Đơn vị
Giao diện

Cyprinidae, Myanmar

Cá thiên hà

Danio margaritatus

Tên khác: Cá CPD, Celestial pearl danio, Galaxy rasbora

Nhiệt độ
20–26°C
pH
6,5–7,5
Bể tối thiểu
45 cm
Độ khó
Dễ

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
20–26°C
pH
6,5–7,5
Độ khó
Dễ 2/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianDễbể từ 45 cm, cá dài 2,1 cm
  • NướcDễpH 6,5–7,5, 5–15 dGH
  • Nhiệt độDễ20–26°C
  • Tính cáchDễhiền
  • Bầy đànVừađàn từ 6 con

Độ khó 2/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ

Mỗi nguồn ghi một mức

  • BW Aquatics: 22–26°C
  • Seriously Fish: 20–26°C
  • Aquarium Co-op: 22–26°C
pH

Mỗi nguồn ghi một mức

  • BW Aquatics: 6–7,5
  • Seriously Fish: 6,5–7,5
  • Aquarium Co-op: 6,6–8
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước

Mỗi nguồn ghi một mức

  • BW Aquatics: 2,5 cm
  • Seriously Fish: 2,1 cm
  • Aquarium Co-op: 2,5 cm
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ BW Aquatics, Seriously Fish, Aquarium Co-op. Cập nhật 2026-11-04.

Thông tin nhanh

BW Aquatics ghi khác bảng dữ liệu: kích thước 2,5 cm (bảng: 2,1 cm).

Danio margaritatus, còn gọi là cá trân châu thiên hà (celestial pearl danio) hay galaxy rasbora, là một loài cá nước ngọt thuộc họ Cyprinidae. Đây là loài cá nhỏ, nhiều màu sắc, kích thước tối đa khoảng 2,5 cm.1

Cá danio ngọc trai thiên hà (Danio margaritatus) là một loài cá chép tí hon đến từ lưu vực sông Salween, bang Shan, miền đông Myanmar. Loài này được phát hiện năm 2006 và lúc đầu được bán dưới cái tên 'Galaxy Rasbora'. Nó nhanh chóng thành một trong những loài cá bị thổi phồng nhất mà giới chơi cá từng thấy. Năm 2007, Myanmar cấm xuất khẩu sau khi có báo cáo về tình trạng đánh bắt quá mức. Do bị nhân giống thương mại ồ ạt, cá có vây lốm đốm hoặc bị dị tật giờ gặp khá nhiều trên thị trường cá cảnh.2

Aquarium Co-op ghi khác bảng dữ liệu: kích thước 2,5 cm (bảng: 2,1 cm).

Danio margaritatus có khá nhiều tên thông dụng, như galaxy rasbora hay celestial pearl danio. Những cái tên này đều xuất phát từ các đốm vàng nổi bật rải khắp thân màu sẫm của cá. Cá trưởng thành dài tới 2,5 cm, vây màu cam đỏ rực có sọc đen. Loài này được phát hiện năm 2006. Chúng có nguồn gốc Đông Nam Á, sống ở vùng nước nông nhiều cây cỏ rậm rạp.3

Note the split caudal-fin of the fish to the left; minor injuries such as this are not uncommon.
©

Cần bể bao lớn?

Cá nhỏ thật, nhưng không nên nuôi một đàn trong bể có đáy dưới 45 × 30 cm. Lý do là những con đực đầu đàn đôi khi khá hung hăng (xem phần 'Tập tính và khả năng nuôi chung').

CPD nên nuôi trong bể có ít nhất 40 lít nước. Nếu bạn mua đàn đông hơn, khoảng 10–15 con, thì nên chọn bể từ 75 lít trở lên. Cá có tính hay đuổi nhau, nên bạn cần trồng nhiều cây thủy sinh thật để chúng lao qua lao lại giữa các bụi cây.3

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 20–26°C
  • pH: 6,5–7,5. Tại địa điểm điển hình, người ta đo được pH 7,3.
  • Độ cứng: 5–15 dGH2

Aquarium Co-op ghi khác bảng dữ liệu: pH 6,6–8 (bảng: 6,5–7,5).

Cá chịu được dải pH khá rộng, từ 6,6 đến 8,0. Nước mềm hay cứng vừa (GH) chúng đều sống được. Nhiệt độ lý tưởng là 22–24°C, cao nhất chịu được 26°C. Tùy nhà bạn ấm hay mát, có thể bạn nuôi được loài này trong bể không cần sưởi. Nhiều loài danio, kể cả CPD, ưa nước mát hơn phần lớn cá nhiệt đới.3

...but will also eat its own eggs given the opportunity.
©

Chăm sóc ra sao?

Đây là loài nhút nhát, tốt nhất nên nuôi trong bể trồng thật nhiều cây, nền tối màu càng tốt.

Bể nhiều cây sẽ che khuất tầm nhìn giữa các khu vực. Nhờ vậy cá bộc lộ tập tính tự nhiên và cũng bớt giật mình hoảng hốt.

Thêm cây nổi cũng tốt. Ngược lại, nên tránh lũa và lá khô (lá sồi, lá dẻ gai, lá bàng), vì tanin chúng nhả ra không có trong nước tự nhiên nơi loài này sống.

Lọc nên nhẹ. Một bộ lọc mút chạy bằng sủi khí là đủ dùng.2

Care Guide for Celestial Pearl Danios – Miniature Trout for Planted Tanks - Aquarium Co-Op
©

Cần thiết bị gì?

Chúng cần bể được lọc tốt, có nhiều không gian bơi và chỗ ẩn nấp, chẳng hạn cây thủy sinh và hang.1

Cho ăn gì?

Trong tự nhiên, cá trân châu thiên hà ăn các động vật không xương sống nhỏ như ấu trùng côn trùng, giáp xác và giun. Trong bể nuôi, chúng sẵn sàng ăn nhiều loại thức ăn, gồm thức ăn dạng mảnh chất lượng cao, thức ăn sấy đông hoặc đông lạnh, và thức ăn sống như artemia (brine shrimp) hay bo bo (daphnia).1

Ngoài tự nhiên, nhiều khả năng cá ăn động vật không xương sống nhỏ, tảo và các loại động vật phù du khác.

Trong bể, cá chịu ăn thức ăn khô cỡ vừa miệng, nhưng không nên chỉ cho ăn mỗi thứ này. Cá cũng hiếm khi lên mặt nước, nên cho ăn thức ăn nổi thì gần như vô ích.

Cho ăn hằng ngày các loại thức ăn sống và đông lạnh cỡ nhỏ như Daphnia, Artemia và tương tự sẽ giúp cá lên màu đẹp nhất. Chế độ ăn này cũng kích cá vào trạng thái sẵn sàng sinh sản.

Cá mới nhập về thường yếu và có thể khó làm quen với đời sống trong bể. Vì vậy, giai đoạn đầu nên cho ăn thức ăn sống cỡ nhỏ. Khi cá đã quen bể thì mới dần thêm thức ăn khô và đông lạnh.2

CPD thích bơi ở tầng giữa, nên bạn cho ăn loại thức ăn nhỏ và chìm chậm để cá đớp giữa dòng nước. Những món cá khoái nhất là artemia mới nở, cyclops và bo bo đông lạnh, cùng giun siêu nhỏ. Về thức ăn khô, bạn có thể dùng cám vảy bóp vụn hoặc cám dành cho cá nhỏ, cá bột. Quan trọng nhất là cho ăn đa dạng để cá có đủ dưỡng chất.3

galaxy rasboras
©

Nuôi chung với con gì?

Đây là loài hiền hòa và tốt nhất nên nuôi theo nhóm ít nhất 6 con. Chúng bơi lội năng động và cần nhiều không gian trống để bơi.1

Nếu nuôi chung với cá lớn hơn hoặc hiếu động hơn, loài này nhiều khả năng sẽ bị bắt nạt hoặc bị giành mất mồi. Tuy vậy, có thêm vài loài cỡ tương tự sống ở tầng mặt thì cá có vẻ bớt nhút nhát.

Các loài cá chép nhỏ khác từ Myanmar như Danio choprae hay các loài thuộc chi Microdevario đều hợp để nuôi chung. Có thể loài này cũng sống tốt cùng Dario hysginon hoặc D. sp. 'Myanmar'.

Không nên nuôi chung với Danio erythromicron, một loài họ hàng gần, vì loài này nhiều khả năng lai được với D. margaritatus (xem phần 'Ghi chú').

Bản tính loài này thích sống thành đàn, nhưng là kiểu đàn lỏng (shoaling) chứ không bơi đồng loạt theo hàng lối (schooling). Ban ngày, các con đực thường xuyên gây gổ, đọ sức với nhau.

Trong đàn, cá bị rách vây do cắn nhau không phải chuyện hiếm. Dù vậy, chúng thường không cắn sang các loài khác trong bể.

Hãy mua càng nhiều càng tốt, lý tưởng là từ 20 con trở lên. Đàn đông thì sự hung hăng được chia ra cho nhiều con. Cá cũng bạo dạn hơn, hay ra mặt hơn và lên màu đẹp hơn.2

CPD là cá sống đàn. Đàn càng đông thì chúng càng thấy yên tâm, vì dễ né kẻ săn mồi, dễ tìm thức ăn và dễ sinh sản hơn. Thông thường nên nuôi ít nhất sáu con cùng loài. Riêng CPD thì rất nên nuôi 10–15 con, vì chúng hơi nhút nhát.

CPD là cá nano hiền, sống chung tốt với các loài cá cộng đồng khác. Dù vậy, chúng vẫn là danio. Cá đuổi nhau để tranh thứ bậc hoặc khi vào mùa sinh sản. Trong đàn, chúng có thể rỉa vây nhau, nhưng hiếm khi gây sự với cá khác trong bể.

Đừng nuôi chung với cá lớn, vì cá lớn có thể ăn thịt, bắt nạt hoặc giành hết thức ăn của CPD. CPD đôi khi hay trốn. Thả thêm cá dither, tức những loài mạnh dạn bơi ngoài chỗ trống, có thể khiến CPD tự tin bơi ra hơn. Người chơi đã nuôi CPD chung với các loài cá cộng đồng hiền như tetra nhỏ, cá chuột Corydoras và chạch kuhli. Nuôi chung với tép cherry thì mỗi bể một kết quả. Bạn nên chừa nhiều chỗ trốn cho tép và chấp nhận chuyện CPD sẽ săn tép con. Cá betta thì có bể hợp, có bể không. Betta ưa nước ấm hơn và có thể gây hấn với cá lạ vào lãnh thổ của nó. Bạn có thể thử nuôi chung nếu giữ nhiệt độ ở 25–26°C, bể đủ rộng và con betta không quá dữ.3

Phân biệt đực cái thế nào?

Con đực có màu thân từ xanh thép đến xanh lam đậm, phủ gần hết hai bên hông. Tất cả các vây, trừ vây ngực, đều có sọc đỏ và đen rất đậm.

Các đốm trên thân có màu trắng ngọc trai đến màu kem. Khi vào mùa sinh sản, bụng cá đực ửng đỏ và màu toàn thân đậm lên. Nhờ vậy, sọc nhạt chạy dọc trên đỉnh đầu cũng hiện rõ hơn.

Con cái có màu nền xanh lục lam. Các mảng màu trên vây chỉ đỏ nhạt đến cam, kém nổi bật hơn con đực, còn vây bụng thì trơn, không có hoa văn.

Đốm trên thân con cái có màu kem đến vàng óng và không lan tới phần bụng trước.

Con cái thường lớn hơn con đực một chút và thân tròn hơn, nhất là khi đang mang trứng.

Khi sẵn sàng đẻ, con cái có một vệt sẫm nhỏ ở lỗ huyệt.2

Cá đực có màu rực rỡ hơn, còn cá cái thân tròn hơn.3

Danio margaritatus
©

Sinh sản ra sao?

Giống nhiều loài cá chép nhỏ khác, loài này đẻ trứng rải và không chăm con.

Pete Liptrot và Paul Dixon ở Bolton Museum Aquarium (Anh) là những người đầu tiên cho loài này sinh sản, chỉ một hai tuần sau khi cá về tới Anh năm 2006.

Nếu cá khỏe, chúng sẽ đẻ thường xuyên. Trong bể đã ổn định lâu và trồng dày cây, có thể bạn sẽ thấy lác đác vài con cá bột xuất hiện mà không cần làm gì.

Còn muốn thu được nhiều cá bột hơn thì phải chủ động kiểm soát hơn một chút.

Đàn cá bố mẹ vẫn có thể vỗ chung trong bể. Song song, bạn chuẩn bị thêm một hoặc vài thùng nhỏ hơn, cỡ 10–15 lít, đổ đầy nước cũ đã để lâu.

Lấp gần kín thùng bằng búi len mịn, Taxiphyllum hoặc cây lá nhỏ khác.

Thùng đẻ không cần đèn hay lọc. Nếu thích, bạn vẫn có thể gắn một lọc mút nhỏ chạy bằng sủi khí.

Khi cá bố mẹ đã được vỗ tốt, thả vào mỗi thùng một cặp, hoặc một nhóm gồm một hai con đực và vài con cái. Cần nhớ là càng nhiều cá thì trứng càng dễ bị ăn. Ngoài ra, nếu trong thùng có hơn một con đực, chúng có thể làm nhau phân tâm mà bỏ qua con cái.

Cá thường đẻ khá dễ. Mỗi lần đẻ thường ra khoảng 30 trứng, trứng hơi dính.

Lúc này nên vớt cá bố mẹ ra, vì gặp trứng nào chúng cũng ăn. Con cái cũng cần thời gian hồi sức trước lần đẻ sau, vì chúng không thể ra trứng mỗi ngày.

Ngoài tự nhiên, loài này có vẻ đẻ quanh năm. Vì vậy, nếu muốn có cá bột liên tục, bạn có thể chọn thêm cặp khác và cho đẻ luân phiên.

Thời gian trứng nở phụ thuộc phần nào vào nhiệt độ, nhưng thường mất khoảng 72 giờ. Sau đó 3–4 ngày, cá bột bắt đầu bơi tự do.

Thức ăn đầu đời nên là Paramecium hoặc thức ăn khô chuyên dụng có cỡ hạt đủ nhỏ (5–50 micron). Khi cá bột đủ lớn để ăn được thì bổ sung thêm ấu trùng Artemia, giun vi sinh (microworm) và các loại tương tự.2

CPD khá dễ cho sinh sản tại nhà. Bạn chỉ cần nuôi ít nhất sáu con để chắc chắn trong đàn có cả đực lẫn cái. Đây là loài đẻ trứng và thích đẻ vào giá thể. Bạn có thể dùng cây rậm như rêu java, hoặc tự làm búi đẻ bằng sợi len. Cứ cho cá ăn đầy đủ. Khi cá cái bụng to tròn đầy trứng, nhiều khả năng chúng sẽ đẻ gần như mỗi ngày.

Cá bố mẹ hay ăn trứng, nên bạn chuyển giá thể có trứng sang bể riêng. Trứng thường nở trong vòng một tuần, nhanh hay chậm tùy nhiệt độ nước. Một cách khác là thả cá ra hồ mini ngoài trời trồng nhiều cây thủy sinh vào mùa ấm, rồi cuối hè đem vào nhà lại.

Cá bột mới nở rất nhỏ và cần thức ăn dưới 50 µm, như trùng cỏ, nước xanh hay lươn giấm. Khi cá bột đủ lớn, bạn chuyển sang artemia mới nở còn sống. Artemia giàu chất béo và đạm tốt nên cá bột lớn rất nhanh.3

celestial pearl danio (CPD)
©

Phân bố tự nhiên

Sống tự nhiên ở: Myanmar, Thái Lan12

Sông, hồ, vùng: Salween2

Nguồn ghi gì
  • Myanmar · BW Aquatics1: “It is native to Southeast Asia, specifically the Shan State in Myanmar, and was first discovered in 2006 by a German aquarist named Tanja Schwedt.”
  • Thái Lan, Salween · Seriously Fish2: “It's since been found in waters associated with the Salween (aka Thanlwin) River throughout southern Shan and even across the border in northern Thailand.”

GBIF có 18 ghi nhận ngoài tự nhiên, tất cả trong các nước trên.

  • Ghi nhận trong các nước bản địa
  • Nước bản địa
  • Mỗi ô khoảng 160 km.

Dữ liệu: GBIF.org, 18 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-05 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Loài này có nguồn gốc từ Đông Nam Á, cụ thể là bang Shan ở Myanmar, và được một người chơi cá cảnh người Đức tên Tanja Schwedt phát hiện lần đầu vào năm 2006.1

Địa điểm điển hình được ghi là 'Pools at foot of mountain near Hopong town 30 kilometers east of Taunggyi, Myanmar, elevation 1040 meters' (các ao dưới chân núi gần thị trấn Hopong, cách Taunggyi 30 km về phía đông, Myanmar, độ cao 1.040 m). Ban đầu, người ta cho rằng loài này chỉ có ở đúng một điểm, ở độ cao khoảng 1.040 m so với mực nước biển, gần thị trấn Hopong thuộc bang Shan, miền đông Myanmar.

Về sau, cá được tìm thấy ở nhiều vùng nước thuộc hệ sông Salween (còn gọi là Thanlwin) khắp miền nam bang Shan, thậm chí sang cả bên kia biên giới, ở miền bắc Thái Lan.2

Chúng có nguồn gốc Đông Nam Á, sống ở vùng nước nông nhiều cây cỏ rậm rạp.3

Môi trường tự nhiên

Danio margaritatus được tìm thấy ở các dòng suối chảy chậm và những vũng nước, ưa nước trong, nông và có nhiều thảm thực vật.1

Địa điểm điển hình là một bãi cỏ ngập nước quanh năm. Bãi này hình thành khi người ta đắp đập chặn một mạch nước để lấy nước làm nông.

Nước ở đây chỉ sâu khoảng 30 cm, rất trong, và cây thủy sinh mọc dày đặc. Phần lớn cây thuộc họ Hydrocharitaceae, họ này gồm các chi như Elodea, Egeria và Blyxa.

Sống cùng khu vực có Devario sondhii, một loài Microrasbora cf. rubescens, một loài Petruichthys chưa được mô tả mà dân chơi gọi là chạch 'rosy', và Channa harcourtbutleri.

Nhìn qua ảnh thì phần lớn các sinh cảnh khác cũng na ná như vậy, tức là những vùng đất ngập nước nông, xung quanh là đồng cỏ trống. Dù vậy, có ít nhất một quần thể được cho là tìm thấy trong 'rừng sâu'.2

Rival males spar often, especially when in spawning condition. These two have aberrant patterning in the anal-fin (see 'Notes').
©

Ghi chú

Ngoại hình: Thân có màu xanh lam lục nhạt, hai bên hông có một dãy đốm óng ánh như ngọc trai và một sọc đỏ tươi chạy dọc thân. Đầu nhỏ, nhọn, vây đuôi chẻ đôi.1

Loài này được phát hiện vào tháng 8 năm 2006. Tháng sau đó, nhà xuất khẩu cá Kamphol Udomritthiruj đăng bức ảnh đầu tiên lên trang www.petfrd.com.

Một vài người hoài nghi cho rằng ảnh này do máy tính tạo ra hoặc đã qua chỉnh sửa. Sau đó, những bức ảnh chi tiết hơn được đưa ra. Cộng thêm làn sóng đưa tin của báo chí sau đó, D. margaritatus nhanh chóng thành một trong những loài cá bị thổi phồng nhất mà giới chơi cá từng chứng kiến.

Ban đầu cá được bán dưới tên Microrasbora sp. 'Galaxy' hoặc 'Galaxy Rasbora'. Hai tuần sau, cá đã được bán ở Singapore, và không lâu sau thì có mặt trên thị trường quốc tế.

Lúc đầu giá khá cao so với một con cá bé như vậy. Nhưng giá tụt nhanh khi hàng nghìn con được xuất khẩu chỉ trong vài tháng.

Đến tháng 2 năm 2007, xuất hiện những hình ảnh địa điểm điển hình với bờ nước bị giẫm nát, kèm theo các báo cáo rằng loài này đã bị bắt quá mức, đến mức gần tuyệt chủng. Cục Thủy sản Myanmar sau đó chính thức cấm xuất khẩu.

Đến tháng 6 năm 2007, chính quyền khảo sát các vùng đất ngập nước gần Hopong và tìm thêm được 5 quần thể. Theo bằng chứng hiện có, loài này không đứng trước nguy cơ trước mắt nào do bị bắt quá mức.

Nhu cầu cũng giảm khi người chơi nhận ra loài này dễ sinh sản và không thật sự hợp với bể cộng đồng 'thông thường'. Giá giờ đã ổn định.

Loài này cũng bị nhân giống thương mại ồ ạt. Trên thị trường cá cảnh hiện gặp khá nhiều cá có đốm hoặc mảng màu thay cho sọc ở vây bụng và vây hậu môn, hoặc bị dị tật hình thái (xem hình ảnh).

Ngoài ra, có một ít bằng chứng cho thấy loài này có thể đã bị cho lai với D. erythromicron, một loài họ hàng gần. Tuy vậy, cá lai dường như chưa xuất hiện trên thị trường.

Có một dạng khá thú vị, có vẻ là cá bắt ngoài tự nhiên, từng được bán dưới danh nghĩa con cái D. margaritatus. Dạng này không có sọc ở vây và có một đốm sẫm ở gốc cuống đuôi giống D. erythromicron, nhưng thân lại có hoa văn đốm như D. margaritatus (xem hình ảnh). Đến nay vẫn chưa rõ nó có cùng loài với một trong hai loài đã được mô tả hay không.

Mô tả chính thức ra đời vào tháng 2 năm 2007. Tyson Roberts xếp loài cá này vào một chi mới là Celestichthys, dù nó có nhiều điểm tương đồng về hình thái và tập tính với Danio (trước đây là Microrasbora) erythromicron.

Roberts cho rằng hai loài có vẻ là họ hàng gần, nhưng vẫn tách riêng, chủ yếu dựa vào màu sắc khác nhau. Ông cũng nhận xét rằng sau này D. erythromicron có thể sẽ được chuyển sang Celestichthys. Lý do chính còn lại để tách hai loài là khả năng chúng tiến hóa độc lập từ những loài khác nhau.

Conway và cộng sự (2008) xác nhận lại hiệu lực của loài dựa trên một số đặc điểm xương học và phân tích phát sinh chủng loại. Họ kết luận rằng loài này có quan hệ với chi Danio và là họ hàng gần nhất của D. erythromicron.

Họ cũng nhận thấy loài này có đủ tổ hợp các đặc điểm phái sinh (apomorphy) đặc trưng của các thành viên chi Danio, gồm sọc A ở vây hậu môn và từ hai sọc P trở lên ở vây đuôi (xem giải thích bên dưới). Hoa văn đốm trên thân cũng không phải độc nhất vô nhị, mà là biến thể phái sinh từ kiểu hoa văn sọc thấy ở các loài danio khác.

Nhóm tác giả còn ghi nhận những điểm tương đồng hình thái khác, chẳng hạn 'khía danionin' (danionin notch) ở hàm dưới. Vì vậy, Celestichthys bị xếp thành tên đồng nghĩa của Danio. Các tác giả muốn hiểu Danio theo nghĩa rộng hơn thay vì giữ lại Celestichthys. Tình trạng này kéo dài đến năm 2013, khi Kottelat khôi phục Celestichthys.

Kích thước trưởng thành nhỏ của loài là kết quả của quá trình thu nhỏ (miniaturisation). Đặc trưng của quá trình này là cá đã trưởng thành sinh dục nhưng kích thước giảm hẳn, dưới 20 mm SL.

Trong các loài cá xương, họ cá chép là một trong số ít nhóm mà hiện tượng này lặp lại nhiều lần. Toàn bộ các loài thuộc Barboides, Danionella, Microdevario, Microrasbora, Horadandia, Boraras, Paedocypris, Sawbwa và Sundadanio đều là những nhóm thu nhỏ, cùng với một số loài thuộc Danio, Laubuca và Rasbora.

Tất cả đều ưa nước tĩnh hoặc chảy chậm, thường ở những môi trường nghèo dinh dưỡng như đầm lầy than bùn trong rừng.

Cấu trúc giải phẫu của cá chép thu nhỏ có thể rất khác nhau. Có hai 'nhóm' chính, và một số loài mang đặc điểm trung gian ở mức độ nào đó.

Nhóm thứ nhất gồm những loài tuy nhỏ nhưng về cơ bản chỉ là phiên bản thu nhỏ theo tỷ lệ của những họ hàng lớn hơn, ví dụ Barboides, Microdevario, Microrasbora, Horadandia, Boraras, Sawbwa, Sundadanio, Danio, Laubuca và Rasbora.

Nhóm thứ hai gồm những loài có quá trình phát triển giải phẫu dừng lại sớm, đến mức cá trưởng thành vẫn giống dạng ấu trùng của tổ tiên lớn hơn, cụ thể là Danionella và Paedocypris.

Nhóm này thường được gọi là 'phát triển bị cắt ngắn' (developmentally truncated) hoặc 'paedomorphic'. Người ta cho rằng chúng tiến hóa qua quá trình 'progenetic paedomorphosis', tức hiện tượng paedomorphosis do quá trình trưởng thành diễn ra nhanh hơn.

Chúng thường có bộ xương đơn giản hơn, kèm những đặc điểm hình thái riêng của từng loài, như các mấu giống răng ở con đực Danionella dracula.

Britz và cộng sự (2009) cho rằng chính sự phát triển bị cắt ngắn có thể đã mở đường cho những đặc điểm mới như vậy, 'bằng cách giải phóng phần lớn bộ xương khỏi các ràng buộc phát triển, tách rời những con đường phát triển vốn gắn liền với nhau và tạo ra tiềm năng lớn hơn cho những thay đổi mạnh mẽ hơn'.

Vài năm gần đây, người ta thường gọi tên các sọc trên thân và vây của nhóm danionin như sau:

  • Sọc P, hay 'sọc sắc tố' (pigment stripe), là sọc sẫm chạy dọc giữa thân. Ở một số loài, sọc này kéo dài tới vây đuôi. Các sọc phía trên được đánh số P+1, P+2..., còn các sọc phía dưới là P-1, P-2, P-3...
  • Sọc A là sọc giữa của vây hậu môn. Sọc gần gốc vây (phía trên) là A+1, sọc phía ngoài (phía dưới) là A-1.
  • Sọc D là sọc nằm sát dưới mép vây lưng.

Nhóm danionin giả định đã bị xáo trộn phân loại khá nhiều trong những năm gần đây, sau khi hàng loạt nghiên cứu phát sinh chủng loại được công bố.

Các cây phát sinh chủng loại dựa trên dữ liệu phân tử trước đây nhìn chung thống nhất rằng đây là một nhóm đơn ngành gồm hai nhánh lớn. Nhánh 'Danio devario' gồm các loài lớn hơn, thân cao hơn. Nhánh 'D. rerio' gồm các loài nhỏ hơn, thon hơn.

Tuy nhiên, năm 2003 Fang thực hiện một nghiên cứu chi tiết hơn dựa trên đặc điểm hình thái, có cả các loài thuộc những chi họ hàng khác. Lần đầu tiên, kết quả cho thấy chi Danio theo cách hiểu cũ là một nhóm đa ngành, tức không phải mọi thành viên đều bắt nguồn từ cùng một tổ tiên chung.

Tên chi Devario được đề xuất cho các loài lớn hơn, còn tên Danio chỉ dùng cho các loài nhỏ (ngoại trừ loài điển hình D. dangila, có thể dài tới khoảng 89 mm SL). Các nghiên cứu phân tử gần đây của Mayden và cộng sự (2007) và Fang và cộng sự (2009) tiếp tục dẫn đến những thay đổi mới. Nghiên cứu năm 2009 xem chi Danio gồm ba nhánh con. Sau đó, Kottelat (2013) tách ba nhánh này thành các chi riêng như sau.

Các loài trước đây thuộc Danio là D. erythromicron, D. margaritatus, D. choprae và D. flagrans được gom vào chi Celestichthys Roberts, 2007, nay được khôi phục. Chúng có kiểu hoa văn thân rất riêng, gồm các vạch đứng (D. erythromicron, D. choprae, D. flagrans) hoặc các đốm sáng (D. margaritatus). Râu của chúng rất ngắn hoặc không có.

Kottelat (2013) chỉ giữ lại loài điển hình D. dangila trong chi Danio. Loài này được tách riêng vì kích thước lớn hơn và hình dạng vây đuôi. Ở cá trưởng thành, vây đuôi chỉ hơi lõm hoặc thậm chí cắt ngang. Trong họ cá chép, ngoài loài này ra chỉ có Tinca tinca (cá tench thường) mang đặc điểm đó.

Các loài còn lại, trong đó D. rerio được cho là cổ xưa nhất, được xếp vào chi Brachydanio Weber & de Beaufort, 1916, cũng được khôi phục. Kullander (2015) không theo cách chia này, vì các phân tích phát sinh chủng loại ủng hộ mạnh mẽ một chi Danio duy nhất theo nghĩa của Fang (2003), với Devario là một chi riêng. Catalog of Fishes và FishBase đều vẫn giữ tất cả các loài này trong chi Danio.2

Nguồn

3 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. BW Aquatics bwaquatics.com
  2. Seriously Fish seriouslyfish.com
  3. Aquarium Co-op aquariumcoop.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Conway, K. W., W.-J. Chen and R. L. Mayden (2008). The 'Celestial Pearl danio' is a miniature Danio (s.s) (Ostariophysi: Cyprinidae): evidence from morphology and molecules. Zootaxa 1686, 1-28
  • Fang, F. (2003). Phylogenetic Analysis of the Asian Cyprinid Genus Danio (Teleostei, Cyprinidae). Copeia 2003(4), 714-728
  • Fang, F., M. Norén, T. Y. Liao, M. Källersjö and S. O. Kullander (2009). Molecular phylogenetic interrelationships of the south Asian cyprinid genera Danio, Devario and Microrasbora (Teleostei, Cyprinidae, Danioninae). Zoologica Scripta 38(1), 1-20
  • Mayden, R. L., K. L. Tang, K. W. Conway, J. Freyhof, S. Chamberlain, M. Haskins, L. Schneider, M. Sudkamp, R. M. Wood, M. Agnew, A. Bufalino, Z. Sulaiman, M. Miya, K. Saitoh, S. He (2007). Phylogenetic relationships of Danio within the order Cypriniformes: a framework for comparative and evolutionary studies of a model species. Journal of Experimental Zoology, Molecular Development and Evolution 308B, 642-654
  • Roberts, T. R. (2007). The 'Celestial Pearl Danio', a new genus and species of colourful minute cyprinid fish from Myanmar (Pisces: Cypriniformes). Raffles Bulletin of Zoology 55(1), 131-140
  • Rüber, L. , M. Kottelat, H. H. Tan, P. K. L. Ng and R. Britz (2007). Evolution of miniaturization and the phylogenetic position of Paedocypris, comprising the world's smallest vertebrate. BMC Evolutionary Biology London 7(38), 1-10
  • Kottelat, M. (2013). The fishes of the inland waters of southeast Asia: a catalogue and core bibiography of the fishes known to occur in freshwaters, mangroves and estuaries. The Raffles Bulletin of Zoology Supplement 27, 1-6632

Chuẩn bị để nuôi Cá thiên hà

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Bài viết nhắc đến loài này

Có trong video hướng dẫn

Video

  • Celestial Pearl Danio (CPD) EVERYTHING you need to know! Complete care guide and history.16:55, EN

  • THE CPD RIVER: EPIC NATURAL NANO AQUASCAPE FOR CELESTIAL PEARL DANIOS (AQUASCAPE TUTORIAL)23:07, EN

  • Species Spotlight: Celestial Pearl Danio (Care + Breeding Guide)10:12, EN

  • Should YOU get a Celestial Pearl Danio? (Care Guide)8:43, EN