Đơn vị
Giao diện

Cichlidae, Malawi

Cá mbuna xanh phấn

Pseudotropheus socolofi

Tên khác: Cá mbuna xanh pastel, Cá Pindani, Powder blue mbuna, Cá mbuna socolofi, Cá powder blue, Cá mbuna Eduard, Powder Blue Cichlid, Eduard's mbuna

Nhiệt độ
24–28°C
pH
7,6–8,8
Bể tối thiểu
90 cm
Độ khó
Vừa

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
24–28°C
pH
7,6–8,8
Kích thướcCác nguồn ghi khác nhau
11,5 cm
Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianVừabể từ 90 cm, cá dài 11,5 cm
  • NướcVừanước kiềm · pH 7,6–8,8, 10–25 dGH
  • Nhiệt độDễ24–28°C
  • Tính cáchVừahơi dữ

Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước

Mỗi nguồn ghi một mức

  • Aquarium Glaser: 9 cm
  • Seriously Fish: 11,5 cm
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Aquarium Glaser, Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-06.

Thông tin nhanh

Chindongo socolofi là một trong những loài mbuna nhỏ nhất. Ngoài tự nhiên, cá hiếm khi dài quá 8 cm. Nuôi trong bể thì chúng có thể lớn hơn tới 50%. Trong bể, loài này khá hiền.1

Cá mbuna xanh phấn (Chindongo socolofi) là một loài mbuna đặc hữu của hồ Malawi. Ngoài tự nhiên, loài này sống dọc bờ hồ phía Mozambique, trong đoạn từ Cobue đến mũi Tumbi. Ngoài tiệm, cá vẫn hay được bán dưới tên Pseudotropheus socolofi. Loài này còn có tên 'Eduard's mbuna' và 'Pindani'. Đây là một trong những loài cichlid hồ Rift được chơi nhiều nhất, và so với mặt bằng mbuna thì nó khá hiền. Con đực và con cái đều có cùng màu xanh phấn nên rất khó phân biệt trống mái. Phần lớn cá bán ra là cá sinh sản trong bể. Ngoài ra, giới chơi còn có cả dòng bạch tạng.2

Cần bể bao lớn?

Chiều dài chuẩn (SL): 115 mm SL (11,5 cm). Đáy bể: 90 × 45 cm. Thể tích: khoảng 154 lít.

90 × 45 × 38 cm, khoảng 154 lít.2

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 24–28°C
  • pH: 7,6–8,8
  • Độ cứng: 10–25 dGH2

Chăm sóc ra sao?

Bạn xếp đá thành từng đống sao cho có thật nhiều hang hốc và chỗ trốn. Nhớ chừa lại vài khoảng trống cho cá bơi. Nền cát là lựa chọn tốt nhất.2

Cho ăn gì?

Cá ăn được gần như mọi loại thức ăn. Tuy vậy, phần lớn khẩu phần nên là đồ thực vật như cám mảnh spirulina, rau chân vịt chần, rong biển nori và những thứ tương tự. Bạn có thể cho ăn thêm thức ăn tươi sống và đông lạnh. Tuyệt đối không cho cá ăn tim bò hay bất kỳ loại thịt đỏ nào, vì chúng sẽ làm rối loạn hệ tiêu hóa của cá.2

Nuôi chung với con gì?

Mỗi loài mbuna mang một kiểu màu riêng để tách bạch với loài khác càng rõ càng tốt. Nhờ vậy cá dễ nhận ra đồng loại và ít đánh nhau. Lý do là các loài khác thường ăn thứ khác, nên cũng ít phải giành ăn hay giành con cái với nhau. C. bellicosus là loài chuẩn của giống và cũng thuộc nhóm mbuna hung dữ nhất. Chindongo socolofi thì ngược lại, nuôi trong bể khá hiền.

Ở nhiều loài mbuna, con đực và con cái khác màu nhau rất rõ. Con đực đã trưởng thành sinh dục có màu khác hẳn con cái, còn cá con thì con nào cũng trông giống con cái. Chỉ con đực trưởng thành mới giữ lãnh thổ. Chúng lên màu rực rỡ để báo hiệu cho con cái bơi ngang qua rằng chúng muốn giao phối. Con đực nào khác cũng lên màu sặc sỡ sẽ bị đánh.1

So với các loài mbuna khác thì loài này không hung dữ lắm, nhưng vẫn không hợp với bể cộng đồng thông thường. Bạn không nên nuôi chung nó với các loài mbuna to con hoặc dữ. Những bạn cùng bể hợp với nó là Aulonocara, Copadichromis và các loài mbuna hiền hơn như Labidochromis caeruleus. Cá đực có tính lãnh thổ. Muốn nuôi từ hai con đực trở lên thì bạn cần bể lớn. Mỗi con đực nên đi kèm vài con cái.2

Phân biệt đực cái thế nào?

Ở Chindongo socolofi, bạn không thể dựa vào màu để phân biệt đực cái. Dấu hiệu duy nhất là các đốm trứng trên vây hậu môn. Con cái không có những đốm này, hoặc có nhưng mờ hơn.1

Loài này khó phân biệt trống mái vì cả con đực lẫn con cái đều có màu xanh "phấn" sáng giống hệt nhau. Các đốm trứng trên vây hậu môn của cá đực thường to hơn và đậm màu hơn so với cá cái. Vây bụng của cá đực cũng thường dài hơn. Cách dễ nhất là quan sát cách cá cư xử. Giống các loài mbuna khác, cá đực giữ lãnh thổ gắt hơn và hay rượt đuổi cá cái cùng các loài khác trong bể. Dĩ nhiên bạn cũng có thể xem lỗ huyệt để xác định giới tính, nhưng cách này chỉ dành cho người có nghề.2

Sinh sản ra sao?

Cho loài này sinh sản không quá khó. Đây là loài cá mẹ ấp trứng bằng miệng. Tốt nhất là cho cá đẻ trong bể riêng, theo kiểu một đực với ít nhất 3 cái, dù cá vẫn thường tự đẻ ngay trong bể cộng đồng. Bể 90 cm là vừa. Bạn bố trí bể như hướng dẫn ở trên, thêm vài phiến đá phẳng và vài khoảng nền trống để cá có chỗ chọn làm ổ đẻ. pH nên ở khoảng 8,2-8,5 và nhiệt độ 25 – 26,5 °C. Trước khi cho đẻ, bạn vỗ béo cá bằng thức ăn chất lượng cao, chủ yếu là đồ thực vật.

Cá đực sẽ dọn sạch chỗ đẻ mà nó chọn, rồi lên màu rực rỡ và khoe dáng quanh đó để dụ cá cái đến ghép đôi. Khi theo đuổi bạn tình, cá đực có thể khá hung hăng. Người ta cho loài này đẻ theo kiểu một đực nhiều cái chính là để sự hung hăng đó chia đều ra, không dồn vào một con. Khi cá cái đã sẵn sàng, nó bơi đến chỗ đẻ và đẻ trứng tại đó, đẻ đến đâu ngậm trứng vào miệng ngay đến đó. Trên vây hậu môn của cá đực có những đốm hình quả trứng, và cá cái bị chúng thu hút. Khi cá cái tìm cách ngậm những đốm này vào chung với ổ trứng trong miệng, thực ra nó đang nhận tinh trùng của cá đực. Trứng được thụ tinh theo cách như vậy.

Cá cái ngậm trứng khoảng 3-4 tuần rồi mới nhả cá bột đã tự bơi được. Suốt thời gian này cá mẹ nhịn ăn. Bạn sẽ dễ nhận ra nó nhờ cái miệng phồng to. Nếu cá cái bị stress quá mức, nó có thể nhả ổ trứng sớm hoặc ăn luôn trứng. Vì vậy, nếu bạn định chuyển cá mẹ ra chỗ khác để cá bột không bị ăn hay cá đực không quấy phá thì phải làm thật cẩn thận. Bạn cũng nên biết rằng nếu cá cái xa đàn quá lâu, nó có thể bị mất thứ bậc trong nhóm. Dù vậy, nếu cá đẻ trong bể cộng đồng mà bạn muốn giữ lại cá bột thì vẫn phải tách cá mẹ ra.

Một số người nhân giống lấy cá bột ra khỏi miệng cá mẹ khi được 2 tuần rồi tự ương từ đó, vì làm vậy thường giữ được nhiều cá bột hơn. Ngay từ lúc mới ra đời, cá bột đã đủ lớn để ăn ấu trùng artemia, giun vi sinh và cám khô dạng bột.2

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Loài này đặc hữu của hồ Malawi. Cá sống dọc bờ hồ phía Mozambique, trong đoạn từ Cobue đến mũi Tumbi, dù người ta cũng đã thả nó ra một số nơi khác.2

Môi trường tự nhiên

Cá sống ở vùng nước khá nông, thuộc vùng chuyển tiếp giữa bờ đá và nền cát.2

Ghi chú

Giống Chindongo được mô tả năm 2016, cùng lúc với loài chuẩn C. bellicosus. Giống này gồm các loài C. ater, C. bellicosus, C. cyaneus, C. demasoni, C. elongatus, C. flavus, C. heteropictus, C. longior, C. minutus, C. saulosi và C. socolofi.1

Loài mbuna phổ biến này còn có tên "Eduard's mbuna" và "Pindani". Nhờ màu sắc bắt mắt và tính khá hiền (so với mbuna), nó là một trong những loài cichlid hồ Rift được dân chơi ưa chuộng nhất. Cá hoang dã giờ khá khó kiếm, vì gần như toàn bộ cá bán ra đều là cá sinh sản trong bể. Giới chơi còn có dòng bạch tạng, và dòng này cũng khá được ưa chuộng. Đây là loài mbuna rất đáng chọn cho người mới chơi.2

Nguồn

2 nguồn
  1. Aquarium Glaser aquariumglaser.de
  2. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Chuẩn bị để nuôi Cá mbuna xanh phấn

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.

Bài viết nhắc đến loài này

Video

  • AFRICAN Pseudotropheus Scolofi 🐠 RELAX by Hook. #fish #ciclidos #acuario #malawi0:14, EN

  • Pseudotropheus Socolofi Mbuna Looking Sweet2:24, EN

  • Chindongo "Pseudotropheus " socolofi0:16, EN

  • Mbuna Pseudotropheus Socolofi Cichlid2:38, EN