Osphronemidae, Pakistan
Cá sặc lùn
Trichogaster lalius
Tên khác: Cá sặc lùn Sunset, Cá sặc lùn Neon, Cá sặc lùn đỏ, Dwarf gourami, Cá sặc cầu vồng lùn, Cá sặc lửa, Cá sặc powder blue, Flame gourami, Powder blue gourami, Red gourami, Sunset gourami, Cá sặc gấm
- Nhiệt độ
- 22–27°C
- pH
- 6–7,5
- Bể tối thiểu
- 60 cm
- Độ khóCác nguồn ghi khác nhau
- Dễ
Bảng dữ liệu
Xem đủ bảng
- Nhiệt độ
- 22–27°C
- pH
- 6–7,5
- Độ cứng (dGH)
- 2–18
- Kích thướcCác nguồn ghi khác nhau
- 8,8 cm
- Tuổi thọCác nguồn ghi khác nhau
- 2–6 năm
- Bể tối thiểu
- 60 cm
- Độ khóCác nguồn ghi khác nhau
Dễ 2/8 Vì sao?
Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:
- Không gianDễbể từ 60 cm, cá dài 8,8 cm
- NướcDễpH 6–7,5, 2–18 dGH
- Nhiệt độDễ22–27°C
- Tính cáchVừahơi dữ
Độ khó 2/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức
Nguồn và độ tin cậy
- Nhiệt độ
Mỗi nguồn ghi một mức
- Seriously Fish: 22–27°C
- The Spruce Pets: 22–28°C
- Aquarium Breeder: 20–26°C
- pH
Mỗi nguồn ghi một mức
- Seriously Fish: 6–7,5
- The Spruce Pets: 6–7,5
- Aquarium Breeder: 6,5–7,5
- Độ cứng (dGH)
Mỗi nguồn ghi một mức
- Seriously Fish: 2–18
- The Spruce Pets: 4–10
- Aquarium Breeder: 4–12
- Kích thước
Mỗi nguồn ghi một mức
- Seriously Fish: 8,8 cm
- The Spruce Pets: 5 cm
- Aquarium Breeder: 7 cm
- Tuổi thọ
Mỗi nguồn ghi một mức
- The Spruce Pets: 4–6 năm
- Aquarium Breeder: 2 năm
- Bể tối thiểu
- Seriously Fish
- Độ khó
Mỗi nguồn ghi một mức
- Seriously Fish: 2
- The Spruce Pets: 4
- Aquarium Breeder: 4
Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish, The Spruce Pets, Aquarium Breeder. Cập nhật 2026-11-01.
Ảnh Cá sặc lùn
Xem tất cả 33 ảnh và ảnh bạn đọc →Thông tin nhanh
Cá sặc lùn (Trichogaster lalius) là một loài cá mê cung, quê ở Pakistan, miền bắc Ấn Độ và Bangladesh. Toàn bộ cá bán trên thị trường đều do trại nhân giống hàng loạt. Ngoài dạng gốc còn có nhiều dòng màu lai chọn lọc, trong đó có 'Sunset' và 'Neon'. Chất lượng cá giống đã đi xuống rất nhiều. Kiểu nhân giống hàng loạt có thể đã làm lây lan iridovirus ở cá sặc lùn (DGIV). Loại virus này có vẻ rất dễ lây và có thể truyền sang các loài khác sống chung nước.1
Có nên mua không?
Trichogaster lalius từng là một loài cá cảnh rất được ưa chuộng. Cá có màu lấp lánh và chịu được cả nước kém chất lượng. Thế nhưng chừng mười năm trở lại đây, loài này đã mất đi độ bền. Thủ phạm là chọn lọc nhân tạo quá đà, dịch bệnh từ châu Á và cách chăm sóc cẩu thả ở các trại sản xuất hàng loạt. Giờ đây người mới chơi không nên chọn loài này. Cá không chỉ yếu hơn trước mà còn rất nhát và dễ bị stress.
Các loài Trichogaster hoang dã thì khỏe và thích nghi rất tốt. Cá sặc lùn qua chọn lọc nhân tạo lại khác hẳn. Nuôi các dòng này có phần may rủi, và nếu bể không có điều kiện phù hợp thì cá gặp vấn đề là chuyện không hiếm. Bạn nên mua cá con, vì cá còn nhỏ dễ quen với môi trường mới hơn. Đừng thả cá khi bể đang chạy vi sinh (cycle) hoặc vừa chạy xong. Hãy chờ ít nhất vài tuần cho bể cân bằng hẳn.
Những vấn đề hay gặp ở cá sặc lùn:
- Chất lượng đi xuống. Vì loài này quá được ưa chuộng nên chất lượng chung của nó bị kéo xuống. Nhiều năm nay, các trại sản xuất hàng loạt dùng đủ loại phụ gia và chất kích thích để tăng lợi nhuận. Kết quả là chất lượng cá giảm đi đáng kể.
- Iridovirus ở cá sặc lùn (DGIV). Dịch DGIV đang lan rộng. Tác nhân là một loại Megalocytivirus lây rất mạnh, và đến nay bệnh này được xem là không chữa được. Một nghiên cứu ở Úc năm 2006 phát hiện một tỷ lệ đáng kể cá sặc lùn từ thị trường châu Á mang bệnh.
- Cho đẻ quá mức và lai cận huyết. Người ta cố ý cho cá lai cận huyết để gen đồng nhất, giữ được một màu hay một kiểu hoa văn nhất định. Cái giá phải trả là hệ miễn dịch yếu đi và cá dễ mắc bệnh hơn.
- Sức khỏe kém. Hệ miễn dịch yếu cộng với stress khiến cá nuôi thường xuyên đổ bệnh, và nhiều ca bệnh khiến cá chết.
Một số cửa hàng đã thôi nhập loài này vì khó kiếm được cá khỏe, sạch bệnh. Tìm một người nhân giống ở gần chỗ bạn có thể là lựa chọn an toàn hơn.3
Cần bể bao lớn?
Bể 60 x 30 x 30 cm (khoảng 56 lít) là tạm đủ cho một cặp, với điều kiện bể được set đúng cách (xem phần bên dưới).1
Aquarium Breeder ghi khác bảng dữ liệu: bể tối thiểu 40 lít (bảng: 60 cm).
Cá nhỏ nên hợp với bể cỡ nhỏ đến vừa.
- Nuôi một con cá sặc lùn thì bể 40 lít là đủ.
- Nuôi một nhóm nhỏ 2–3 con (ví dụ 2 cái và 1 đực) thì nên bắt đầu với bể khoảng 80–120 lít.
Bể càng to càng tốt. Cá có tính lãnh thổ và có thể khá dữ với nhau khi thiếu chỗ. Bể nhiều nước cũng dễ giữ cân bằng và thông số hơn. Lượng nước lớn làm loãng các dao động hóa học, nên điều kiện trong bể ổn định hơn. Với cùng một thể tích, bể dài tốt hơn bể cao.
Có nhiều chỗ trốn và cây rậm thì cá bớt stress và bớt gây gổ. Có điều bể nhỏ thì khó bố trí được như vậy.3
Nước cần thế nào?
- Nhiệt độ: 22–27°C
- pH: Cá hoang dã thường sống ở vùng nước mềm, có tính axit. Cá nuôi nhân tạo dễ thích nghi hơn và thường sống được ở bất kỳ mức pH nào trong khoảng 6,0–7,5.
- Độ cứng: 2–18 dGH1
Aquarium Breeder ghi khác bảng dữ liệu: nhiệt độ 20–26°C (bảng: 22–27°C), pH 6,5–7,5 (bảng: 6–7,5).
Nhiệt độ. Mức nhiệt hợp với cá là 20–26°C. Nếu cho cá làm quen thật chậm, chúng có thể chịu được nước mát hơn một chút. Trong một thí nghiệm kéo dài 90 ngày ở các mức 20, 25, 30 và 35°C, cá lớn nhanh và tăng cân tốt nhất ở 25°C. Tỷ lệ sống cao hơn ở 20°C và 25°C, chỉ 1% cá chết. Ở 28°C, tỷ lệ chết đã lên 10%. Mức nhiệt làm chết một nửa số cá là 39°C. Nhiệt độ nằm ngoài khoảng tối ưu ảnh hưởng rõ đến sự sinh trưởng và phát triển của cá.
pH. Một nghiên cứu cho thấy cá lớn tốt nhất, sống nhiều nhất và nuôi thuận lợi nhất ở pH 7,0. Mức pH làm chết một nửa số cá là 5,71 và 8,22. Khi pH xuống dưới 6,5 hoặc lên trên 7,3, cá dễ bị bệnh ngoài da và nhiễm trùng khó chữa, đồng thời dễ mắc bệnh nhung (oodinium) hơn. Trong bể, bạn nên giữ pH ở 6,5–7,5.
Độ cứng. Cá hợp với nước trung bình đến hơi cứng. GH trong khoảng 4–12 đều ổn.
Độ mặn. Cá chịu mặn kém. Các thí nghiệm cho thấy cá ở nước mặn tới 4 g/L vẫn an toàn, không con nào chết. Mức 5,81 g/L là độ mặn tối đa gây chết.
Nitrat. Giữ dưới 60.3
Chăm sóc ra sao?
Giống phần lớn các loài cá mê cung, cá sặc lùn không thích nước chảy xiết hay xáo động. Bể nào có nuôi chúng thì bạn nên giữ dòng chảy càng yếu càng tốt. Cá sống khỏe nhất trong bể trồng dày cây, có nhiều bóng râm và chỗ trốn. Bản tính loài này vốn nhút nhát, nên dùng nền tối màu và thả thêm cây nổi để cá bớt căng thẳng. Thêm vài cành nhỏ, nhánh cây và một lớp lá khô dưới đáy thì bể sẽ trông rất tự nhiên. Dù vậy, cá nuôi nhân tạo ngày nay khá dễ thích nghi. Chúng vẫn sống tốt trong hầu hết các bể được chăm sóc đàng hoàng, miễn là có đủ chỗ trốn và vùng bóng râm. Những chỗ này rất cần, vì cá cái phải có nơi lánh khi bị cá đực quấy. Thêm nữa, trong bể bày trí sơ sài, cá dễ trở nên nhút nhát và thu mình hơn nhiều.1
Cá sặc lùn hợp với bể nhỏ và cả bể cộng đồng. Cá sặc có thể giật mình, hoảng hốt khi có tiếng ồn, vì vậy bạn nên đặt bể ở chỗ yên tĩnh. Bể nên trồng nhiều cây, kể cả cây thả nổi, nhưng cây thả nổi chỉ nên phủ một phần mặt nước. Cá sặc thuộc nhóm cá mê cung, chúng cần ngoi lên mặt nước để đớp không khí.2
Tuổi thọ. Hiện chưa có số liệu về tuổi thọ tối đa của cá ngoài tự nhiên. Nhiều tài liệu nói cá sống được tới 5 năm. Thực tế thì phần lớn cá chỉ sống tối đa 2 năm, kể cả khi được chăm đúng cách. Có mấy yếu tố ảnh hưởng mạnh đến tuổi thọ:
- Nhiệt độ. Nước nóng (trên 25°C) đẩy nhanh quá trình trao đổi chất và làm tuổi thọ giảm gần một nửa.
- Đẻ liên tục. Cá đẻ hết lứa này đến lứa khác sẽ kiệt sức và chết sớm.
- Di truyền. Stress và gen yếu, vốn hay đi kèm với chọn lọc nhân tạo, đã làm tuổi thọ của cá giảm rõ rệt.
Cá mua ở cửa hàng thường đã được 4 đến 6 tháng tuổi. Bạn nhớ tính khoảng này khi ước lượng cá còn sống được bao lâu.
Cá nuôi chung. Bạn cùng bể phù hợp là các loài cá nhỏ, không đủ to để ăn thịt hay bắt nạt cá sặc lùn. Có thể kể đến cá molly, neon tetra, cardinal tetra, cá Endler, cá chuột pygmy, cá bảy màu, cá ngựa vằn, cá tam giác, killifish hề, killifish least và cá otocinclus.
Đừng nuôi cá sặc lùn chung với tép cảnh nhỏ. Cá sặc là loài săn mồi, thứ gì lọt miệng là chúng ăn, kể cả tép con. Ngay cả tép lớn vừa lột xác cũng có thể thành mồi. Trồng cây dày cho tép chỗ trốn thì đỡ phần nào, nhưng về lâu dài đây vẫn là ý tồi. Với ốc thì mỗi người nói một kiểu. Người ta thường thấy cá mặc kệ ốc, cùng lắm là rỉa râu ốc, nhưng cũng có báo cáo cá sặc ăn ốc.
Tránh nuôi chung với cá to, cá dữ hoặc cá quậy (cichlid, các loài barb lớn, cá vàng…) và cá vây dài (cá ông tiên, cá betta…). Cũng đừng thả chung với tôm càng và phần lớn các loài cua nước ngọt.3
Cần thiết bị gì?
Ánh sáng. Đèn dịu là hợp nhất. Với bể trồng cây thì chỉnh đèn theo nhu cầu của cây. Một nghiên cứu cho thấy chiếu sáng 16 giờ mỗi ngày cho tốc độ tăng trưởng tuyệt đối, đặc trưng và tương đối cao nhất. Hai mức được đem ra so sánh là tối hoàn toàn 24 giờ và 12 giờ sáng, 12 giờ tối. Người ta cho rằng ánh sáng kích thích cá ăn nhiều hơn, nhờ vậy cá chuyển hóa thức ăn hiệu quả hơn.
Dòng chảy. Ngoài tự nhiên cá quen sống ở nước tù. Vì thế đừng để dòng chảy mạnh, cá dễ bị stress.
Nền. Nền không quan trọng lắm, thậm chí bỏ cũng được. Có điều ở bể không nền, ánh sáng phản chiếu từ đáy bể có thể làm cá rối và bồn chồn. Vì vậy tốt nhất vẫn nên rải ít nhất một lớp nền mỏng.
Lọc. Lọc nào hợp với cỡ bể là được.
Bố cục. Cá khá nhát nên bể cần thật nhiều chỗ trốn. Thả nhiều cây nổi, vì cá thích nghỉ ở đó. Các loại cây cao và rậm như Vallisneria, Ludwigia, Elodea và Anacharis chia bể thành nhiều khu. Con cái bị con đực đeo bám mãi cũng có chỗ để lánh.3
Cho ăn gì?
Ngoài tự nhiên, cá sặc lùn được cho là ăn tạp. Chúng ăn động vật không xương sống nhỏ, tảo và lớp sinh vật bám (aufwuchs). Trong bể, cá chịu ăn hầu hết các loại thức ăn, và thức ăn khô loại tốt có thể làm khẩu phần chính. Bạn nên cho ăn xen thường xuyên các loại mồi sống và đông lạnh cỡ nhỏ như trùng huyết để cá khỏe nhất và lên màu đẹp nhất.1
Ngoài tự nhiên, cá sặc bắt côn trùng nhỏ và ấu trùng trên mặt nước. Chúng cũng gặm rêu tảo bám trên đá và trên cây. Nuôi trong bể, cá ăn được thức ăn dạng mảnh, thức ăn sấy đông khô, thức ăn đông lạnh và thức ăn viên gốc thực vật. Muốn cá khỏe, thỉnh thoảng bạn nên cho ăn thêm thức ăn sống như trùn. Khi vỗ cặp cá bố mẹ chuẩn bị cho đẻ, bạn cũng nên dùng thức ăn sống.2
Trichogaster lalius ăn tạp nhưng thiên về ăn thịt. Cá không kén ăn, thức ăn động vật hay thực vật (tảo) đều ăn. Ngoài tự nhiên, cá ăn mùn bã, vụn hữu cơ, động vật phù du cực nhỏ, giun, côn trùng và giáp xác nhỏ.
Trong bể, cá rất thích thức ăn sống, như artemia, bo bo, trùng huyết, trùng chỉ, giun đen, giun grindal và cyclops. Muốn cá lớn tốt và lên màu đẹp nhất, thức ăn nên có khoảng 30–40% protein, 4–9% lipid và 30–40% carbohydrate. Một nghiên cứu cho thấy cá tăng cân và dài ra nhiều nhất khi thức ăn chứa 35% protein. Nhìn chung cá sặc cần 30–45% protein, 4–9% lipid và 30–40% carbohydrate.
Cá cũng ăn được thức ăn khô và thức ăn sấy đông khô như cám vảy, cám viên, dạng chip, miễn là vừa cỡ miệng.
Lên màu. Cá không tự tổng hợp được carotenoid nên phải lấy từ thức ăn. Astaxanthin và canthaxanthin là hai loại carotenoid bổ sung phổ biến, làm màu cá đậm hơn, nhất là màu đỏ và cam. Cho ăn thức ăn có astaxanthin, spirulina và krill (nguồn astaxanthin tự nhiên) lâu dần có thể làm màu cá đẹp lên.
Cho ăn. Theo các nghiên cứu, mỗi ngày cá cần lượng thức ăn bằng khoảng 3–5% trọng lượng cơ thể. Trong thực tế, quy tắc 5 phút dùng rất ổn. Cá phải ăn hết thức ăn trong vòng 5 phút. Còn thừa là bạn đang cho ăn quá tay. Cá sặc lùn bơi không nhanh, nên nếu bể có cá bơi nhanh thì hãy rải thức ăn ra rộng hơn.
Cá bột. Khi đã tiêu hết túi noãn hoàng, cá bột cần thức ăn sống (luân trùng, lươn giấm, vi giun hoặc trùng cỏ) trong 2–3 tuần tiếp theo. Từ tuần thứ 3 thì chuyển sang artemia. Trong một thí nghiệm, cá bột ăn thức ăn sống sống sót 100%, ăn lòng đỏ trứng sống 66%, còn ăn cám viên thương mại chỉ sống 46%. Đừng cho cá bột ăn bo bo hay cyclops. Hai loại này có thể quá to, và cyclops lớn còn có thể làm hại, thậm chí giết cá bột nhỏ. Hydra là một trong những kẻ thù đáng sợ nhất của cá bột, nó có thể xóa sổ cả lứa trong thời gian ngắn.3

Nuôi chung với con gì?
Cá sặc lùn chỉ hợp bể cộng đồng ở mức có điều kiện, phần lớn là vì các vấn đề sức khỏe hay gặp ở loài này (xem phần ghi chú bên dưới). Bạn hoàn toàn có thể nuôi chúng chung với nhiều loài khác, nhưng đây không hẳn là loài cá cộng đồng "lý tưởng". Cá vừa nhút nhát vừa giữ lãnh thổ. Vì thế, trong bể nhỏ, bạn nên coi chúng là cư dân chính. Nuôi chung với các loài cá mê cung khác (kể cả cá betta) hoặc các loài màu mè như cá bảy màu có thể làm một số con đực trở nên rất hung dữ. Ngược lại, nuôi chung với cá to hơn hoặc bơi hăng hơn lại có thể khiến chúng rụt rè. Do đó, trong bể cỡ vừa phải, những đàn cá nhỏ hiền lành thuộc họ cá chép là bạn cùng bể rất tốt, vì chúng không gây áp lực cho cá sặc. Có thể kể đến cá tam giác Trigonostigma heteromorpha, nhiều loài rasbora và một số loài barb. Các loài chạch như Yasuhikotakia sidthimunki hay bất kỳ loài Pangio nào cũng là lựa chọn tốt. Trong bể trồng cây, một số loài tép nước ngọt đang được chuộng như tép cherry Neocaridina denticulata cũng có thể nuôi chung ổn. Nếu không cần bể đúng một vùng địa lý, bạn còn có thể thả thêm nhiều loài tetra phổ biến, cá da trơn (Corydoras và Otocinclus đặc biệt hợp) và các loài cá cầu vồng cỡ nhỏ. Trong bể lớn, tính lãnh thổ của cá tự nhiên ít lộ ra hơn. Khi đó bạn có thể tính đến các loài sặc khác, thậm chí một số loài cichlid hiền. Dù vậy vẫn phải chọn bạn cùng bể cẩn thận. Chúng không nên quá to, quá hiếu động hay quá hung dữ, nếu không cá sặc lùn sẽ bị dọa sợ hoặc bị tranh hết thức ăn.
Nói chung không nên nuôi cá sặc lùn theo nhóm, và loài này thường được bán theo cặp đã chia đực cái. Mấy năm gần đây có một xu hướng đáng lo là nhiều bể bán chỉ toàn cá đực. Cần nói rõ rằng mua hai con đực là cầm chắc rắc rối, trừ khi bạn có bể rất lớn. Mua một cặp đực cái là cách nuôi loài này tốt hơn hẳn. Ngay cả khi nuôi đúng cặp, vẫn có thể có chuyện, vì đôi khi cá đực đối xử với cá cái rất dữ.1
Cá sặc lùn hiền và nhút nhát. Nuôi theo cặp thì hai con thường bơi cùng nhau. Nhìn chung loài này ôn hòa và nuôi chung được với các loài không quá to hay quá dữ. Tuy vậy, những loài có màu sặc sỡ khác đôi khi làm cá sặc đực trở nên hung hăng, vì nó tưởng đó là đối thủ. Các loài cá đàn nhỏ và hiền là bạn cùng bể hợp lý. Phần lớn cá tầng đáy cũng nuôi chung được. Một vài lựa chọn có thể cân nhắc là cichlid lùn, cá hồng y (cardinal tetra) hoặc cá neon.2
Tính khí. Phần lớn tài liệu mô tả cá sặc lùn hiền lành, nhẹ nhàng và hợp với bể cộng đồng. Cá rất nhát, nghe tiếng động lớn hay chỉ hơi bị động là trốn. Nhận xét này nhìn chung đúng với bể lớn, trồng nhiều cây, nhưng có mấy điểm cần lưu ý:
- Dù nhỏ con, cá đực vào mùa sinh sản giữ lãnh thổ rất gắt. Chúng sẽ đánh, rượt và rỉa các cá khác trong bể.
- Nuôi nhiều cá đực chung thường dẫn đến đánh nhau. Nếu bể không đủ chỗ để mỗi con có lãnh thổ riêng, một con có thể bị đánh chết.
- Nuôi chung đực với cái cũng có rủi ro. Khi muốn đẻ, cá đực có thể dữ quá mức, làm con cái bị thương hoặc thậm chí chết.
Tính bầy đàn. Sống theo nhóm (3–4 con) thì cá tự tin hơn, nhưng dễ sinh xung đột, nhất là vào mùa sinh sản. Tốt nhất là nuôi một con, đặc biệt khi bể nhỏ và ít cây. Khi sống một mình, cá mới bộc lộ hết tính hiền.
Mức độ hoạt động. Cá bơi khá nhiều nhưng không lao đi loạn xạ. Thấy thứ gì mới trong bể là chúng dùng hai sợi vây bụng để dò xét. Cá có thể nhảy ra khỏi bể. Chuyện này không hay gặp và thường xảy ra khi cá bị stress hoặc nước kém.
Tầng bơi. Cá thích tầng giữa và tầng mặt.
- Sống theo nhóm: có
- Mức độ hoạt động: trung bình
- Hiền: có (tùy điều kiện)
- Hay rỉa: có
- Hay nhảy: có (hiếm)3
Nuôi chung
- Tính cách
- Hơi dữ
Tránh
Gợi ý theo nhiệt độ, pH, kích thước và tính cách của từng loài. Kiểm tra nuôi chung với loài khác →
Phân biệt đực cái thế nào?
Cá đực to hơn một chút và sặc sỡ hơn nhiều so với cá cái, vốn màu bạc và trơn hơn. Khi trưởng thành, cá đực còn có vây lưng và vây hậu môn dài ra, còn cá cái thì không. Loài này có nhiều dạng màu, nhưng dạng nào cũng phân biệt đực cái rất dễ theo cách này.1
Cá đực thường to hơn và màu rực hơn cá cái. Khi cá đực trưởng thành, chóp vây lưng và vây hậu môn dài ra và nhọn. Ở cá cái, hai vây này ngắn hơn và bo tròn.2
Chỉ khi cá trưởng thành mới phân biệt được đực cái:
| Đặc điểm | Đực | Cái |
|---|---|---|
| Kích thước | To hơn | Nhỏ hơn một chút |
| Màu thân | Màu rực rỡ | Nhạt màu hơn (bạc hoặc bạc xỉn) |
| Hoa văn | Các sọc xiên hai bên thân màu xanh lông công | Các sọc màu xám thép xỉn |
| Môi trên | Nhô rõ hơn | Ít nhô hơn |
| Hình dạng vây | Vây lưng và vây bụng nhọn hơn ở phần sau. Vây lưng dài hơn, kéo tới giữa cuống đuôi. | Vây lưng và vây bụng tròn hoặc cong |
| Màu vây | Vây bụng là một tia đơn, về sau chuyển đỏ cam. Vào mùa sinh sản, vây lưng và vây hậu môn chuyển xanh lông công, viền cam. | Vây bụng màu xám vàng. Vào mùa sinh sản, vây lưng và vây hậu môn có màu xám vàng. |
| Bụng (mùa sinh sản) | Bụng thon | Bụng căng phình |
| Tổ bọt | Có làm tổ bọt | Không |
| Tính khí | Giữ lãnh thổ, dữ hơn | Hiền |
Sinh sản ra sao?
Giống nhiều loài cá mê cung, cá sặc lùn đẻ trong tổ bọt. Cho chúng sinh sản không quá khó, dù hành vi của cá đực đôi khi khá khó đoán. Bạn cần set một bể riêng để cho đẻ. Bể dài khoảng 45–60 cm là được. Không cần rải nền, nhưng một hai nắm sợi than bùn (peat) có thể có ích. Hãy thả thêm vài bụi rong đuôi chó cỡ khá hoặc một loại cây lá nhỏ khác, cùng ít cây nổi như Riccia. Một lọc bông nhỏ chạy bằng sủi khí, để chạy nhẹ, là đủ lọc. Người ta thường khuyên hạ mực nước xuống khoảng 15–20 cm và nâng nhiệt độ lên 26,5–29°C. Cách này chắc chắn hiệu quả, nhưng thực tế cũng cho thấy cá khỏe thì sẽ tự đẻ khi chúng muốn. Các thông số khác không quan trọng lắm, miễn là nằm trong giới hạn đã nêu ở trên. Bể phải có nắp đậy thật khít (một số người nuôi dùng màng bọc thực phẩm thay nắp để chắc chắn không hở chỗ nào). Lý do là cá bột cần một lớp không khí ấm và ẩm phía trên mặt nước. Thiếu lớp không khí này, cơ quan mê cung của cá con có thể phát triển kém. Một số người nuôi cũng rất tin vào lá bàng khô (Ketapang) và thả lá vào cả bể cá bố mẹ lẫn bể cá bột.
Tốt nhất bạn nên vỗ béo cặp cá bố mẹ ở bể khác trước khi chuyển sang bể đẻ. Cho ăn nhiều mồi sống và đông lạnh thì chẳng bao lâu cá sẽ vào độ sinh sản. Khi cá cái trông thật tròn bụng và căng trứng, hãy thả nó vào bể đẻ trước. Để nó ở đó vài ngày (vẫn cho ăn bình thường) rồi mới thả cá đực vào. Nên thả cá đực lúc trời tối.
Nếu mọi chuyện suôn sẻ, cá đực sẽ sớm bắt đầu xây tổ bọt. Đầu tiên nó thổi một mảng bọt trên mặt nước. Sau đó nó dùng những mẩu cây nhỏ để gia cố tổ. Cảnh này xem rất thú vị. Trong lúc xây tổ, hễ thấy cá cái lởn vởn gần đó là cá đực sẽ tấn công. Đây là một lý do khiến bể đẻ bắt buộc phải có cây thì mới thành công. Khi tổ xong, bạn sẽ thấy cách hai con cư xử với nhau thay đổi. Cá đực thôi hung hăng với bạn tình. Lúc này cá cái lại chiếm thế chủ động. Nó dùng mõm huých để lùa cá đực vào dưới tổ, thậm chí còn dùng "râu" vuốt ve vùng bụng của cá đực.
Cá đẻ ngay dưới tổ theo kiểu "ôm" đặc trưng của cá mê cung. Cá đực uốn mình quấn quanh cá cái, và trứng cùng tinh trùng được phóng ra cùng lúc. Đến cao điểm, cá đực sẽ mềm oặt hẳn đi. Sau đó hai con rời nhau ra, và cá cái kiệt sức trôi dần xuống đáy bể. Trứng nổi, nên vừa ra là trôi lên và nằm lại trong tổ. Trứng nào không tự lên được thì cá đực ngậm vào miệng rồi đặt vào tổ. Cả quá trình này có thể lặp lại nhiều lần, giữa các lần có nghỉ, cho đến khi cá cái hết trứng. Đẻ xong, cá đực một mình canh giữ và chăm sóc ổ trứng. Lúc này nó hoàn toàn không chịu nổi cá cái, nên bạn cần vớt cá cái ra cho an toàn.
Thời gian trứng nở tùy nhiệt độ, nhưng thường là trong vòng 36 giờ. Dấu hiệu trứng đã nở là tổ bọt bắt đầu tan ra. Soi bằng kính lúp, bạn sẽ thấy hàng trăm con cá bột li ti. Phần lớn cá đực có thể để chung với cá bột trong vài ngày đầu, cho đến khi cá bột tiêu hết noãn hoàng. Để cá đực ở lại đến khi cá bột bơi tự do hay vớt ra ngay sau khi trứng nở là tùy bạn. Cá sặc con cực kỳ nhỏ. Trong khoảng tuần đầu, chúng cần thức ăn cỡ trùng cỏ (infusoria), đến khi đủ lớn mới ăn được giun vi sinh (microworm) hoặc ấu trùng Artemia. Bạn cần chuẩn bị sẵn ít nhất hai bể ương đang chạy ổn định để tách cá lớn và cá nhỏ khi chúng lớn dần. Cá con lớn không đều, và nếu không tách bể như vậy thì cảnh con lớn bắt nạt con nhỏ rất hay xảy ra. Mỗi lứa có thể lên tới 700 trứng.1
Muốn kích cá đẻ, bạn hạ mực nước xuống còn 15–20 cm và nâng nhiệt độ lên 28 °C. Bể đẻ bắt buộc phải có cây, vì cá sặc đực làm tổ bọt từ các mảnh thực vật rồi dùng bọt khí kết chúng lại với nhau. Tổ làm rất công phu và chắc chắn, rộng chừng 7–15 cm và sâu khoảng 2,5 cm. Các loại cây hợp cho bể đẻ gồm Limnophila aquatica, Riccia fluitans, Ceratopteris thalictroides và Vesicularia dubyana. Bạn cũng có thể thả thêm xơ than bùn để cá có vật liệu làm tổ.
Làm tổ xong, cá đực bắt đầu tán tỉnh cá cái, thường vào buổi chiều hoặc buổi tối. Nó bơi quanh cá cái với các vây xòe rộng, tìm cách dụ cá cái về phía tổ rồi tiếp tục màn tán tỉnh ở đó. Nếu cá cái chấp nhận, nó sẽ bơi vòng tròn cùng cá đực ngay bên dưới tổ bọt. Khi đã sẵn sàng đẻ, cá cái dùng miệng chạm vào lưng hoặc đuôi cá đực.
Nhận được tín hiệu này, cá đực quấn lấy cá cái, lật nó nằm nghiêng rồi lật ngửa hẳn. Lúc đó cá cái nhả ra khoảng 60 trứng trong suốt, và cá đực thụ tinh ngay. Phần lớn trứng tự nổi lên tổ bọt. Trứng nào trôi lạc thì cá đực nhặt lại và đưa vào tổ. Khi toàn bộ trứng đã nằm gọn trong tổ, cặp cá lại đẻ tiếp lượt nữa.
Nếu trong bể đẻ có hơn một cá cái, cá đực có thể đẻ với tất cả. Các lượt đẻ kéo dài từ hai đến bốn giờ và cho ra từ 300 đến 800 trứng. Đẻ xong, cá đực thổi một lớp bọt mỏng bên dưới đám trứng để trứng nằm yên trong tổ bọt. Lúc này bạn nên vớt cá cái ra khỏi bể để cá đực bớt căng thẳng.
Từ đây cá đực một mình lo cho trứng. Nó bảo vệ tổ và vùng xung quanh rất hung hăng. Sau 12 đến 24 giờ, cá bột nở ra và tiếp tục lớn lên trong tổ bọt. Sau ba ngày, cá bột đủ sức bơi tự do.
Khi cá bột đã rời tổ bọt, bạn hãy vớt cá đực ra, nếu không nó có thể ăn luôn cá con. Trong tuần đầu, cho cá bột ăn thức ăn siêu nhỏ như trùng cỏ, luân trùng hoặc thức ăn cá bột bán sẵn. Sau một tuần, bạn có thể cho ăn Artemia mới nở và thức ăn dạng mảnh nghiền thật mịn.2
Cá sặc lùn nổi tiếng với kiểu làm tổ bọt và chăm con. Trong điều kiện tối ưu, cá đẻ khá dễ, kể cả trong bể chật.
Tuổi trưởng thành. Tùy nhiệt độ, cá thành thục sau 4–12 tháng, khi dài khoảng 4 cm. Ở Singapore, cá đẻ quanh năm và cá con có thể trưởng thành chỉ sau bốn tháng. Ở miền bắc Ấn Độ thì cá mất 8 đến 12 tháng.
Giao phối diễn ra như sau:
- Pheromone của con cái có thể kích thích con đực làm tổ.
- Con đực xây tổ bọt, rồi tán con cái bằng cách xòe vây bơi quanh nó và dùng miệng chạm vào bụng nó.
- Khi con cái đáp lại, con đực dồn sức làm xong tổ. Tổ hoàn thành là cặp cá sẵn sàng đẻ.
- Con cái đẻ trứng (khoảng năm tá, tức chừng 60 trứng trong suốt) và con đực thụ tinh ngay.
- Sau mỗi lần ghép đôi, con đực ngậm trứng trong miệng vài giây và trộn nước bọt cho trứng dính. Sau đó nó gắn trứng vào giữa các bọt khí trong tổ.
- Cá có thể đẻ kéo dài 2 đến 4 giờ, ghép đôi nhiều lần, mỗi lần cách nhau 30 giây đến một phút.
- Đẻ xong, con đực canh trứng và cá mới nở, đuổi con cái và các cá khác ra xa tổ.
Tổ. Con đực xây tổ bọt nổi trên mặt nước, có trộn thêm mẩu cây, cành nhỏ và các vụn khác. Thời gian làm tổ tùy nhiệt độ. Ở 28°C cá mất 24 giờ, ở 25°C mất 32 giờ, còn ở 22°C mất tới 72 giờ. Phần lớn trứng tự nổi lên tổ, trứng nào lạc ra ngoài thì con đực nhặt về.
Sức sinh sản. Sức sinh sản tuyệt đối từ 1000 đến 1350 trứng. Trung bình mỗi con cái đẻ 300 đến 800 trứng. Tỷ lệ thụ tinh khoảng 60%.
Trứng. Trứng hình cầu, đường kính 0,6–0,7 mm, màu vàng óng và trong suốt. Trứng nhẹ hơn nước nên nổi lên tổ bọt.
Ấp trứng. Thời gian ấp tùy nhiệt độ, khoảng 24 giờ ở 23–26°C. Phôi phát triển qua các giai đoạn hợp tử, phân cắt, phôi nang, phôi vị, phân đốt, pharyngula rồi nở.
Cá bột. Mới nở, cá bột bám vào tổ bọt khoảng 2–3 ngày để tiêu hết túi noãn hoàng. Lúc này cá dài khoảng 1,7–2,0 mm và trong suốt. Tiêu hết túi noãn hoàng, cá chuyển sang màu sẫm, mình cong như dấu phẩy và bắt đầu bơi tự do. Đến lúc này nên vớt con đực ra để nó không ăn cá con. Sau một tháng cá bột có thể dài 1 cm, và sau 12 tháng dài khoảng 4 cm.
Kích thích cá đẻ:
- Không cần bể lớn, 4–12 lít là đủ.
- Để ý mặt nước đừng xao động mạnh, vì một số loại lọc có thể phá tổ bọt.
- Hạ mực nước xuống khoảng 15–20 cm.
- Nâng nhiệt độ lên 26–29°C.
- Cho ăn thêm thức ăn sống giàu protein.
- Khi bụng con cái tròn và căng rõ là nó đã đầy trứng. Lúc đó chuyển cả cá cái lẫn cá đực sang bể đẻ. Nên chuyển cá trong bóng tối cho cá đỡ stress.3
Phân bố tự nhiên
Sống tự nhiên ở: Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh1
Nguồn ghi gì
- Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh · Seriously Fish1: “The dwarf gourami, Trichogaster lalius, is a labyrinth fish from Pakistan, northern India and Bangladesh.”
GBIF có 67 ghi nhận ngoài tự nhiên: 59 trong các nước trên, 8 ở nơi khác (nhiều nhất: Mexico 4, Brazil 1, Canada 1, Myanmar 1, Nepal 1). Ghi nhận ở nơi khác có thể là cá do người thả ra, hoặc nhận nhầm loài.
- Ghi nhận trong các nước bản địa
- Ô có cả hai
- Ghi nhận ở nơi khác
- Nước bản địa
- Mỗi ô khoảng 620 km.
Dữ liệu: GBIF.org, 67 ghi nhận, lấy ngày 2026-11-05 · CC0, CC BY 4.0. Bản đồ nền: Natural Earth.
Ngoài tự nhiên sống ở đâu?
Loài này phân bố rộng khắp Pakistan, miền bắc Ấn Độ và Bangladesh. Những ghi nhận ở Nepal và Myanmar giờ được xem là do nhận nhầm loài. Ngoài ra, ở một vài nước như Singapore, Mỹ và Colombia còn có những quần thể cá thoát ra ngoài và sống hoang. Ngày nay toàn bộ cá bán ra đều do các trại nhân giống hàng loạt để phục vụ thị trường, nên bạn rất khó gặp cá bắt ngoài tự nhiên.1
Cá sặc lùn có nguồn gốc từ Ấn Độ (Tây Bengal và Assam) và Bangladesh. Ngoài tự nhiên, chúng sống ở những vùng nước có cây mọc dày. Người ta thường bắt gặp loài này chung với các loài sặc khác trong chi Trichogaster (còn gọi là Colisa). Ở vùng đồng bằng ven sông miền bắc Ấn Độ, các loài sặc cỡ lớn hơn là một trong những loại cá ăn phổ biến nhất. Ở nhiều chợ, người ta bán chúng dưới dạng cá khô hoặc bột cá.2
Trichogaster lalius có nguồn gốc ở châu Á. Loài này phân bố rộng ở Nepal (các sông Koshi, Narayani và Karnali), Ấn Độ (Tây Bengal), Pakistan, Myanmar và Bangladesh.
Vài năm gần đây, cá cũng đã lập được quần thể ngoài tự nhiên ở Úc, Colombia và Mỹ. Nguyên nhân là người ta cố ý thả ra hoặc cá vô tình thoát ra ngoài.3
Môi trường tự nhiên
Cá chủ yếu sống ở những nơi nước chảy chậm và nhiều cây cỏ, như ao, đầm lầy, mương, suối và kênh thủy lợi.1
Aquarium Breeder ghi khác bảng dữ liệu: kích thước 7 cm (bảng: 8,8 cm).
Ngoài tự nhiên, loài cá này chủ yếu sống ở nước ngọt tù đọng như vũng nước, mương, ao, vùng đất ngập nước, ruộng lúa, kênh thủy lợi, hồ và đầm lầy. Đôi khi người ta cũng bắt gặp chúng ở suối và sông chảy chậm.
Cá sặc lùn thích chỗ nước nông hoặc những nơi yên tĩnh, có lớp lá mục và cây thủy sinh rậm để ẩn nấp.
Một số nghiên cứu ghi nhận cá dài tới 8,8 cm. Trong bể nuôi, cá trưởng thành thường chỉ dài khoảng 5–7 cm tính cả đuôi. Thân cá hình trứng và dẹp mạnh hai bên. Miệng nhỏ, hướng lên trên. Vây lưng và vây hậu môn có tia mềm, còn vây đuôi tròn hoặc hơi cụt. Vây bụng là hai sợi dài như sợi chỉ, cá có thể cử động chúng theo mọi hướng. Thân chủ yếu màu đỏ tươi, có các sọc xiên màu xanh lam nhạt chạy chéo từ lưng xuống bụng và hướng về phía đuôi. Trên vây có thể có đốm và vạch đỏ, vây hậu môn có thể có viền đỏ. Đường bên của cá không liền hết thân.
Qua chọn lọc nhân tạo, người ta đã tạo ra rất nhiều dòng màu, như “Blue”, “Neon blue”, “Red”, “Super red”, “Fire red”, “Blue diamond”, “Cobalt”, “Rainbow” và “Multicolored”.
Cá có một cơ quan hô hấp phụ gọi là cơ quan mê lộ (labyrinth), nằm cạnh khoang mang. Cơ quan này gồm nhiều lớp màng gấp nếp trên một khung xương, dày đặc mạch máu và hoạt động gần giống phổi. Nhờ nó, cá đớp được không khí trên mặt nước và sống được ở những nơi nước thiếu oxy.3
Ghi chú
Cá sặc lùn là một trong những loài cá nước ngọt phổ biến nhất trong giới chơi cá cảnh, và phải công nhận đây là loài cá đẹp. Người ta đã lai chọn lọc ra nhiều dòng màu để bán, và các dòng này cũng rất được chuộng. Trong số đó có dòng "Sunset" (còn bán dưới tên "Red" hoặc "Robin") và dòng "Neon". Dù vậy, chuyện các dòng này có đẹp rực rỡ bằng dạng tự nhiên hay không thì vẫn còn rất nhiều tranh cãi.
Đáng tiếc là mấy năm gần đây, chất lượng chung của cá sặc lùn bán cho người chơi đã đi xuống rất mạnh. Một số cửa hàng thậm chí đã thôi nhập loài này. Họ không mua được cá sạch bệnh từ các trại ở Viễn Đông (chủ yếu là Singapore) và đã bị chết cá rất nhiều. Người ta cho rằng kiểu nhân giống hàng loạt để bán có thể đã gây ra một đợt dịch lan rộng của bệnh iridovirus ở cá sặc lùn (DGIV). Virus thuộc chi Megalocytivirus này có vẻ rất dễ lây, và đến nay vẫn chưa có cách chữa. Một nghiên cứu ở Úc năm 2006 cho thấy có tới 22% cá sặc lùn xuất từ Singapore mang mầm bệnh này. Trước đây, người ta đổ cho các bệnh do vi khuẩn như lao cá và các bệnh kiểu Nocardia là lý do cá sặc lùn hay ốm. Nhưng giờ có vẻ DGIV có thể là một nguyên nhân rất đáng kể. Đáng lo hơn, gần đây đã có nghiên cứu cho thấy DGIV có thể lây sang các loài khác sống chung nước với cá sặc bị nhiễm.
Vì vậy, trước khi mua, bạn nhất định phải quan sát cá thật kỹ. Bể nào có cá trông lờ đờ hoặc bị sậm màu thì bỏ qua. Hãy hỏi cá có nguồn gốc từ đâu, và cửa hàng có bị chết cá không. Tìm một người nhân giống ở gần chỗ bạn là phương án rất đáng tính đến.
Giống các loài khác trong phân bộ Anabantoidei, cá sặc lùn có một cơ quan hô hấp phụ gọi là cơ quan mê cung. Cái tên này xuất phát từ cấu trúc ngoằn ngoèo như mê cung của nó. Cơ quan mê cung giúp cá thở được không khí ở một mức độ nhất định. Nó hình thành từ cung mang thứ nhất biến đổi mà thành, gồm nhiều lớp da gấp nếp chằng chịt mạch máu. Mức độ phức tạp của cơ quan này khác nhau tùy loài. Những loài sống ở vùng nước đặc biệt thiếu oxy thường có cơ quan mê cung phát triển hơn.1
Cái tên "lùn" rất đúng với loài cá này, vì nó thuộc hàng nhỏ nhất trong các loài cá sặc. Cá đực lớn hơn cá cái một chút. Thân cá đực màu đỏ cam rực rỡ, có các sọc dọc màu xanh ngọc chạy xuống tận vây. Cá cái chỉ có màu xám xanh ánh bạc, nhạt hơn hẳn, và không bao giờ lên được màu rực như cá đực.
Các trại cá đã lai tạo chọn lọc ra nhiều biến thể màu, gồm xanh lam nhạt đồng màu (powder blue), neon, rainbow và đỏ (blushing). Dòng powder blue gần như toàn thân màu xanh, chỉ lộ một chút đỏ trên thân. Dòng neon có hoa văn xanh sáng hơn dòng thường. Dòng rainbow có thân đỏ cam đặc biệt rực rỡ với các sọc xanh, thêm lớp ánh kim xanh lục pha vàng. Dòng đỏ (cá sặc lửa) gần như đỏ toàn thân, còn vây lưng thì xanh trơn một màu.2
Trichogaster lalius nhìn chung hợp với bể trồng cây và không ăn cây khỏe. Có điều cá đực làm tổ rất hăng. Chúng có thể vô tình làm hỏng các cây mảnh mai, hoặc nhổ bật các cây trải thảm nhỏ để lấy mẩu cây đem về tổ.
Nguồn gốc tên gọi. Tên chi Trichogaster ghép từ hai chữ Hy Lạp “trichos” và “gaster”, nghĩa là “lông” và “bụng”. Tên này ám chỉ hai sợi vây bụng mảnh như sợi lông. Tên loài “lalius” được cho là bắt nguồn từ một chữ Latin nghĩa là “nhỏ” hoặc “lùn”, vì cá nhỏ hơn các loài Trichogaster khác.3
Nguồn
3 nguồn và tài liệu tham khảo
- Seriously Fish seriouslyfish.com
- The Spruce Pets thesprucepets.com
- Aquarium Breeder aquariumbreeder.com
Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.
Tài liệu tham khảo
- Saha, Shibam, S. Behera, Dibakar Bhakta, Abhrajyoti Mandal, Sanjeev Kumar, and Anandamoy Mondal. “Breeding and embryonic development of an indigenous ornamental fish Trichogaster lalius (Hamilton, 1822) in captive condition.” Entomol. Zool. Stud5, no. 3 (2017): 111-115.
- Poudel, Susmita, B. Shrestha, and S. Lamichhane. “Rearing of Trichogaster lalius in aquaria using different types of feed.” Medicon Agriculture & Environmental Sciences1, no. 2 (2021): 18-36.
- Sahu, Sachin, Shubham Sahu, and Priyanka Sahu. “A note on the biology of Dwarf Gourami, Trichogaster lalius (Hamilton, 1822).” International Journal of Fisheries and Aquatic Studies6, no. 5 (2018): 169-171.
- Sahu S, Datta S. “Effect of water pH on growth and survival of Trichogaster lalius (Hamilton, 1822) under captivity.” (2018).
- Bakshi, Snigdha, S. Behera, Shibam Saha, Abhrajyoti Mandal, Anish Das, Dibakar Bhakta, Anandamoy Mondal, and Priyanka Patra. “Influence of spirulina powder at carotenoids concentration in fin of an ornamental fish Trichogaster lalius.” Journal of Entomology and Zoology Studies6, no. 1 (2018): 870-873.
- Awasthi, Madhu, Pragya Gupta, Farah Bano, and Mohammad Serajuddin. “Effects of photoperiods on the growth performance of juvenile Trichogaster lalius (Hamilton, 1822).” International Letters of Natural Sciences65 (2017).
- Sahu, Sachin, Subhendu Datta, and Parimal Sardar. “Effect of water temperature on feed utilization, growth and survival of indigenous fish, Trichogaster lalius (Hamilton, 1822) under captivity.” Journal of Experimental Zoology India23, no. 2 (2020).
- Dorn, Richard. “Aquarium Culture of Trichogaster lalius.” Copeia28 (1916): 17-20.
- Galib, Shams Muhammad. “Captive Breeding of Trichogaster lalius (Hamilton, 1822) and Trichogaster fasciata Bloch and Schneider, 1801.” PhD diss., University of Rajshahi, 2015.
- Khadka, Niraj. “Viability of Bredding Colisa Ialia (F. Hamilton, 1822) and Larval Rearing on Different Feeding Regimes.” PhD diss., Department of Zoology, 2019.
- ZUANON, Jener Alexandre Sampaio, Pollyanna de Moraes França FERREIRA, Diogo Magalhães da Veiga MOREIRA, Luiz Thiago Versiani MIRANDA, Ana Lúcia SALARO, Sendy Moreira REIS, and Larissa Ferreira de ARRUDA. “Tolerância subcrônica de juvenis de colisas (Trichogaster labiosa e Trichogaster lalius) à salinidade da água.” Revista Brasileira de Engenharia de Pesca8, no. 1 (2015): 26-33.3
Chuẩn bị để nuôi Cá sặc lùn
Bể cáTối thiểu 60 cm
Lọc, sủi khí và tạo dòng
Thức ăn
Cây thủy sinh
Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.
Bài viết nhắc đến loài này
- Hướng dẫn chăm sóc cá sặc lùn (dwarf gourami) – họ hàng hung hăng của cá betta Chăm sóc
- Loài bạn cùng bể hàng đầu cho tép cherry trong bể nước ngọt Chăm sóc
- Các gợi ý thiết lập sẵn cho bể nước ngọt 38 lít Set bể
- Cách bắt cá cảnh như người chuyên nghiệp Chăm sóc
- 7 ý tưởng bể cá hay nhất cho bể nước ngọt 10 gallon (khoảng 38 lít) Set bể
- 5 loài cá sặc hiền lành cho bể cộng đồng nước ngọt Khám phá
- Cá bị xù vảy (bệnh phù, dropsy): nguyên nhân, cách chữa và phòng Bệnh
- 5 loài cá làm điểm nhấn hàng đầu cho bể cộng đồng cỡ nhỏ đến vừa Khám phá
Có trong video hướng dẫn
Video
Dwarf Gourami Care Guide - Amazing Aquarium Fish8:31, EN
Gourami nain -Trichogaster lalius ✔3:25, FR
The Truth About Dwarf Gouramis: What I Learned9:15, EN
ZWERGFADENFISCH - TRICHOGASTER LALIUS | Portrait | GarnelenTv4:38, DE
Ảnh bạn đọc
Chưa có ảnh nào. Bạn nuôi Cá sặc lùn? Gửi một tấm ảnh cho mọi người cùng xem.





































Thảo luận
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm.
Không tải được kiểm tra chống spam nên chưa gửi được bình luận. Hãy thử tải lại trang.
Bình luận cần xác minh người dùng theo quy định; tính năng này sẽ sớm mở.