Set bể · video 20:00 · đọc khoảng 7 phút · phần 49/56
Tự làm sump lọc lớn và cách tính lượng vật liệu vi sinh cần dùng
AquaTome tổng hợp từ 1 nguồn rồi tự viết
Tóm tắt nhanh
- Sump làm từ bể kính 680 lít, chia ngăn bằng tấm mica 6 mm và lọc chung cho hệ thống bể khoảng 14.000 lít.
- Nước đi lần lượt qua bông lọc, chổi lọc, ngăn vi sinh ngập, ngăn tầng sôi K3, thêm một lớp chổi lọc nữa rồi mới vào ngăn bơm.
- Vách ngăn kê cao khoảng 2,5 cm để nước chui dưới đáy, nhờ vậy sump chịu được lưu lượng gấp đôi mức đang chạy mà nước không xối ầm ầm.
- Mỗi lít vật liệu xử lý được khoảng 3 g chất thải mỗi ngày nếu là tầng sôi, khoảng 4 g nếu là lọc tràn và khoảng 9 g nếu là vật liệu ngập.
- Bạn có thể ước lượng cân nặng cá theo quy tắc mỗi inch khối thân cá nặng khoảng 10 g và lượng thức ăn bằng 3% cân nặng mỗi ngày, từ đó tính ra lượng vật liệu cần có.
- Nên dư thêm khoảng 20% vật liệu vi sinh để kịp xử lý những đợt amoniac tăng vọt mà test nước không bắt được.
Bể to nuôi cá lớn sẽ xả ra rất nhiều chất thải. Lọc mua sẵn thường chỉ ghi "dùng cho bể bao nhiêu lít", trong khi khả năng nuôi cá của một bộ lọc nằm ở lượng vật liệu vi sinh bên trong nó. Bài này đi qua một sump tự làm từ bể kính 680 lít đang lọc chung cho cả hệ thống bể khoảng 14.000 lít. Bài nói cách chia ngăn, công dụng của từng ngăn, và cách tính lượng vật liệu lọc theo số cá bạn đang nuôi.
Bạn không cần làm sump to cỡ này. Cách chia ngăn và cách tính thì dùng được cho bể vài trăm lít.
Sump là gì và nước chạy trong hệ thống ra sao
Sump là một khối nước riêng, thường đặt dưới bể chính. Bơm đẩy nước từ sump lên bể. Nước tràn qua một tấm chắn tràn (weir) phía sau bể, theo ống chảy về sump, đi qua các ngăn lọc rồi lại được bơm lên. Vòng tuần hoàn cứ thế lặp lại.

Trong video
Trong hệ thống này có một bể 1.420 lít nối với một bể 680 lít khác, một bể 2.650 lít và một bể 7.570 lít. Mỗi bể có ống tràn và bơm hồi riêng. Bể nào cũng có lọc riêng đủ sức cho dung tích của nó. Sump lớn lọc chung cho cả hệ thống và làm lọc dự phòng. Khi cần tách riêng một bể, chỉ cần tắt bơm hồi của bể đó thì lọc riêng vẫn giữ nước cho nó.
Dựng thân sump và vách ngăn
Thân sump là một bể kính dày khoảng 12 mm, kích thước khoảng 213 x 61 x 61 cm. Vách ngăn là các tấm mica 6 mm, rộng khoảng 58 cm, cao khoảng 46 cm, dán silicon vào lòng bể. Ban đầu sump có nhiều vách hơn, sau đó bớt xuống còn năm vách để lấy thêm chỗ cho ngăn tầng sôi.
Trong video
Chỗ cần để ý là cách kê vách. Một số vách được nâng lên khỏi đáy khoảng 2,5 cm. Mép trên của chúng cao hơn mặt nước khoảng 2,5 cm. Nước luôn chảy theo đường dễ nhất, nên khi không tràn qua đầu vách được thì nó phải chui qua khe dưới đáy rồi đi lên qua lớp vật liệu. Khe 2,5 cm chạy suốt chiều rộng 58 cm đủ cho lưu lượng khoảng 49.000 lít/giờ, gấp đôi mức đang chạy là khoảng 26.500 lít/giờ. Vì khe rộng dư nên nước chảy êm, không xối mạnh.
Công dụng của từng ngăn
- Ngăn lọc cơ học (khoảng 76 lít): ngăn này giữ cặn và hiện đang chứa bông lọc 30 PPI cùng vài lọc bông (sponge filter) để sẵn. PPI là số lỗ trên mỗi inch, số càng cao thì bông càng mịn. Với lưu lượng lớn như vậy, túi lọc (filter sock) sẽ nghẹt và phải thay sau 2–3 ngày, còn bông lọc dùng được lâu hơn nhiều. Mấy cái lọc bông đặt sẵn ở đây luôn có vi sinh, lúc cần set bể mới hay bể cách ly thì lấy ra dùng ngay.
- Ngăn chổi lọc (rộng khoảng 13 cm, chứa khoảng 38 lít): chổi lọc là đồ của dân chơi hồ koi, mỗi cây khoảng 14 x 61 cm. Khi xếp sát nhau, chúng chặn cặn thêm một lần và cũng là chỗ cho vi sinh bám.
- Ngăn vi sinh ngập (rộng khoảng 20 cm, chứa khoảng 60 lít vật liệu): nước đi từ dưới lên qua lớp vật liệu. Phần lớn chu trình nitơ diễn ra ở ngăn này.
- Ngăn tầng sôi (dung tích khoảng 227 lít): ngăn này chứa hạt K3 đảo liên tục trong nước. Phần dưới bài nói kỹ hơn về ngăn này.
- Ngăn chổi lọc thứ hai (khoảng 38 lít): nước lại chui dưới một vách kê cao rồi đi lên qua một hàng chổi nữa. Lớp này làm trong nước lần cuối trước khi nước tràn sang ngăn bơm.
- Ngăn bơm: bơm hồi nằm ở đây. Sưởi, đèn UV và các thiết bị bạn không muốn để trong bể chính cũng đặt ở ngăn này.
Trong video
Bể chính được đậy bằng tấm polycarbonate hai lớp để nước bớt bay hơi.
Lọc tầng sôi chạy thế nào
Hạt K3 bị dòng nước đảo liên tục và va vào nhau. Va chạm làm bong lớp vi sinh già yếu ở mặt ngoài, nên mặt ngoài hạt chỉ còn lại lớp vi sinh khỏe. Mặt trong hạt không bị va chạm, nên vi sinh trong đó sống hết vòng đời mà không bị xáo trộn. Lọc tầng sôi xử lý mạnh và gần như không phải vệ sinh.
Trong video
Hạt K3 mới gần như lơ lửng trung tính, chạm nhẹ là chìm. Khi vi sinh bám dày, hạt sẽ lơ lửng và đảo đều cả ngăn. Lúc mới chạy mà thấy hạt đảo lèo tèo thì cứ kiên nhẫn chờ. Lượng hạt cũng cần đủ, khoảng 2/3 dung tích ngăn. Ngăn 227 lít nên có khoảng 150 lít hạt, trong khi hiện mới có khoảng 95 lít và còn thiếu khoảng 57 lít.
Lọc tầng sôi hay bị chê ồn vì phần lớn người ta thổi khí để đảo hạt. Ở đây dùng một bơm nước nhỏ chạy khoảng 2.270 lít/giờ, tốn 10 W. Lưu lượng đó đảo hết nước trong ngăn khoảng 10 lần mỗi giờ mà gần như không gây tiếng ồn.
Ba kiểu lọc vi sinh và sức xử lý của mỗi kiểu
Có ba kiểu đặt vật liệu lọc chính:
- Ngập (submerged): vật liệu nằm yên dưới nước, như lọc thùng, lọc treo hay các ngăn vi sinh ngập trong sump.
- Tầng sôi (fluidized): vật liệu đảo liên tục trong nước.
- Tràn (emerged): vật liệu nằm trên mặt nước, nước rót hoặc nhỏ giọt từ trên xuống, như lọc ướt khô (wet/dry) hay tháp lọc mưa của hồ koi. Bio ball và miếng cước rửa chén thường dùng cho kiểu này.
Những con số dưới đây lấy từ tài liệu nuôi trồng thủy sản, từ các nhà sinh học và từ thử nghiệm thực tế. Chúng cho biết mỗi lít vật liệu xử lý được bao nhiêu chất thải trong 24 giờ. "Chất thải" ở đây là lượng thức ăn bỏ vào bể mà cá phân giải thành amoniac và urê, không phải lượng amoniac lỏng.
| Kiểu lọc | Chất thải xử lý được / lít vật liệu / ngày |
|---|---|
| Tầng sôi | khoảng 3 g |
| Tràn | khoảng 4 g |
| Ngập | khoảng 9 g |
Vật liệu ngập xử lý được nhiều nhất vì nó có diện tích bề mặt rất lớn. Mỗi kiểu có ưu nhược riêng, ví dụ tầng sôi xử lý ít hơn nhưng gần như không phải chăm. Cộng theo lượng và loại vật liệu trong từng ngăn, cái sump này xử lý được ít nhất khoảng 1.440 g chất thải mỗi ngày.
Tính lượng vật liệu lọc theo số cá
Bạn có thể tính theo bốn bước:

- Ước lượng cân nặng cá. Theo quy tắc phổ biến, mỗi inch khối thân cá (khoảng 16 cm³) nặng khoảng 10 g. Một con Oscar dài khoảng 30 cm, dày 5 cm, cao 10 cm sẽ ra khoảng 960 g. Con số này chỉ là mức tối thiểu. Oscar trưởng thành thường nặng hơn 1 kg nhiều, có con lên tới khoảng 2,3 kg, nên bạn cần tính theo cỡ cá thật trong bể.
- Tính lượng thức ăn. Mức cho ăn khuyến nghị là khoảng 3% cân nặng cá mỗi ngày. Con Oscar 960 g sẽ ăn khoảng 29 g thức ăn một ngày.
- Chia cho sức xử lý của vật liệu. Với 29 g thức ăn, bạn cần khoảng 10 lít vật liệu tầng sôi, hoặc khoảng 6 lít vật liệu tràn, hoặc khoảng 3 lít vật liệu ngập.
- Cộng thêm khoảng 20% để dự phòng.
Lấy ví dụ một lọc thùng cỡ lớn chứa khoảng 6 lít vật liệu. Về lý thuyết, nó gần đủ cho bể nuôi 4–6 con Oscar, nhưng nhiều khả năng bể sẽ bị amoniac tăng từng đợt. Phép tính trên cũng chưa kể nền, lũa, đá và mặt kính, vì vi sinh bám ở đâu cũng được miễn là điều kiện phù hợp. Tuy vậy vẫn nên dư vật liệu thay vì trông vào phần đó.
Lấy ngược lại từ sump này: 1.440 g chất thải mỗi ngày, chia cho mức ăn 3%, ra khoảng 48 kg cá. Hiện cả hệ thống có khoảng 27–36 kg cá. Sump được làm dư để còn thả thêm cá vào các bể lớn.
Vì sao phải dư vật liệu
Nhiều người kể sáng ra thấy cá chết trong khi test nước vẫn đẹp. Một nguyên nhân hay gặp là amoniac tăng vọt rồi được xử lý hết trước khi bạn kịp đo. Đợt tăng đó có thể đủ cao để giết cá. Nếu nó lặp lại thường xuyên, cá sẽ bị stress nhẹ nhiều lần, stress tích dần rồi đến lúc cá gục. Kiểu stress nhỏ này ít người tính tới. Phần vật liệu dư khoảng 20% là để lọc kịp xử lý những đợt như vậy.
Bể cần bao nhiêu nước cho cá
Với lọc đủ mạnh, mỗi 3,8 lít nước chịu được khoảng 10 g cá, tức khoảng 2,6 g cá cho mỗi lít. Mức này chưa chắc là thoải mái cho cá, nhưng nước vẫn chưa thành độc. Áp vào con Oscar 960 g thì ra bể khoảng 380 lít.
Bắt đầu từ đâu
- Cân hoặc ước lượng tổng cân nặng cá trong bể, rồi nhân 3% để ra lượng thức ăn mỗi ngày.
- Đếm xem lọc hiện tại chứa bao nhiêu lít vật liệu vi sinh và thuộc kiểu nào, rồi so với bảng trên và cộng thêm 20%.
- Nếu tự làm sump, kê vách ngăn cao khoảng 2,5 cm để nước chui dưới đáy rồi đi lên qua vật liệu, và đặt bông lọc mịn ở ngăn đầu tiên.
- Để sẵn vài lọc bông trong sump để lúc nào cũng có lọc đã có vi sinh cho bể mới hay bể cách ly.
Câu hỏi thường gặp
Một lít vật liệu lọc vi sinh nuôi được bao nhiêu cá?
Mỗi lít vật liệu ngập xử lý được khoảng 9 g chất thải mỗi ngày, vật liệu tràn khoảng 4 g, tầng sôi khoảng 3 g. Nếu cho cá ăn khoảng 3% cân nặng mỗi ngày, một lít vật liệu ngập gánh được khoảng 300 g cá.
Lọc ghi 'dùng cho bể 500 lít' thì có đủ cho bể 500 lít không?
Chưa chắc đủ. Con số trên hộp phụ thuộc vào lưu lượng và mục đích dùng lọc, còn số cá lọc nuôi được thì tùy lượng vật liệu vi sinh bên trong. Bạn nên tính theo cân nặng cá và số lít vật liệu.
Hạt K3 mới bỏ vào sao không đảo mà cứ chìm?
Hạt K3 mới gần như lơ lửng trung tính nên dễ chìm. Khi vi sinh bám dày, hạt sẽ lơ lửng và đảo đều. Lượng hạt cũng nên đủ khoảng 2/3 dung tích ngăn.
Lọc tầng sôi có ồn không?
Lọc tầng sôi ồn chủ yếu khi bạn dùng sủi khí để đảo hạt. Dùng một bơm nước nhỏ thay cho sủi thì vẫn đảo được hạt mà êm hơn nhiều.
Nên dùng bông lọc hay túi lọc cho sump lưu lượng lớn?
Với lưu lượng lớn, túi lọc nghẹt rất nhanh và phải thay sau 2–3 ngày. Bông lọc khoảng 30 PPI dùng được lâu hơn nhiều nên đỡ công vệ sinh.
Nguồn tham khảo
- Video gốc: How i built my MOST POWERFUL DIY aquarium filter yet! The king of DIY, kênh The king of DIY · 20:00





Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.