi đến mức nhiều loài bản địa hiện bị coi là có nguy cơ tuyệt chủng.2

Môi trường tự nhiên

Nơi thu mẫu chuẩn là một con suối có độ dốc thấp, nước chảy chậm trên nền đất sét laterit. Năm 1990, suối rộng 4-8 m và có chỗ sâu tới 3 m. Tuy vậy, dọc phần lớn đoạn khảo sát, độ sâu trung bình chỉ 10 – 150 cm.

Đáy suối gồm những tảng sa thạch nhỏ, nhẵn, xen các mảng cát hoặc bùn mịn. Nước rất trong.

Cây mọc vươn khỏi mặt nước gồm các loài Aponogeton và Lagenandra. Phần lớn đất xung quanh đã chuyển sang trồng lúa, chè hoặc dừa.

D. pathirana bơi thành nhóm nhỏ ở những đoạn nước nông chảy xiết, ở ghềnh và ở các vũng sâu hơn. Các tác giả mô tả loài nhận xét rằng cá có vẻ ít di chuyển hơn D. malabaricus, một loài bơi nhanh hơn và được bắt gặp ở nhiều điểm khác.

Các loài sống cùng khu vực gồm Puntius bimaculatus, P. kamalika (có thể là loài này, năm 1990 ghi là P. amphibius), P. vittatus, Pethia nigrofasciata, Dawkinsia singhala (có thể là loài này, năm 1990 ghi là D. filamentosa), Systomus pleurotaenia, S. sarana, Rasboroides vaterifloris, Rasbora dandia (có thể là loài này, năm 1990 ghi là R. daniconius), Laubuca laubuca, Belontia signata, Awaous grammepomus, Sicyopus jonklaasi và Ompok ceylonensis (có thể là loài này, năm 1990 ghi là O. bimaculatus).2

Ghi chú

Từ nguyên: Tên Devario có vẻ bắt nguồn từ tên gọi địa phương của loài chuẩn của giống, Cyprinus (nay là Devario) devario Hamilton, 1822. Tên pathirana đặt theo Ananda Pathirana, người đã báo cho các tác giả biết về loài mới này.

Dù đang bị đe dọa ngoài tự nhiên, D. pathirana vẫn có trại nhân giống thương mại để bán cho dân chơi cá cảnh, tuy số lượng không nhiều. Vì thế thỉnh thoảng mới có hàng, và giá luôn đắt hơn các loài Devario phổ biến.

Đôi khi người bán gọi cá bằng tên khác là danio 'tiger' hoặc danio 'Ceylon'.

Loài này khác các loài cùng giống chủ yếu ở kiểu màu riêng. Phần trước mỗi bên thân có 7-11 vạch dọc song song màu xanh lam sẫm, hình dạng không đều. Trên cuống đuôi có một sọc ngang ngắn chạy vào các tia giữa của vây đuôi.

Các phân tích phát sinh chủng loại cho thấy loài này gần nhất với các loài Devario ở Ấn Độ và D. xyrops ở sườn tây dãy núi Rakhine Yoma, Myanmar (Fang et al., 2009, cùng Fang và Kullander, 2009).

Mấy năm gần đây, người ta thường gọi tên các sọc trên thân và vây của nhóm danionin như sau:

  • Sọc P (hay 'sọc sắc tố'): sọc sẫm màu chạy dọc giữa thân, ở một số loài kéo dài vào vây đuôi. Các sọc phía trên nó đánh số P+1, P+2, v.v., còn các sọc phía dưới là P-1, P-2, P-3.
  • Sọc A: sọc ở giữa vây hậu môn. Sọc phía gần gốc vây (bên trên) là A+1, sọc phía xa gốc vây (bên dưới) là A-1.
  • Sọc D: sọc nằm sát dưới mép vây lưng.

Theo Fang (2003), các loài Devario có những đặc điểm sau. Sọc P kéo dài tới các tia giữa của vây đuôi. Râu hàm trên ngắn (một số loài không có). Không có sọc A (một số loài có một sọc kém rõ, tương đối rộng, ví dụ D. acrostomus, D. annandalei, D. xyrops). Mấu tiền hàm trên (khe ở hàm trên) ngắn và rộng, có một mỏm xương rất nhỏ (củ xương) chạm vào xương kinethmoid. Xương dưới ổ mắt thứ 5 không tiêu giảm hoặc chỉ tiêu giảm nhẹ.

Tên giống hiện nay mới được dùng rộng rãi từ năm 2003. Trước đó, người ta xếp các loài này vào giống Danio.

Các cây phát sinh chủng loại phân tử trước đây thường thống nhất rằng Danio là một nhóm đơn ngành gồm hai nhánh lớn. Nhóm 'Danio devario' gồm các loài to hơn, thân cao hơn. Nhóm 'D. rerio' gồm các loài nhỏ và thon hơn.

Tuy nhiên, năm 2003 Fang Fang thực hiện một nghiên cứu chi tiết hơn dựa trên đặc điểm hình thái, có xét cả các loài thuộc những giống họ hàng. Kết quả lần đầu tiên cho thấy giống Danio theo cách hiểu cũ là một nhóm đa ngành, nghĩa là các thành viên không cùng bắt nguồn từ một tổ tiên chung.

Nghiên cứu này đề xuất dùng tên Devario cho các loài lớn, còn Danio chỉ dành cho các loài nhỏ. Về sau Kottelat (2013) còn thu hẹp Danio xuống chỉ còn loài chuẩn D. dangila, và chuyển hầu hết các loài cũ sang hai giống được khôi phục là Brachydanio và Celestichthys. Kullander (2015), Catalog of Fishes và FishBase không theo cách tách này mà vẫn giữ các loài đó trong Danio.

Các phân tích phát sinh chủng loại về sau (ví dụ Mayden et al., 2007) phần lớn ủng hộ những kết quả này. Dù vậy, Devario vẫn có vài lần xáo trộn, nhất là sau Fang et al. (2009) và Kottelat (2013).

Trong nghiên cứu của Fang et al. (2009), hai loài vốn thuộc giống Inlecypris bị gộp vào Devario thành tên đồng nghĩa. Ba loài trước đây xếp trong Microrasbora được chuyển sang giống mới Microdevario, vì chúng có chung các đặc điểm phái sinh (synapomorphy) với Devario. Nghiên cứu này cũng đưa ra giả thuyết về một nhánh đơn ngành gồm các giống Devario, Chela, Laubuca, Microdevario và Microrasbora. Nghiên cứu gần đây hơn của Tang et al. (2010) ủng hộ giả thuyết này. Giống Betadevario (Pramod et al., 2010) cũng nằm trong nhóm này và là nhóm chị em của Devario và Microrasbora.

Kottelat (2013) khôi phục giống Inlecypris, đồng thời lưu ý rằng bằng chứng phát sinh chủng loại cho thấy trong Devario có hai dòng di truyền. Dòng thứ nhất gồm các loài có sọc dọc thân nổi bật. Như vậy, các loài còn lại (D. apogon và D. chrysotaeniatus) chưa có vị trí phân loại rõ ràng. Ngoài ra, một số loài có sọc mang chung một kiểu màu, gồm một sọc giữa thân ở nửa sau, vài vạch ở phần trước và các mảng vàng xen giữa. Về sau những loài này có thể sẽ được tách sang một giống riêng, và tên Parabarilius đã có sẵn cho giống đó.2

Nguồn

2 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Aquarium Glaser aquariumglaser.de
  2. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Fang, F. (2003). Phylogenetic Analysis of the Asian Cyprinid Genus Danio (Teleostei, Cyprinidae). Copeia 2003(4), 714-728
  • Fang, F., M. Norén, T. Y. Liao, M. Källersjö and S. O. Kullander (2009). Molecular phylogenetic interrelationships of the south Asian cyprinid genera Danio, Devario and Microrasbora (Teleostei, Cyprinidae, Danioninae). Zoologica Scripta 38(1), 1-20
  • Kottelat, M. and R. Pethiyagoda (1990). Danio pathirana, a new species of cyprinid fish endemic to southern Sri Lanka. Ichthyological Exploration of Freshwaters 1(3), 247-252
  • Mayden, R. L., K. L. Tang, K. W. Conway, J. Freyhof, S. Chamberlain, M. Haskins, L. Schneider, M. Sudkamp, R. M. Wood, M. Agnew, A. Bufalino, Z. Sulaiman, M. Miya, K. Saitoh, S. He (2007). Phylogenetic relationships of Danio within the order Cypriniformes: a framework for comparative and evolutionary studies of a model species. Journal of Experimental Zoology, Molecular Development and Evolution 308B, 642-654
  • Pramod, P. K., F. Fang, K. Rema Devi, T.-Y. Liao, T. J. Indra, K. S. Jameela Beevi and S. O. Kullander (2010). Betadevario ramachandrani a new danionine genus and species from the Western Ghats of India (Teleostei: Cyprinidae: Danioninae). Zootaxa 2519, 31-47
  • Tang, K. L., M. K. Agnew, W. J. Chen., M. V. Hirt, T. Sado, L. M. Schneider, J. Freyhof, Z. Sulaiman, E. Swartz, C. Vidthayanon, M. Miya, K. Saitoh, A. M. Simons, R. M. Wood and R. L. Mayden (2010). Systematics of the subfamily Danioninae (Teleostei: Cypriniformes: Cyprinidae). Molecular Phylogenetics and Evolution 57(1), 189-214
  • Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27, 1-6632

Chuẩn bị để nuôi Cá devario pathirana

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Video

  • Spotlight on the Critically Endangered Barred Danio (Devario pathirana)!#BarredDanio0:09, EN

  • Barred Danio (Devario pathirana)  🐟🌿 #BarredDanio #DevarioPathirana #danio #daniofish #devario #fish0:16, EN-US

  • Devario pathirana (wild) bij Aquarium Speciaalzaak Utaka1:10, EN

  • A shoal of Barred Danio. 😊0:12, EN