Đơn vị
Giao diện

Bệnh · đọc khoảng 9 phút

Cá bị sán mang: dấu hiệu, cách chữa và phòng

AquaTome tổng hợp từ 5 nguồn rồi tự viết

Tóm tắt nhanh

  • Sán mang là những con giun dẹp nhỏ thuộc nhóm monogenea. Chúng bám trên mang, da và vây, làm cá thở gấp, banh hoặc khép chặt nắp mang, cọ mình và bỏ ăn.
  • Trước khi đánh thuốc, bạn hãy đo amoni, nitrit, pH và xem chất khử clo có khử được chloramine không, vì nước kém và mang bị kích ứng rất dễ nhầm với sán. Trong lúc chữa, nhớ tăng sục khí.
  • Muốn biết chắc là sán thì phải soi mẫu mang dưới kính hiển vi. Praziquantel là thuốc lựa chọn hàng đầu, và phải đánh nhắc lại vì thuốc không diệt trứng.

Sán mang là gì

Sán mang là một nhóm giun dẹp nhỏ, tên khoa học là monogenea. Phần lớn chúng sống bên ngoài thân cá và bám trên da, vây và mang. Con trưởng thành thường dài khoảng 600 µm, thân dẹp và có hình bầu dục.

Sán lây thẳng từ cá này sang cá khác mà không cần vật chủ trung gian. Có hai họ hay gặp:

  • Dactylogyrus (họ Dactylogyridae) đẻ trứng và sống chủ yếu ở mang. Chúng hay bám các loài cá họ chép nước ngọt như danio, barb, cá vàng và koi. Con sán có hai cặp điểm mắt.
  • Gyrodactylus (họ Gyrodactylidae) phần lớn đẻ con. Chúng sống chủ yếu trên thân và vây, đôi khi ở mang. Trong bể nuôi khép kín, chúng sinh sôi rất nhanh. Con sán không có điểm mắt.

Ngoài tự nhiên, sán hiếm khi gây hại. Trong bể hay hồ nuôi chật thì khác, số sán có thể tăng đến mức cá bệnh và chết hàng loạt. Cá bị nhiễm nặng ở mang sẽ khó thở và chịu thiếu oxy rất kém. Cá cũng có thể chết vì nhiễm trùng thứ phát hoặc vì mất khả năng điều hòa thẩm thấu.

Ở khoảng 22–25°C, sán có thể đi từ trứng đến trưởng thành chỉ trong vài ngày. Ở gần 1–2°C, vòng đời này có thể kéo dài tới năm, sáu tháng.

Dấu hiệu

  • Cá thở nhanh hoặc thở gắng sức, kể cả khi nước có đủ oxy.
  • Nắp mang banh ra, hoặc ngược lại là khép chặt.
  • Cá cọ mình vào nền, vách bể hoặc đồ trang trí.
  • Cá lừ đừ, bơi sát mặt nước hoặc tụ lại ở đầu ra của lọc, rồi bỏ ăn.
  • Cá cụp vây, da đổi màu ở những chỗ sán bám hút.
  • Sán bám trên da có thể làm cá tróc vảy, và chỗ sán bám rỉ ra dịch hơi hồng.
  • Đôi khi bạn thấy những chấm tối li ti trên sợi mang.
  • Ở ca nặng, mang sưng và nhợt đi. Cá thở càng gấp và ngoi lên đớp khí trên mặt nước.

Muốn chắc chắn là sán thì phải lấy mẫu mang, vây hoặc nhớt da soi dưới kính hiển vi quang học. Mẫu phải lấy từ cá còn sống hoặc vừa chết, vì sán suy đi rất nhanh sau khi cá chết.

Soi xong, bạn nên xác định xem đó là họ nào, vì mỗi họ chữa một kiểu. Dactylogyrus đẻ trứng, nên phải chữa lâu hơn để diệt lứa sán non nở ra sau.

Những bệnh dễ nhầm với sán mang

  • Bệnh mang do vi khuẩn và nước kém cũng cho dấu hiệu giống vậy. Bạn hãy đo amoni, nitrit và pH trước đã.
  • Mang bị kích ứng do chloramine trong nước máy chưa khử hết. Đây là khả năng cần loại trừ đầu tiên.
  • Ở koi, hiện tượng kênh mang có thể do ấu trùng sán lá Centrocestus formosanus đóng kén sâu trong sợi mang, chứ không phải do monogenea. Chuyện này có mục riêng ở bên dưới.

Nguyên nhân

Thủ phạm thường là cá mới mua về. Cá mang sán trông vẫn khỏe mạnh, nhưng có thể lây cho cả đàn cá chưa từng tiếp xúc với sán. Trứng và ấu trùng sán còn sống được trong bể mà không cần bám trên cá.

Cá bị căng thẳng thì dễ nhiễm hơn. Những nguồn gây căng thẳng hay gặp là:

  • nuôi quá dày
  • nước kém
  • thức ăn thiếu chất
  • cá rượt đánh nhau

Người ta đã chứng minh cortisol, tức hormone stress của cá, làm sán monogenea sinh sản mạnh hơn.

Làm gì ngay

  • Đo amoni, nitrit, pH và xem lại chất khử clo trước khi kết luận là sán.
  • Tăng sục khí hoặc khuấy mặt nước trong suốt thời gian chữa. Nước ấm giữ được ít oxy hơn, mà cá bị sán mang lại chịu thiếu oxy kém.
  • Theo dõi sát khi đánh thuốc. Con nào phản ứng xấu thì vớt ra khỏi nước thuốc ngay.
  • Đừng cho ăn nhiều trong lúc chữa, vì thức ăn thừa làm amoni tăng.

Cá yếu hoặc nhiễm quá nặng có thể không qua nổi đợt chữa.

Chữa

Praziquantel là thuốc được chọn hàng đầu để trị sán monogenea. Ở Mỹ, FDA chưa duyệt thuốc này cho cá, nên muốn dùng cho cá thì phải có bác sĩ thú y kê đơn.

Liều và lịch dùng mỗi nguồn ghi một khác:

Cách dùngLiều và lịch
Tắm trong bể2,5 mg/L trong 24 giờ, sau đó thay 50% nước. Lặp lại vào ngày 7 và ngày 14 vì thuốc không diệt được trứng.
Thả trong nước, trên 25°C2–3 mg/L, cứ 3–4 ngày đánh một lần, tổng cộng 20 ngày.
Thả trong nước, 20–25°C2–3 mg/L, cứ 4–5 ngày đánh một lần, tổng cộng 25 ngày.
Diệt Dactylogyrus trong bể khép kín3 đợt, mỗi đợt 5–6 ngày ở mức 2,5 mg/L/ngày. Giữa các đợt nghỉ 1–4 tuần không dùng thuốc.
Dùng dài ngàyBắt đầu ở 2,5 mg/L, lặp lại cách ngày. Một số loài chịu được tổng liều cộng dồn đến 10 mg/L.
Tắm ngắn10 mg/L trong 3 giờ.
Trộn thức ăn35–125 mg/kg trộn vào thức ăn, tối đa 3 ngày.

Giữa các lần đánh praziquantel, bạn thay 50–75% nước.

Nếu dùng praziquantel dạng bột, bạn hòa bột với một ít cồn, đổ vào xô nước lấy từ bể ra, khuấy đều rồi mới cho vào bể. Bột không tan hết có thể làm hư mang cá rất nặng.

Praziquantel ở liều chữa bệnh được mô tả là an toàn với gần như mọi loài nước ngọt, kể cả tép, ốc và cây thủy sinh. Thuốc cũng không hại vi sinh trong lọc. Dù vậy, đã có ghi nhận cá hôn (kissing gourami) phản ứng xấu với một sản phẩm praziquantel. Trước khi xả nước bể có praziquantel ra ngoài, bạn cho nước chạy qua than hoạt tính.

Formalin (formaldehyde) là một lựa chọn khác, nhưng mỗi nguồn ghi một kiểu:

  • 30 mg/L kèm sục khí mạnh. Nếu cần thì đánh lại sau khoảng 30 ngày.
  • 0,15–0,25 ml/L trong 30–60 phút, chỉ dùng trong bể cách ly có sục khí tốt. Tuyệt đối không dùng trong bể trưng bày có cây hoặc tép, ốc.

Formalin ngốn oxy, và cá đang bệnh chịu thuốc này kém. Một số sán cũng đã cho thấy kháng formaldehyde.

Một nghiên cứu trên cá chép con nhiễm Dactylogyrus anchoratus cho thấy hai cách sau đều giảm được hơn 90% mức nhiễm:

  • tắm formaldehyde 0,17 ml/l trong 15 phút
  • fenbendazole 25 mg/l, ngâm 2 lần, mỗi lần 12 giờ, giữa hai lần nghỉ 24 giờ

Từ kết quả này, nhóm nghiên cứu đề xuất dùng các sản phẩm fenbendazole đã đăng ký để thay cho formaldehyde, vốn chưa được đăng ký, khi trị sán monogenea. Nghiên cứu này cũng thử ivermectin 0,031 mg/l trong 1 giờ, mebendazole 1 mg/l trong 12 giờ, và levamisole 50 mg/l trong 2 giờ hoặc 3 lần × 1 giờ.

Một vài lựa chọn khác:

  • Levamisole 2 mg/L là lựa chọn hàng thứ hai, hiệu quả ở mức vừa phải.
  • Oxy già (hydrogen peroxide) 300–560 mg/L trong 10 phút. Bạn phải hết sức cẩn thận, vì có những con cá không chịu nổi.
  • Thuốc tím (kali permanganat) 2 mg/L, ngâm dài. Cách này hợp hơn khi cá bị thêm columnaris hoặc nấm nước (water mould).

Muối trị sán cho kết quả thất thường. Các mức hay dùng là:

  • Nhúng muối 30–35 g/L trong 3–5 phút. Với ca không cấp tính thì tắm muối nhẹ 5 g/L trong 90 phút.
  • Nhúng cá nước ngọt vào nước biển ít nhất 10 phút, với một số loài sán là 15 phút. Cá lật mình thì vớt ra ngay.
  • Muối 3–5 g/L chỉ làm cá dễ chịu hơn một chút, không chắc diệt được sán trưởng thành.

Một thí nghiệm dùng muối 25 g/L trong 15 phút diệt sạch Gyrodactylus turnbulli, nhưng với G. bullatarudis thì chỉ diệt được 72%. Một nghiên cứu khác còn thấy nâng độ mặn từ 0 lên 3 g/L làm số Gyrodactylus tăng lên.

Thuốc gốc lân hữu cơ (trichlorfon, dichlorvos) trước đây từng được dùng ở mức khoảng 0,25 mg/L hoạt chất. Nhóm này nguy hiểm cho cả cá lẫn người, và nhiều nước đã cấm dùng để trị sán cho cá. Đã có ghi nhận trichlorfon 0,5–2 ppm đi kèm dị tật cột sống ở Melanotaenia pygmaea. Nước thiếu oxy làm nhóm thuốc này độc hơn. Sau khi đánh, sán có thể quay lại trong 5–30 ngày. Vì thế có khi phải đánh tới ba lần, mỗi lần cách nhau khoảng 21 ngày.

Cũng có nguồn ghi rằng Dactycid có thể hại ốc.

Kiểm tra lại

Chữa xong, bạn lấy mẫu soi lại dưới kính hiển vi. Chưa có mốc rõ ràng cho lần soi lại này, nhiều khả năng là sau 1–2 tuần.

Kênh mang ở koi chưa chắc là sán mang

Dân chơi koi ở Việt Nam gọi chuyện cá banh nắp mang là kênh mang, và có người gọi bệnh này là sán lá. Một nguyên nhân hay được nhắc tới là ấu trùng sán lá Centrocestus formosanus. Loài này thuộc nhóm digenea chứ không phải monogenea. Ấu trùng của nó đóng kén sâu trong sợi mang. Chúng vào cá qua ốc Melanoides tuberculata, còn sán trưởng thành thì sống trong chim và thú, kể cả người.

Một người bán koi kể rằng formalin, đồng sunfat, muối, thuốc tím và xanh malachite đều không diệt được ấu trùng trong mang. Người này dùng praziquantel trộn thức ăn ở mức 50–75 mg/kg thức ăn trong 3–5 ngày, cho ăn bằng 10–15% trọng lượng thân cá. Họ nói cách này đã được thử ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Praziquantel có mùi rất nặng. Trộn liều cao vào thức ăn thì cá có thể chê, và thuốc sẽ kém tác dụng. Bạn nên trộn thêm chất kết dính để thuốc bám chắc vào thức ăn.

Phòng

  • Cách ly cá mới ít nhất bốn tuần trong một bể đơn giản, rồi lấy mẫu mang, vây và da soi dưới kính hiển vi.
  • Nhúng cá mới trước khi thả vào bể đang chạy. Trong thời gian cách ly, bạn có thể cân nhắc đánh thuốc trị ký sinh phổ rộng để phòng.
  • Trứng sán dính và chịu được thay đổi độ mặn, nên chỉ nhúng thôi thì có thể không sạch trứng.
  • Cho cá ăn đủ chất và giữ nước ổn định để cá bớt căng thẳng.
  • Xử lý cả bể chứ không chỉ riêng cá, và nhớ lặp lại liều. Trứng và ấu trùng sống được ngoài cá, còn trứng thì chịu được một số loại thuốc.
  • Sán rất khó diệt tận gốc. Trước khi thả cá lại, bạn nên xả cạn, phơi khô và khử trùng bể.

Sai lầm hay gặp

  • Bỏ các liều praziquantel nhắc lại. Trứng nở ra và bệnh bùng lại từ đầu.
  • Dùng chất khử clo không khử được chloramine.
  • Cho ăn nhiều trong lúc chữa làm amoni tăng.
  • Thả cá mới mà không cách ly.
  • Đánh formalin xuống hồ lúc chạng vạng. Formalin ngốn oxy.

Khi nào cần lo

  • Cá ngoi lên đớp khí, mang sưng và nhợt. Đây là dấu hiệu của ca nặng.
  • Bể hoặc hồ nuôi dày. Trong điều kiện nuôi chật, số sán có thể tăng đến mức cá chết hàng loạt. Một người bán koi ở Việt Nam cũng kể rằng hồ thả dày và lúc giao mùa là lúc cá dễ nhiễm nặng ở mang.
  • Nước ấm, vì nước ấm giữ được ít oxy hơn. Ở Singapore, phòng không có máy lạnh thường ở mức 28–31°C. Chữa ở nhiệt độ như vậy thì càng phải sục khí kỹ.
  • Cá đã yếu sẵn hoặc nhiễm quá nặng. Những con này có thể không qua nổi đợt chữa.

Câu hỏi thường gặp

Tắm muối có trị được sán mang không?

Không chắc chắn. Muối 3–5 g/L chỉ làm cá dễ chịu hơn chút ít, không diệt chắc được sán trưởng thành. Một thí nghiệm với muối 25 g/L trong 15 phút diệt sạch một loài Gyrodactylus nhưng chỉ diệt được 72% loài khác. Một nghiên cứu còn thấy nâng độ mặn từ 0 lên 3 g/L làm số sán tăng.

Praziquantel có hại tép, ốc, cây và lọc không?

Ở liều chữa bệnh, người ta mô tả praziquantel là an toàn với gần như mọi loài nước ngọt, kể cả tép, ốc và cây, và không hại vi sinh trong lọc. Có ghi nhận cá hôn phản ứng xấu với một sản phẩm praziquantel. Bột thuốc tan không hết có thể làm hư mang cá.

Vì sao phải đánh praziquantel nhiều lần?

Vì thuốc không diệt trứng. Một cách làm là đánh 2,5 mg/L trong 24 giờ, thay 50% nước, rồi lặp lại vào ngày 7 và ngày 14. Bỏ các liều nhắc lại thì trứng nở ra và bệnh bùng lại.

Koi bị kênh mang có phải do sán mang không?

Chưa chắc. Ở koi, kênh mang có thể do ấu trùng sán lá Centrocestus formosanus đóng kén sâu trong sợi mang, chứ không phải do sán monogenea. Một người bán koi kể formalin, muối, thuốc tím, đồng sunfat và xanh malachite đều không diệt được ấu trùng này.

Làm sao biết chắc cá bị sán mang?

Bạn phải lấy mẫu mang, vây hoặc nhớt da soi dưới kính hiển vi, từ cá còn sống hoặc vừa chết. Trước đó, hãy đo amoni, nitrit, pH và loại trừ chloramine trong nước máy, vì nước kém và mang bị kích ứng rất dễ nhầm với sán.

Nguồn tham khảo

  1. Monogenean Parasites of Fish
  2. Gill Fluke Treatment Guide: Dactylogyrus in Freshwater Fish
  3. Efficacy of a therapeutic bath with selected antiparasitic drugs on a Dactylogyrus anchoratus infection in juvenile common carp (Cyprinus carpio)
  4. Gill & Body Flukes
  5. CÁCH TRỊ BỆNH KÊNH MANG (SÁN LÁ) TRÊN CÁ KOI.