Đơn vị
Giao diện

Cyprinidae, Myanmar

Cá danio phát sáng phương bắc

Danio flagrans

Tên khác: Cá danio Putao, Northern Glowlight Danio, Danio sp. Putao, Danio putaoensis, Danio cf. choprae

Nhiệt độ
16–24°C
pH
6–7
Bể tối thiểu
80 cm
Độ khó
Dễ

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
16–24°C
pH
6–7
Độ khó
Dễ 2/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianVừabể từ 80 cm, cá dài 3,5 cm
  • NướcDễpH 6–7, 2–10 dGH
  • Nhiệt độVừanước mát · 16–24°C

Độ khó 2/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-06.

Có nên mua không?

Bể bắt buộc phải có nắp đậy thật khít. Loài này nổi tiếng nhảy giỏi, và nó lọt được qua những khe hở nhỏ đến bất ngờ.

Danio phát sáng phương bắc (Danio flagrans) là một loài cá chép nhỏ. Hiện người ta chỉ biết nó sống ở vài con suối gần Putao, vùng cực bắc Myanmar. Cá đã về tới giới chơi cá nhưng số lượng còn ít. Ngoài tên chính, nó còn được bán dưới các tên 'Danio sp. Putao', 'D. putaoensis' hoặc 'D. cf. choprae'. Nhìn bên ngoài, loài này rất giống D. choprae. Muốn phân biệt thì dựa vào thân thon hơn, râu dài hơn và đường bên gần như lúc nào cũng có.1

Cần bể bao lớn?

Chiều dài chuẩn (SL): 35 mm.

Đáy bể: 80 × 30 cm. Thể tích: khoảng 72 lít.

Cá bơi rất nhiều, nên bể cần có đáy từ 80 × 30 cm trở lên.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 16–24°C
  • pH: 6.0–7.0
  • Độ cứng: 2–10 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Cá lên màu đẹp nhất trong bể trồng dày cây với nền hơi tối. Thả trong bể bày trí sơ sài thì màu cá có thể trông hơi nhợt.

Bể trồng nhiều cây là lựa chọn hợp lý. Một hướng khác cũng rất đẹp là set bể theo kiểu sông suối, nền gồm đá và sỏi đủ cỡ, thêm vài tảng đá lớn đã bị nước mài tròn.

Nước cần giàu oxy và có dòng chảy vừa phải. Tuy vậy, đừng tạo dòng mạnh như thác. Ngoài tự nhiên, các loài danionin nhỏ thường sống ở những đoạn nước êm và vùng sát bờ.

Bạn có thể bày thêm cành lũa và các loại cây dễ tính như Microsorum, Bolbitis hay Anubias. Mấy loại cây này buộc lên lũa, đá là sống tốt.

Bể bắt buộc phải có nắp đậy thật khít. Loài này nhảy rất giỏi và lọt được qua những khe hở nhỏ đến bất ngờ.1

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, gần như chắc chắn loài này ăn chủ yếu côn trùng và ấu trùng côn trùng. Nuôi trong bể thì cá khá dễ ăn, hầu hết các loại thức ăn đều nhận.

Bạn có thể cho ăn thức ăn khô loại tốt làm bữa chính. Dù vậy, nên thường xuyên cho thêm thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết, Daphnia, Artemia... Cá ăn đủ chất như vậy thì lên màu đẹp nhất và khỏe mạnh nhất.1

Nuôi chung với con gì?

Nhìn chung cá rất hiền. Nó là lựa chọn lý tưởng cho bể cộng đồng bày trí đầy đủ.

Cá không kén thông số nước, nên bạn ghép được với rất nhiều loài phổ biến. Danh sách gồm các loài cá chép nhỏ khác, tetra, cá đẻ con, cá cầu vồng, cá mê cung, cá da trơn và cá chạch.

Một bể cộng đồng toàn các loài sống ở suối thuộc lưu vực Irrawaddy/Ayeyarwady cũng là ý tưởng thú vị để thử. Bạn có thể chọn trong số Badis kyar, Acanthocobitis botia, Botia histrionica, B. rostrata, Lepidocephalichthys berdmorei, Schistura vinciguerrae, Tariqilabeo latius, Danio albolineatus, Pethia didi, P. erythromycter, P. stoliczkanus, P. ticto, Devario apogon, 'Inlecypris' shanensis, Rasbora daniconius và còn nhiều loài khác.

Bản tính loài này là sống theo đàn. Bạn thật sự nên nuôi ít nhất 8-10 con. Trong đàn, chúng sẽ tự phân thứ bậc với nhau.

Nuôi đông một chút thì cá bớt nhát. Quan trọng hơn, những con yếu thế, cả đực lẫn cái, sẽ có chỗ tránh những con đực đầu đàn. Mấy con đầu đàn này đôi khi khá hung hăng.

Trong đàn, những con yếu thế bị cắn rách vây là chuyện khá thường gặp. Có điều chúng thường chỉ cắn nhau, ít khi động đến các loài khác cùng bể.1

Phân biệt đực cái thế nào?

Cá cái trưởng thành thường bụng tròn hơn, màu nhạt hơn và lớn hơn cá đực một chút.

Vào mùa sinh sản, cá đực nhiều khả năng sẽ lên màu đậm hơn.1

Sinh sản ra sao?

Hiện chưa có ghi nhận chắc chắn, nhưng cách sinh sản hẳn cũng giống các loài họ hàng. Phần dưới đây là hướng dẫn dành cho D. choprae.

Giống nhiều loài cá chép nhỏ, loài này đẻ trứng rải rác và không chăm con.

Nói cách khác, khi khỏe mạnh thì cá đẻ khá thường xuyên. Trong một bể lâu năm, trồng dày cây, có khi bạn sẽ thấy vài con cá bột tự xuất hiện mà không cần can thiệp gì.

Còn nếu muốn thu được nhiều cá bột hơn thì bạn cần làm bài bản hơn một chút.

Bạn vẫn vỗ cá bố mẹ chung trong một bể. Bên cạnh đó, chuẩn bị thêm một hoặc vài thùng nhỏ, cỡ 10-15 lít, đổ nước tới khoảng một nửa.

Các thùng này cần để thật tối. Đáy thùng phủ một tấm lưới có mắt đủ to để trứng lọt xuống, nhưng đủ nhỏ để cá bố mẹ không chui qua ăn trứng được.

Loại thảm nhựa giả cỏ bán khắp nơi cũng dùng được và rất hiệu quả. Một cách khác là phủ kín phần lớn thùng bằng rêu java hoặc một loại cây lá nhỏ, kết quả cũng tốt.

Nước nên có pH từ hơi axit đến trung tính. Nhiệt độ để gần mức cao của khoảng nhiệt độ nêu ở trên.

Lúc đầu có thể đặt thêm một lọc máy nhỏ. Hướng dòng nước chảy dọc theo hết chiều dài thùng.

Khi cá bố mẹ đã được vỗ tốt và cá cái trông căng trứng, thả một hoặc hai cặp vào mỗi thùng.

Để kích cá đẻ, cứ vài giờ bạn châm thêm một ít nước mát cho mực nước dâng dần lên. Đồng thời cho ăn một ít thức ăn sống và đông lạnh.

Thường thì sáng hôm sau cặp cá sẽ đẻ. Cách dễ và nhanh nhất để biết là nhìn cá cái. Nếu đã đẻ, bụng cá cái sẽ xẹp đi thấy rõ.

Cá bố mẹ thấy trứng là ăn, nên tốt nhất vớt chúng ra sau vài ngày. Lúc đó nên thay lọc máy bằng một lọc bọt biển đã chạy lâu, có sẵn vi sinh. Như vậy cá bột không bị hút vào lọc.

Thời gian trứng nở tùy một phần vào nhiệt độ, nhưng thường mất khoảng 72 giờ. Vài ngày sau nữa thì cá bột bắt đầu bơi tự do.

Thức ăn đầu tiên cho cá bột là Paramecium hoặc thức ăn khô chuyên dụng có hạt thật mịn, đường kính 5-50 micron. Khi cá bột đủ lớn thì chuyển dần sang ấu trùng Artemia mới nở, giun vi sinh...1

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Hiện người ta chỉ ghi nhận loài này ở vài con suối thuộc lưu vực thượng nguồn sông Mali Hka, trong hệ thống sông Ayeyarwaddy. Các con suối này nằm gần thị trấn Putao, ở cực bắc bang Kachin, miền bắc Myanmar.

Địa điểm thu mẫu chuẩn được ghi là 'Nan Hto Chaung ở Putao, cách trung đoàn 46 khoảng 1,6 km, gần nhà máy xay lúa'.1

Môi trường tự nhiên

Loài này có vẻ ưa những con suối nhỏ vùng đồi, nền là sỏi và đá đủ cỡ.

Những hình ảnh về sinh cảnh ở Putao cho thấy một con suối hẹp, bờ toàn đá, cây cối xung quanh mọc rất dày. Có đoạn suối nông và nước chảy xiết. Có đoạn lại sâu hơn và nước chảy lững lờ.

Lúc thu loạt mẫu chuẩn vào tháng 3 năm 1998, suối Nan Hto Chaung gần như cạn khô. Suối chỉ còn rộng khoảng 50 cm và không có loài cá nào khác.

Suối này đổ vào một con suối lớn hơn tên là Nan Hto, nhưng ở đó không bắt được con danio nào.

Địa điểm thứ hai là Londont Chaung, rộng khoảng 2 m và sâu 1 m. Nước ở đây lạnh và chảy xiết, không có cây thủy sinh. Nền gồm cát, sỏi, đá tảng và lũa. Nhiệt độ nước đo được là 16,7 °C, pH 8,2, độ dẫn điện 93 μS/cm.

Địa điểm thứ ba cũng có nước mát, chảy liên tục và không có cây thủy sinh. Khác ở chỗ suối rộng tới 4 m và sâu 2 m, các đoạn nước xiết xen kẽ với những vũng nước chảy chậm. Thông số ở đây là nhiệt độ 17 °C, pH 7,77 và độ dẫn điện 55 μS/cm.1

Ghi chú

Loài này đã có mặt trong giới chơi cá nhưng số lượng còn ít. Nó còn được bán dưới các tên 'Danio sp. Putao', 'D. putaoensis' hoặc 'D. cf. choprae'.

Loài này trông rất giống D. choprae. Hai loài này khác với các danio còn lại ở kiểu màu chung của chúng. Hai bên thân có vài vạch dọc, phía sau bụng là các sọc P và P+1, phía trước vây lưng có một sọc P+2 rõ nét. Giữa sọc giữa lưng và sọc P+2 có sọc đỏ, giữa sọc P và P+1 cũng có sọc đỏ. Cả hai loài đều có các nốt sần phát triển rõ trên các xương nhỏ dưới ổ mắt.

Để phân biệt với D. choprae, có thể dựa vào các đặc điểm sau. Thân D. flagrans thon hơn (22,5-26,6 % SL, trong khi D. choprae là 26,6-31,6 % SL). Cuống đuôi dài hơn (20,5-24,7 % SL so với 16,1-19,1 % SL). Gốc vây hậu môn ngắn hơn (14,2-18,3 % SL so với 19,2-23,9 % SL). Râu mõm dài hơn (10,3-18,7 % SL so với 5,9-10,1 % SL), ở cá trưởng thành râu vươn quá mép xương nắp mang trước, còn ở D. choprae thì không chạm tới mép sau ổ mắt. Râu hàm trên dài hơn, vươn tới phía dưới gốc vây ngực, còn ở D. choprae thì không chạm tới gốc vây ngực. Đường bên gần như luôn có, với tối đa bảy vảy có lỗ, trong khi D. choprae gần như luôn không có đường bên, đôi khi chỉ có tối đa ba vảy có lỗ. Cuống đuôi chứa nhiều đốt sống hơn (9-10 so với 6-8). Vây hậu môn có 9½-11½ tia phân nhánh (so với 12½-13½, hiếm khi 11½). Gốc vây hậu môn trong suốt, còn ở D. choprae thì sẫm màu. Thùy dưới vây đuôi không có vệt đen, trong khi D. choprae thường có.

Mấy năm gần đây, người ta quen gọi tên các sọc trên thân và vây của nhóm danionin theo cách sau:

  • Sọc P, hay "sọc sắc tố", là sọc tối màu chạy giữa thân, ở một số loài kéo dài vào tận vây đuôi. Các sọc phía trên nó được đánh số P+1, P+2..., còn các sọc phía dưới là P-1, P-2, P-3.
  • Sọc A là sọc nằm giữa vây hậu môn. Sọc gần gốc vây (phía trên) gọi là A+1, sọc xa gốc vây (phía dưới) gọi là A-1.
  • Sọc D là sọc chạy sát dưới mép vây lưng.

Nhóm danionin vốn chỉ là một nhóm giả định. Mấy năm gần đây, sau một loạt nghiên cứu phát sinh loài, cách phân loại nhóm này đã bị xáo trộn khá nhiều.

Các nghiên cứu phát sinh loài phân tử thời trước phần lớn thống nhất rằng đây là một nhóm đơn ngành, gồm hai nhánh lớn. Nhánh 'Danio devario' gồm các loài to hơn, thân cao hơn. Nhánh 'D. rerio' gồm các loài nhỏ hơn, thân thon hơn.

Tuy vậy, năm 2003 Fang làm một nghiên cứu chi tiết hơn dựa trên đặc điểm hình thái, có tính cả các loài thuộc những chi họ hàng. Kết quả lần đầu tiên cho thấy chi Danio theo cách hiểu cũ là một nhóm đa ngành. Nghĩa là các loài trong chi không cùng bắt nguồn từ một tổ tiên chung.

Các loài lớn được đề xuất chuyển sang chi Devario, còn tên Danio chỉ dùng cho các loài nhỏ. Ngoại lệ là loài chuẩn D. dangila, loài này có thể dài tới khoảng 89 mm SL. Các nghiên cứu phân tử gần đây của Mayden và cs. (2007) và Fang và cs. (2009) tiếp tục dẫn tới những thay đổi mới. Nghiên cứu của Fang và cs. (2009) cho rằng chi Danio gồm ba nhánh con. Sau đó Kottelat (2013) tách ba nhánh này thành các chi riêng, cụ thể như dưới đây.

Các loài trước đây mang tên D. erythromicron, D. margaritatus, D. choprae và D. flagrans được gom vào chi Celestichthys Roberts, 2007, một chi được phục hồi lại. Các loài này có hoa văn thân rất riêng. D. erythromicron, D. choprae và D. flagrans có các vạch dọc, còn D. margaritatus có các đốm sáng. Râu của chúng hoặc rất ngắn, hoặc không có.

Kottelat (2013) chỉ giữ lại loài chuẩn D. dangila trong chi Danio. Lý do là loài này to hơn và có hình dạng vây đuôi khác biệt. Ở cá trưởng thành, vây đuôi chỉ hơi lõm, thậm chí cụt bằng. Trong các loài cá chép khác, chỉ có Tinca tinca (cá tench thông thường) có đặc điểm này.

Các loài còn lại, trong đó D. rerio được cho là cổ nhất, được xếp vào chi Brachydanio Weber & de Beaufort, 1916, cũng là một chi được phục hồi. Kullander (2015) không theo cách tách này. Lý do là các phân tích phát sinh loài ủng hộ mạnh mẽ việc giữ một chi Danio duy nhất theo nghĩa của Fang (2003), còn Devario là một chi riêng. Cả Catalog of Fishes lẫn FishBase đều vẫn xếp tất cả các loài này vào Danio.1

Nguồn

1 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Fang, F. (2003). Phylogenetic Analysis of the Asian Cyprinid Genus Danio (Teleostei, Cyprinidae). Copeia 2003(4), 714-728
  • Fang, F., M. Norén, T. Y. Liao, M. Källersjö and S. O. Kullander (2009). Molecular phylogenetic interrelationships of the south Asian cyprinid genera Danio, Devario and Microrasbora (Teleostei, Cyprinidae, Danioninae). Zoologica Scripta 38(1), 1-20
  • Mayden, R. L., K. L. Tang, K. W. Conway, J. Freyhof, S. Chamberlain, M. Haskins, L. Schneider, M. Sudkamp, R. M. Wood, M. Agnew, A. Bufalino, Z. Sulaiman, M. Miya, K. Saitoh, S. He (2007). Phylogenetic relationships of Danio within the order Cypriniformes: a framework for comparative and evolutionary studies of a model species. Journal of Experimental Zoology, Molecular Development and Evolution 308B, 642-654
  • Conway, K. W., W.-J. Chen and R. L. Mayden (2008). The 'Celestial Pearl danio' is a miniature Danio (s.s) (Ostariophysi: Cyprinidae): evidence from morphology and molecules. Zootaxa 1686, 1-28
  • Collins R. A., K. F. Armstrong, R. Meier, Y. Yi, S. D. J. Brown, R. H. Cruickshank, S. Keeling, and C. Johnston (2012). Barcoding and border biosecurity: identifying cyprinid fishes in the aquarium trade. PLoS ONE 7(1), e28381
  • Kullander, S. O. (2012). Description of Danio flagrans, and redescription of D. choprae, two closely related species from the Ayeyarwaddy River drainage in northern Myanmar (Teleostei: Cyprinidae). Ichthyological Exploration of Freshwaters 23(3), 245-262
  • Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27, 1-6631

Chuẩn bị để nuôi Cá danio phát sáng phương bắc

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.