Goodeidae, Mexico
Cá characodon cầu vồng
Characodon lateralis
Tên khác: Cá goodeid cầu vồng, Cá hoàng tử đỏ, Rainbow Characodon, Rainbow goodeid, Red prince
- Nhiệt độ
- 18–24°C
- pH
- 6–8
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
- Vừa
Bảng dữ liệu
Xem đủ bảng
- Nhiệt độ
- 18–24°C
- pH
- 6–8
- Độ cứng (dGH)
- 5–15
- Kích thước
- 6,5 cm
- Bể tối thiểu
- 120 cm
- Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?
Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:
- Không gianKhóbể từ 120 cm, cá dài 6,5 cm
- NướcDễpH 6–8, 5–15 dGH
- Nhiệt độVừanước mát · 18–24°C
- Tính cáchVừahơi dữ
Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
- Seriously Fish
- pH
- Seriously Fish
- Độ cứng (dGH)
- Seriously Fish
- Kích thước
- Seriously Fish
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
- Seriously Fish
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-06.
Thông tin nhanh
Cá characodon cầu vồng (Characodon lateralis) là một loài goodeid, được cho là chỉ sống ở các con suối phía dưới thác El Saltito, bang Durango, Mexico. Các quần thể phía trên thác, ở thượng nguồn Río Mezquital, có vẻ là loài cùng chi C. audax. Cả hai loài đều từng bị gọi chung bằng hai tên 'rainbow goodeid' và 'red prince'. Ngoài tự nhiên, loài này đang bị đe dọa. Mỗi quần thể có màu sắc và dáng thân riêng, vì vậy khi nuôi phải tách riêng từng quần thể. Tuyệt đối không nuôi chung chúng với dòng cá bể không rõ nguồn gốc.1
Cần bể bao lớn?
Bạn nên dùng bể hoặc thùng có đáy tối thiểu 120 × 30 cm, hoặc loại có diện tích tương đương (khoảng 108 lít).1
Nước cần thế nào?

Chăm sóc ra sao?
Cho ăn gì?
Ngoài tự nhiên, cá có lẽ ăn tạp, gồm động vật không xương sống nhỏ, tảo cát và các loại tảo khác. Nuôi trong bể thì nên cho ăn thức ăn sống cỡ nhỏ như Daphnia và Artemia. Bạn cũng nên bổ sung thêm chút rau xanh, chẳng hạn tảo sợi, Spirulina hoặc rau chân vịt chần sơ. Cá chịu ăn cả thức ăn khô loại tốt, nhưng đừng lấy thức ăn khô làm món chính.1
Nuôi chung với con gì?
Nếu muốn cho cá sinh sản thì tốt nhất nên nuôi riêng một loài. Khi bể đủ rộng, bạn vẫn có thể nuôi chung với các loài khác.
Cá đực hay gây hấn để giữ lãnh thổ. Dù vậy, chúng vẫn sống chung được nếu bể bố trí đúng cách (xem 'Bảo dưỡng').1
Nuôi chung
- Tính cách
- Hơi dữ
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →

Phân biệt đực cái thế nào?
Cá đực có màu sắc sặc sỡ hơn cá cái. Vây hậu môn của cá đực đã biến đổi thành một bộ phận gọi là andropodium, dùng để truyền tinh khi giao phối. Cá cái lớn hơn cá đực, và khi mang thai thì thân đẫy hẳn ra.1
Sinh sản ra sao?
Đây là loài đẻ con kiểu matrotrophic, tức cá mẹ nuôi phôi bằng dinh dưỡng của chính mình. Cá con khi sinh ra đã phát triển hoàn chỉnh. Trước khi chào đời, chúng nhận dinh dưỡng qua một cấu trúc giống nhau thai, gọi là trophotaenia. Ở chi Characodon, cấu trúc này khá đơn giản, chỉ gồm một cặp 'dải' dài, không phân nhánh.
Ngoài tự nhiên, mùa sinh sản kéo dài vài tháng, trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 9. Cá đực là bên chủ động tán tỉnh.
Thời gian mang thai thường là 50–55 ngày. Mỗi con cái thường đẻ 10–20 con một lứa. Cá con sinh ra đã khá to và ăn được ngay các loại thức ăn sống nhỏ, biết bơi như ấu trùng Artemia mới nở.1
Phân bố tự nhiên
Nguồn ghi gì
- Mexico · Seriously Fish1: “The rainbow characodon, Characodon lateralis, is a goodeid putatively restricted to springs below the El Saltito waterfall in Durango, Mexico.”
- Río Mezquital · Seriously Fish1: “Putatively restricted to a series of small habitats below the waterfall known as 'El Saltito' in the upper Río Mezquital basin, Durango state, central Mexico.”
GBIF có 61 ghi nhận ngoài tự nhiên: 60 trong các nước trên, 1 ở nơi khác (nhiều nhất: Nhật Bản 1). Ghi nhận ở nơi khác có thể là cá do người thả ra, hoặc nhận nhầm loài.
- Ghi nhận trong các nước bản địa
- Ghi nhận ở nơi khác
- Nước bản địa
- Mỗi ô khoảng 620 km.
Dữ liệu: GBIF.org, 61 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-07 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Loài này được cho là chỉ sống ở một loạt sinh cảnh nhỏ phía dưới thác nước 'El Saltito', thuộc lưu vực thượng nguồn Río Mezquital, bang Durango, miền trung Mexico. Trước đây, người ta nghĩ nó có mặt ở phần lớn thượng nguồn Río Mezquital, trải trên cả hai bang Durango và Coahuila. Tuy vậy, các phân tích di truyền lại cho kết quả khác, và chính điều này khiến chuyện phân loại trở nên rối rắm (xem 'Ghi chú').
Những điểm đã biết có loài này gồm 'Los Berros', 'La Constancia', 'Amado Nervo', 'San Juan' và 'Nombre de Díos'. Ngoài ra, nhiều khả năng vẫn còn những quần thể khác chưa ghi nhận (M. Köck, trao đổi cá nhân).
Địa điểm chuẩn chính xác của loài không ai biết, tài liệu gốc chỉ ghi chung chung là 'Trung Mỹ'.
Ngoài tự nhiên, loài này đang bị đe dọa. Số lượng và vùng phân bố của nó đã giảm mạnh vì ô nhiễm, khai thác nước ngầm, loài xâm lấn du nhập vào và nhiều kiểu tác động khác lên môi trường sống.1

Môi trường tự nhiên
Cá chủ yếu sống ở các con suối và dòng nước chảy ra từ suối, ở độ cao khoảng 1800 m so với mực nước biển. Chúng thích chỗ nước nông, gần như đứng yên và có nhiều cây thủy sinh. Nước ở đây có thể trong hoặc đục. Nền đáy cũng đủ loại, từ cát, sỏi, đá cho tới bùn, phù sa và đất sét.
Ở El Ojo de Agua de San Juan (tên này nghĩa đen là 'Con mắt của nước'), nơi cá sống là một con suối nước trong, rộng khoảng 100 m x 20 m, mọc nhiều cây thủy sinh. Quần thể ở El Ojo de Agua de Los Berros cũng sống trong một con suối khá lớn, nước trong vắt, nhưng con suối này đã bị con người cải tạo. Còn ở La Constancia, cá chỉ có trong một con suối rất nhỏ nằm trên đất tư nhân. Ở Amado Nervo, người ta từng bắt được loài này trong một dòng suối nhỏ bị ô nhiễm, có tảo lục và không có cây thủy sinh nào. Từ năm 2011 đến nay không ai thu được mẫu nào ở đây nữa, nên quần thể này có thể đã tuyệt chủng. Quần thể ở Nombre de Díos dường như cũng đã biến mất.
Ở một số điểm, C. lateralis sống chung với Dionda sp. và Astyanax mexicanus. Cùng chỗ còn có các loài cá du nhập như Xiphophorus hellerii, Oreochromis spp. (cá rô phi), Micropterus salmoides, Gambusia spp. và Lepomis macrochirus. Cây thủy sinh ở đây thuộc các chi Myriophyllum, Ceratophyllum, Potamogeton, Nymphaea và Scirpus.1
Ghi chú
Trong sách báo về cá cảnh, loài này còn có tên 'rainbow goodeid' và 'red prince'. Tuy vậy, theo cách hiểu hiện nay thì hai tên này cũng từng dùng cho một số quần thể của C. audax. Đây là loài cùng chi, cũng là loài đặc hữu của thượng nguồn Río Mezquital.
Trước đây, người ta cho rằng C. lateralis có mặt khắp lưu vực thượng nguồn Mezquital, cả phía trên lẫn phía dưới thác El Saltito. Còn C. audax thì chỉ sống ở các con suối đổ vào Laguna El Toboso, một hồ chỉ có nước theo mùa. Cách nhìn này bị đặt dấu hỏi ít nhất từ năm 2004. Các phân tích di truyền cho thấy mọi quần thể phía trên thác đều là C. audax, còn các quần thể phía dưới là C. lateralis. Hai loài đã tách nhau khoảng 1,5 triệu năm trước (Doadrio & Domínguez-Domínguez, 2004; Domínguez-Domínguez et al., 2006). Kết luận này chưa được giới nghiên cứu chấp nhận rộng rãi. Lý do được nêu ra là địa điểm chuẩn của C. lateralis vẫn còn mập mờ, chưa có phân tích nào rộng hơn với nhiều quần thể hơn, và cũng chưa có bằng chứng về hình thái. Dù vậy, một số tác giả đã theo kết luận này (Kempkes et al., 2013). Muốn biết chính xác có bao nhiêu loài và mỗi loài phân bố ở đâu thì cần một đợt rà soát phân loại, trong đó phải chỉ định neotype cho C. lateralis.
Mỗi quần thể có kiểu hình khác nhau rõ rệt, cả về hoa văn màu sắc lẫn hình thái. Chúng khác nhau ở độ cao thân, tỷ lệ cuống đuôi, hình dạng đầu và chiều dài gốc vây hậu môn, vây lưng. Vì vậy nên coi mỗi quần thể là một đơn vị tiến hóa riêng và nuôi tách riêng trong bể, để chúng không lai với nhau và giữ được dòng di truyền. Ngoài các quần thể tự nhiên đã biết, còn có một dòng cá bể không rõ nguồn gốc. Dòng này tuyệt đối không được nuôi lẫn với cá hoang dã.
Characodon là nhánh cơ sở nhất của phân họ Goodeinae trong họ Goodeidae. Chi này tách khỏi các goodeid khác khoảng 10–15 triệu năm trước. Bên cạnh C. lateralis và C. audax còn có loài thứ ba là C. garmani Jordan & Evermann 1888. Loài này chỉ được biết qua đúng một mẫu cá cái, thu ở một con suối chảy vào Laguna de Mayrán. Hồ này thuộc lưu vực nội lưu Río Nazas ở bang Coahuila, cách khá xa các quần thể Characodon còn sống ở thượng nguồn Río Mezquital. C. garmani được coi là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên, vì từ đầu những năm 1880 không còn ai thu được mẫu nào. Thêm vào đó, Laguna de Mayrán gần như khô cạn hoàn toàn từ giữa thế kỷ XX do người ta xây đập trên nhánh sông chính đổ vào hồ.
Họ Goodeidae thường được chia làm hai phân họ. Phân họ Empetrichthynae nguyên thủy hơn, phân bố ở tây nam Hoa Kỳ. Các loài trong nhóm này thụ tinh ngoài, đẻ trứng, và phôi sống nhờ noãn hoàng. Ngược lại, phân họ Goodeinae sống ở vùng cao nguyên miền trung Mexico. Các loài trong nhóm này thụ tinh trong, đẻ con, và phôi được cá mẹ nuôi dưỡng. Goodeinae đôi khi còn được gọi là 'splitfin'. Cái tên này có là vì andropodium ở cá đực làm vây hậu môn trông như bị tách đôi. Nhiều loài goodeid đang bị đe dọa do mất môi trường sống, ô nhiễm và loài xâm lấn du nhập vào. Một số loài đã tuyệt chủng, số khác chỉ còn tồn tại nhờ các quần thể nuôi nhốt.1
Nguồn
1 nguồn và tài liệu tham khảo
- Seriously Fish seriouslyfish.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Tài liệu tham khảo
- Günther, A. (1866). Catalogue of the Physostomi, containing the families Salmonidae, Percopsidae, Galaxidae, Mormyridae, Gymnarchidae, Esocidae, Umbridae, Scombresocidae, Cyprinodontidae, in the collection of the British Museum. Catalogue of fishes in the British Museum v. 6, i-xv + 1-368
- Tobler, M. and N. Bertrand (2014). Morphological variation in vanishing Mexican desert fishes of the genus Characodon (Goodeidae). Journal of Fish Biology 84(2), 283-296
- Domínguez-Domínguez, O., I. Doadrio and G. Pérez-Ponce de Léon (2006). Historical biogeography of some river basins in central Mexico evidenced by their goodeine freshwater fishes: a preliminary hypothesis using secondary Brooks parsimony analysis. Journal of Biogeography 33(8), 1437-1447
- Doadrio, I. and O. Domínguez-Domínguez (2004). Phylogenetic relationships within the fish family Goodeidae based on cytochrome b sequence data. Molecular Phylogenetics and Evolution 31(2), 416-430
- Webb, S. A., J. A. Graves, C. Macias-Garcia, A. E. Magurran, D. O. Foighil, and M. G. Ritchie (2004). Molecular phylogeny of the livebearing Goodeidae (Cyprinodontiformes). Molecular Phylogenetics and Evolution 30(3), 527-544
- Miller, R. R. (2005). Freshwater fishes of México. University of Chicago Press, xxvi + 1-490
- Kempkes, M., M. Köck and R. Stawikowski (2013). Beiträge zur Biologie und zum Artenschutz der Hochlandkärpflinge. Westarp Wissenschaften-Verlagsgesellschaft mBH, 368 pp.
- Smith, M. L. and R. R. Miller (1986). Mexican Goodeid Fishes of the Genus Characodon, with Description of a New Species. American Museum Novitates 2851, 1-14
- Tiedemann R. L. (2009). Morphological status and taxonomy of Characodon (Goodeidae) from the high plateau of central Mexico. Georgia Journal of Science (Abstract Issue) 67(1), 20-21
- Howell, D. C., M. Martin and S. A. Webb (2008). Molecular phylogeography of Characodon (Goodeidae) from the Mexican high plateau. Georgia Journal of Science (Abstract Issue) 66(1), 6
- Fitzsimons, J. M. (1972). A Revision of Two Genera of Goodeid Fishes (Cyprinodontiformes, Osteichthyes) from the Mexican Plateau. Copeia 1972(4), 728-7561
Chuẩn bị để nuôi Cá characodon cầu vồng
Bể cáTối thiểu 120 cm
Thức ăn
Lọc, sủi khí và tạo dòng
Cây thủy sinh
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Video
Characodon lateralis... Who C.A.R.E.S...?1:38, EN
Colony Update: Characodon lateralis "Los Berros", the Rainbow Goodeid! Captive Breeding!9:15, EN
Characodon Lateralis dropped fry and we caught it on video3:40, EN
Rainbow Goodeid, Characodon lateralis "Los Berros"3:14, EN
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá characodon cầu vồng? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.

Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.