Chăm sóc · đọc khoảng 12 phút
Còi cọc nghĩa là cuộc sống cũng còi cọc
Theo Seriously Fish

Chú cá tra dầu hổ (tiger shovelnose) non này đã bắt đầu còi cọc. Dấu hiệu nhìn thấy là phần mõm bị tròn lại. © Hristo Hristov

Rất ít người trong chúng ta cho rằng hành hạ hay bỏ bê động vật là chuyện chấp nhận được. Thế nhưng xét ở một khía cạnh, thú chơi cá cảnh có thể là một trong những mảng vi phạm nhiều nhất trong ngành buôn bán thú cưng toàn cầu.
Bài đầu tiên trong loạt bài ủng hộ 'Chiến dịch Cá Lớn' (Big Fish Campaign) của BIAZA sẽ giải thích vì sao trong một số trường hợp, kích thước thực sự quan trọng...
Vì sao cá bị xem là thứ có thể bỏ đi?
Bạn thử nghĩ một chút về con vật bạn thích nhất mà không sống dưới nước. Nó có thể là chim, mèo, chó, tắc kè hoa hay gấu trúc. Bạn có chấp nhận nó bị nhốt trong chỗ chật chội, bẩn thỉu, ăn thức ăn không hợp, không được sống theo tập tính tự nhiên, để rồi chậm lớn nghiêm trọng và chết sớm không?
Hầu hết những người có lý trí chắc chắn sẽ trả lời là không. Vậy tại sao người chơi cá như chúng ta, và cả ngành cá cảnh nói chung, lại có vẻ làm ngơ trước những loài cá rõ ràng quá lớn so với phần lớn bể cá gia đình?
Nhiều người dường như vẫn nghĩ cá chưa tiến hóa đủ cấu trúc thần kinh và đặc điểm sinh lý để có tri giác (cảm thức). Trong khi đó, bằng chứng khoa học cho thấy cá thực sự biết đau, biết sợ và bị căng thẳng, theo cách gần giống động vật bốn chân (Chandroo et al., 2004).
Vì thế, những huyền thoại và lời bào chữa quanh các loài cá 'lớn' vẫn tiếp tục lan truyền, còn nguồn cung của chúng thì không hề giảm.
Nuôi để làm thực phẩm, không phải để thả bể
Phần lớn các loài 'có vấn đề' là những loài bán nhiều và rẻ, như Pangasius, Pangasiodon, Pseudoplaytstoma, Phractocephalus, Colossoma, Piaractus, Clarias, v.v. Chúng không đến từ các trại cá cảnh mà là sản phẩm phụ của các dự án nuôi trồng thủy sản thâm canh. Vì vậy cá con rất rẻ.
Hầu hết cá da trơn họ Pangasiidae có mặt trên thị trường cá cảnh là sản phẩm phụ của các chương trình nuôi trồng thủy sản, như cơ sở này ở Việt Nam. © Philipp Sonderegger
Giá rẻ cũng có nghĩa là nhà xuất khẩu lời rất cao. Do đó những loài này khó mà sớm biến mất khỏi danh sách hàng. Giới chơi cá cũng chưa tự điều chỉnh được gì đáng kể cho đến nay, và Chiến dịch Cá Lớn hy vọng sẽ thay đổi điều đó.
Cũng như nhiều loài động vật lúc còn nhỏ, cá con của những loài này trông rất đáng yêu nên dễ bán. Chúng lại luôn chết khá nhanh, nên người ta cứ mua đi mua lại. Mỗi năm có hàng trăm nghìn cá con được bán cho các bể nuôi, và phần lớn số đó đã bị định sẵn một đời sống ngắn hơn rất nhiều so với lẽ ra.
Nói vậy thì dễ thành giật gân. Nhưng có lẽ sẽ ít người mua những loài cá này hơn nếu họ thấy được sự tàn nhẫn đằng sau chuyện đó.
Loạt bài này sẽ cố đưa ra một số lý do thực tế cho thấy vì sao buôn bán và mua những loài như vậy là vấn đề lớn về phúc lợi động vật. Lý do đầu tiên cũng là lý do rõ ràng nhất: kích thước khi trưởng thành, và thực tế là phần lớn cá lớn nuôi trong bể không bao giờ lớn hết cỡ.
Huyền thoại về kích thước cá và kích thước bể
Một quan niệm sai kinh điển là cá sẽ tự điều chỉnh tốc độ lớn và kích thước cuối cùng theo cỡ bể nó đang sống. Với người mới chơi, chuyện này nghe có vẻ đúng.
Có thể sắp có chuyện… Chiếc bể 45 cm này đang nuôi Pangasianodon hypophthalmus, Polypterus senegalus và cá koi.

Ví dụ, một con cá vàng, Carassius auratus, nuôi trong bể 30 cm x 20 cm có thể sống được vài năm và chỉ dài vài centimet, vừa tầm để chăm. Thoạt nhìn thì kết quả này có vẻ chấp nhận được.
Tuy nhiên, nếu được nuôi đúng cách, C. auratus có thể đạt 30 cm SL và sống 30 đến 40 năm. Như vậy, con cá giả định ở trên bị còi cọc nặng. Kể cả khi sống được 5 hoặc 6 năm, nó cũng chưa sống tới một phần tư tuổi thọ mà nó có thể đạt.
Các thủy cung công cộng thường có những cá thể còi cọc nặng của các loài cá da trơn khổng lồ như Pangasius, Phractocephalus hay Pseudoplatystoma, thường chỉ dài 30 - 60 cm. Những con này hay bị dị tật cột sống hoặc hộp sọ do nhiều năm sống trong bể nhỏ của người nuôi tư nhân.
Xương đã biến dạng nên chúng không lớn thêm được, cộng với căng thẳng kéo dài. Vì vậy, kể cả khi đã được chuyển sang chỗ rộng hơn, những con cá này thường không đạt nổi một nửa kích thước của cá trưởng thành ngoài tự nhiên.
Vậy điều gì khiến cá ngừng lớn khi bị nuôi chật? Và chuyện đó có kéo theo hậu quả gì cho sức khỏe chung và tuổi thọ của cá không?
Hormone ức chế tăng trưởng?
Người ta hay nói cá thải vào nước các hormone hoặc pheromone làm hạn chế hay ức chế tăng trưởng, để tự điều chỉnh sự phát triển theo môi trường xung quanh. Đây thường là lý do người ta đưa ra để nói cá sẽ 'lớn vừa với bể' mà không bị hại gì.
Cá có tiết hormone tăng trưởng, điều này đã được ghi nhận đầy đủ. Hoạt tính của hormone này cũng có thể bị thay đổi hoặc ức chế bởi các tác nhân gây căng thẳng từ bên ngoài, gọi là 'stressor', như nước bẩn hay mật độ quá dày. Nhưng chúng tôi không tìm được bằng chứng khoa học nào cho thấy cá còn tiết ra chất hóa học làm hạn chế tăng trưởng. Nói gọn lại, loại chất này dường như không tồn tại.
Có vẻ như chính hormone tăng trưởng mới là thứ bị thay đổi, cả về lượng tiết ra lẫn hoạt tính, trong một số hoàn cảnh nhất định. Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính khiến cá lớn bị còi trong bể, kể cả khi chúng được cho ăn đủ và trông vẫn khỏe.
Những con cá da trơn Pangasiidae leucistic (bạch biến một phần) bị còi nặng, đã quá lớn so với bể, bị mang trả lại cửa hàng. Giờ số phận của chúng sẽ ra sao? © Johnny Cabreney
Hóa chất, căng thẳng và sự ức chế tăng trưởng
Hormone tăng trưởng tham gia điều hòa các quá trình sinh lý chính, gồm cân bằng ion và thẩm thấu, chuyển hóa lipid, protein và carbohydrate, sự phát triển của xương và mô mềm, cảm giác thèm ăn, sinh sản và miễn dịch.
Căng thẳng có thể hiểu là phản ứng sinh lý của cơ thể trước một tác nhân gây căng thẳng. Nó ảnh hưởng rất lớn tới khả năng của cá trong các chức năng sống như tăng trưởng, vì nó làm rối loạn cân bằng nội môi (homeostasis) (Van Weerd và Komen, 1998).
Khi cá nhận ra một tác nhân gây căng thẳng, cơ thể nó sẽ có một 'phản ứng căng thẳng'. Về bản chất, đây là một chuỗi sự kiện sinh lý mà cá đã tiến hóa để vượt qua căng thẳng do tác nhân đó gây ra.
Hệ thần kinh trung ương truyền phản ứng này đến khắp cơ thể qua cả đường thần kinh lẫn đường hormone. Phản ứng gồm hai giai đoạn.
Phản ứng sơ cấp chủ yếu là phản ứng nội tiết, nhằm huy động năng lượng cần để vượt qua tác nhân gây căng thẳng. Phản ứng thứ cấp thì điều khiển quá trình hệ trao đổi chất thích nghi và lập lại cân bằng nội môi.
Ngoài tự nhiên, dĩ nhiên cá cũng có những lúc căng thẳng ngắn. Khi đó nồng độ cortisol và các chất hóa học khác tăng lên hoặc dao động trong thời gian ngắn, làm cân bằng nội môi xáo trộn tạm thời.

Còn trong bể nuôi, cá thường phải chịu tác nhân gây căng thẳng liên tục hoặc trong thời gian dài. Căng thẳng mạn tính đi kèm làm cân bằng nội môi bị mất trong thời gian dài. Cá không thể thích nghi, hoặc phải rất lâu sau mới thích nghi được.
Lúc này phản ứng căng thẳng không còn giúp cá thích nghi nữa mà quay sang gây hại. Nó có thể dẫn tới nhiều hậu quả xấu, như sức đề kháng với bệnh giảm, khả năng sinh sản kém đi và cá chậm lớn. Người ta gọi đây là phản ứng căng thẳng bậc ba.
Vậy cá trong bể cảnh phải chịu những tác nhân gây căng thẳng nào? Trông chúng khá thảnh thơi mà!
Thật ra không phải lúc nào cũng dễ biết thế nào là hành vi 'bình thường' của cá. Vì vậy cũng khó biết cần làm gì để đáp ứng điều đó khi nuôi nhốt.
Thêm nữa, có thể nói con người khá khó đồng cảm với một con cá. Người ta thường mặc định rằng cá vẫn bơi và ăn 'bình thường' là mọi thứ ổn và nhu cầu của nó đã được đáp ứng.
Còi cọc có thể gây dị tật xương như cong cột sống, như trong ảnh này. © Wally Gobetz
Chúng tôi không chắc là như vậy. Cá 'lớn' thường phải sống trong những điều kiện hoặc kiểu nuôi có thể xem là tác nhân gây căng thẳng, và một số tác nhân không dễ nhận ra ngay. Chúng gồm:
- Đói, do cho ăn thiếu, chế độ ăn không phù hợp, bị cá thể đầu đàn tranh mồi, hoặc do người nuôi không hiểu nhu cầu dinh dưỡng của cá 'lớn' lúc còn nhỏ.
- Suy dinh dưỡng. Tình trạng thiếu chất này có thể xảy ra ngay cả khi khẩu phần đã cân bằng, nhất là ở cá con vì chúng lớn nhanh hơn cá trưởng thành. Đây có thể là nguyên nhân chính gây còi cọc và các dị tật xương đi kèm ở cá 'lớn' nuôi bể, cũng như việc dùng cá vàng 'làm mồi' trong khẩu phần của các loài săn mồi. Phần sau sẽ nói kỹ hơn về chuyện này.
- Sợ hãi và căng thẳng hoặc hoảng loạn, do có cá săn mồi hay cá đầu đàn trong bể, bị bắt lên cầm nắm, bị thao tác nhiều lần, ánh sáng thay đổi đột ngột, v.v.
- Chất lượng nước và điều kiện môi trường kém. Cụ thể là oxy hòa tan thấp, pH không phù hợp hoặc dao động, nhiệt độ không phù hợp, không có chu kỳ ngày đêm, CO2 cao, nước nhiều chất rắn lơ lửng, và chất thải chứa nitơ như amoniac, nitrit ở nồng độ cao. Đây là một nguyên nhân chính khác khiến các loài này còi cọc và chậm lớn khi nuôi nhốt.
- Căng thẳng vì bị nhốt chật, nên cá không thể bơi theo cách tự nhiên. Chuyện này đặc biệt nặng với những loài cá 'lớn' vốn di cư hoặc bơi những quãng đường dài ngoài tự nhiên. Một bài sau sẽ nói thêm về điểm này.
- Thả quá nhiều cá và/hoặc mật độ quá dày.
- Thiếu kích thích từ môi trường. Ảnh hưởng của yếu tố này ở cá chưa được nghiên cứu kỹ, nhưng có thể nó quan trọng hơn so với cách nhìn truyền thống (Southgate, 2010), nhất là với cá nuôi trong bể hoàn toàn trống trơn.
Vậy cá 'lớn' nuôi nhốt có bị căng thẳng liên tục không?
Không hẳn. Nhưng phần lớn cá không đạt được kích thước trưởng thành và tuổi thọ mà chúng có thể đạt. Điều đó cho thấy chúng phải chịu nhiều tác nhân gây căng thẳng trong thời gian dài và bị cản trở phát triển rất đáng kể.
Riêng chuyện này đã vi phạm luật phúc lợi động vật ở một số nước, trong đó có Hoa Kỳ và Anh. Luật ở đó áp dụng cho mọi động vật có xương sống, kể cả cá.
Nhà bán buôn, nhà bán lẻ và người chơi cá...
...hãy ủng hộ Chiến dịch Cá Lớn. Không nhất thiết phải cấm buôn bán những loài cá này. Nhưng bán ra hàng nghìn cá con mỗi năm là một vấn đề nghiêm trọng về phúc lợi động vật. Những loài này chỉ nên đến tay người có khả năng nuôi chúng đúng cách.
Người mua cứ thoải mái mua cá lớn, nhưng chỉ khi bạn có đủ điều kiện để nuôi chúng!!!
Liên kết hữu ích
- Trang web BFC
- Thư ủng hộ BFC
- Áp phích ủng hộ BFC
Bạn cũng có thể tìm thêm thông tin trên trang web của BIAZA.
Chúng tôi cũng rất muốn nghe ý kiến của bạn về vấn đề nhạy cảm này, dù bạn đứng về phía nào. Bạn có thể đăng bình luận bên dưới, trên trang Facebook, hoặc Tweet tới @seriouslyfish!
Các nhà bán lẻ và tổ chức cũng có thể cam kết ủng hộ ngay trong phần bình luận ở đây. Thông tin của bạn sẽ được chuyển tới ban tổ chức chiến dịch để họ bổ sung vào danh sách trên trang web chính thức.
Tài liệu tham khảo
Almeida, D., A. Almodóvar, G. G. Nicola, and B. Elvira. 2008. Fluctuating asymmetry, abnormalities and parasitism as indicators of environmental stress in cultured stocks of goldfish and carp. Aquaculture 279: 120–125
Bernier, N. J., N. Bedard, and R. E. Peter. 2004. Effects of cortisol on food intake, growth, and forebrain neuropeptide Y and corticotropin-releasing factor gene expression in goldfish. General and Comparative Endocrinology 135: 230–240
Chandroo, K. P., I. J. H. Duncan, and R. D. Moccia. 2004. Can fish suffer?: perspectives on sentience, pain, fear and stress. Applied Animal Behaviour Science 86: 225–250
Chizinski, C. J., K. L. Pope, G. R. Wilde, and R. E Strauss. 2010. Implications of stunting on morphology of freshwater fishes. Journal of Fish Biology 76: 564-579
Conte, S. F. 2004. Stress and the welfare of cultured fish. Applied Animal Behaviour Science 86: 205–223
Dyer,A. R., Z. Upton, D. Stone, P. M. Thomas, K. L. Soole, N. Higgs, K. Quinn, and J. F. Carragherd. 2004. Development and validation of a radioimmunoassay for fish insulin-like growth factor I (IGF-I) and the effect of aquaculture related stressors on circulating IGF-I levels. General and Comparative Endocrinology 135: 268–275
Fagundes, M., and E. Criscuolo Urbinati. 2008. Stress in pintado (Pseudoplatystoma corruscans) during farming procedures. Aquaculture 276: 112–119

Leatherland, J. F., and P. T. K. Woo (eds). 2010. Fish Diseases and Disorders, Volume 2: Non-infectious Disorders. CABI Publishing: 1-416
Pankhurst, N. W., S. L. Ludke, H. R. King, and R. E. Peter. 2008. The relationship between acute stress, food intake, endocrine status and life history stage in juvenile farmed Atlantic salmon, Salmo salar. Aquaculture 275: 311–318
Schreck, C. L. 2010. Stress and fish reproduction: The roles of allostasis and hormesis. General and Comparative Endocrinology 165: 549–556
Talbot, C. 1993. Some aspects of the biology of feeding and growth in fish. Proceedings of the Nutrition Society 52(3): 403-416
Van Weerd, J. H., and J. Komen. 1998. The effects of chronic stress on growth in fish: a critical appraisal. Comparative Biochemistry and Physiology Part A 120: 107–112
Wendelaar Bonga, S. E. 1997. The stress response in fish. Physiological Reviews 77(3): 591-625
Lưu ý biên tập: nguồn viết tên Latin không thống nhất (Pangasius/Pangasiodon/Pangasianodon, Pseudoplaytstoma/Pseudoplatystoma). Các tên này được giữ nguyên như bản gốc.








Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.