Đơn vị
Giao diện

Balitoridae, Trung Quốc

Cá tỳ bà bướm Tứ Xuyên

Beaufortia szechuanensis

Tên khác: Cá bám đá Beaufortia szechuanensis, Cá bám đá Tứ Xuyên

Nhiệt độ
16–24°C
pH
6,5–8
Bể tối thiểu
75 cm
Độ khó
Vừa

Bảng dữ liệu

Xem đủ bảng
Nhiệt độ
16–24°C
pH
6,5–8
Độ khó
Vừa 4/8 Vì sao?

Điều làm loài này dễ hay khó nuôi, đọc từ bảng:

  • Không gianVừabể từ 75 cm, cá dài 6,9 cm
  • NướcDễpH 6,5–8, 2–15 dGH
  • Nhiệt độVừanước mát · 16–24°C
  • Tính cáchDễhiền

Độ khó 4/8 là mức nguồn chấm. Nguồn có thể tính cả điều bảng không ghi, như thức ăn. Cách tính các mức

Nguồn và độ tin cậy
Nhiệt độ
  • Seriously Fish
pH
  • Seriously Fish
Độ cứng (dGH)
  • Seriously Fish
Kích thước
  • Seriously Fish
Bể tối thiểu
  • Seriously Fish
Độ khó
  • Seriously Fish

Bảng chọn một số thế nào khi các nguồn ghi khác nhau

Dịch và tổng hợp từ Seriously Fish. Cập nhật 2026-11-01.

Thông tin nhanh

Có nên mua không?

Bể phải có nắp đậy kín vì loài này có tiếng hay nhảy. Cá cần nước ổn định và sống nhờ lớp màng sinh học (biofilm) bám trên bề mặt. Vì vậy tuyệt đối không thả chúng vào bể mới set, khi hệ vi sinh chưa ổn định. Nắp cũng phải thật khít, vì loài cá này leo được cả lên kính.

Beaufortia szechuanensis là một loài cá tỳ bà bướm sống ở thượng lưu sông Dương Tử, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, tây nam Trung Quốc. Người ta đã ghi nhận loài này ở nhiều hệ thống sông nhánh, trong đó có sông Qing, Wu và Da Ning He. Đầu và thân cá dẹt, các vây cặp xòe nằm ngang, tạo thành một giác hút. Nhờ đó cá bám chặt được vào đá ở những vùng suối đầu nguồn nông, nước chảy xiết và rất giàu oxy.1

Cần bể bao lớn?

Chiều dài chuẩn (SL): 69 mm. Đáy bể: 75 × 30 cm. Thể tích: khoảng 68 lít.

Một bể có đáy 75 × 30 cm hoặc tương đương là đủ cho loài này.1

Nước cần thế nào?

  • Nhiệt độ: 16–24°C
  • pH: 6,5–8,0
  • Độ cứng: 2–15 dGH1

Chăm sóc ra sao?

Điều quan trọng nhất là nước phải sạch và giàu oxy. Tối thiểu bạn nên dùng một bộ lọc dư công suất so với thể tích bể.

Lý tưởng nhất là nước trong bể được luân chuyển 10–15 lần mỗi giờ. Nếu lọc không đủ sức thì gắn thêm máy tạo dòng, sủi khí và những thứ tương tự.

Nền có thể là sỏi, cát hoặc trộn cả hai. Bên trên nên rải thêm một lớp đá cuội và sỏi tròn nhẵn do nước mài, đủ các cỡ to nhỏ.

Bạn có thể dùng lũa đã ngâm lâu, nhưng tránh lũa mới. Lũa mới thường ra tanin, làm nước ngả màu và giảm hiệu quả của đèn. Đây là tác dụng phụ không ai muốn, vì bể này cần đèn mạnh để tảo và các vi sinh vật đi kèm phát triển.

Cá cũng gặm cả bề mặt mút lọc nếu để lộ ra ngoài. Một số người chơi còn cố ý đặt một bộ lọc mút hở trong bể chỉ để có thêm nguồn thức ăn cho cá.

Ngoài tự nhiên hiếm khi có cây thủy sinh, nhưng trong bể bạn vẫn trồng được. Các chi dễ tính như Microsorum, Crinum và Anubias nhiều khả năng sẽ sống tốt nhất. Anubias đặc biệt có ích vì lá của nó hay bị tảo bám, lại tạo thêm chỗ cho cá ẩn nấp.

Cá cần nước ổn định và sống nhờ lớp màng sinh học. Vì vậy tuyệt đối không thả chúng vào bể mới set, khi hệ vi sinh chưa ổn định. Nắp đậy cũng phải thật khít, vì loài cá này leo được cả lên kính.

Thay nước một phần định kỳ là việc bắt buộc. Dù vậy, bạn có thể để lớp sinh vật bám (aufwuchs, gồm tảo và vi sinh vật) mọc trên mọi bề mặt, có lẽ chỉ trừ mặt kính dùng để ngắm.1

Cho ăn gì?

Ngoài tự nhiên, phần lớn thức ăn của cá nhiều khả năng là tảo bám đáy và các vi sinh vật sống chung với tảo. Cá cạo chúng từ các bề mặt cứng.

Trong bể, cá chịu ăn thức ăn khô loại tốt và cả các món nhiều đạm hơn như trùng huyết sống hoặc đông lạnh. Tuy vậy, cá có thể bị bệnh đường ruột nếu khẩu phần quá nhiều đạm.

Thức ăn tự làm rất có ích. Bạn trộn các nguyên liệu tự nhiên rồi dùng gelatin để kết dính. Cách này cho phép bạn tự chỉnh công thức, cho thật nhiều rau tươi, Spirulina và các nguyên liệu tương tự.

Muốn nuôi lâu dài, tốt nhất là cho cá vào một bể đã ổn định lâu, có thật nhiều đá và bề mặt phủ tảo.

Có trường hợp bể chính không mọc đủ tảo, hoặc bể nuôi chung nhiều loài cá ăn thực vật khiến tảo bị ăn sạch rất nhanh. Khi đó bạn có thể phải duy trì thêm một bể riêng để cho tảo mọc lên đá. Sau đó cứ định kỳ đổi đá giữa bể này và bể chính.

Bể 'ương tảo' này không cần lớn. Nó chỉ cần đèn mạnh, và ở nơi nhiều nắng thì đặt ngoài trời cũng được. Loại tảo cũng quan trọng. Cá thích tảo silic và các loại tảo lục mềm hơn là những loại cứng như tảo đỏ 'chổi đen' (BBA).

Các loài trong họ Gastromyzontidae thường bị bán ra khi đã gầy rộc, và tình trạng này khó cứu.

Cửa hàng tử tế sẽ xử lý chuyện này trước khi bán. Nhưng nếu bạn quyết định liều mua những con đã quá yếu, thì lúc đầu chúng cần được cung cấp thức ăn phù hợp liên tục. Chúng cũng phải được nuôi riêng, không có con nào tranh ăn, thì mới mong hồi phục.1

Nuôi chung với con gì?

Các loài Beaufortia không hung dữ. Có điều, chúng đòi hỏi môi trường khá đặc thù, nên số loài nuôi chung được cũng bị hạn chế phần nào.

Ngoài tự nhiên, những loài sống trong môi trường tương tự gồm Barilius, Garra, Devario, một số loài Rasbora, các loài cá bống Rhinogobius, Sicyopterus và Stiphodon, cùng các loài cá da trơn như Glyptothorax, Akysis và Oreoglanis.

Nhiều loài cá chạch thuộc các họ Nemacheilidae, Balitoridae và Gastromyzontidae cũng nuôi chung được. Có thể sẽ có vài màn cãi cọ vô hại, nhất là với các loài trong họ Gastromyzontidae.

Bạn nên tìm hiểu kỹ từng loài trước khi mua cho chắc. Cũng lưu ý là các loài trong chi này thường được bán như bạn cùng bể cho cá vàng, nhưng thật ra chúng không hợp nuôi chung với cá vàng.1

Phân biệt đực cái thế nào?

Chưa có ghi nhận. Ở loài họ hàng gần là B. kweichowensis, điểm khác biệt dễ thấy nhất là hình dạng đầu và thân khi nhìn từ trên xuống.

Con cái có thân khá bè và chắc nịch. Mõm con cái tròn, gần như liền một mạch với vây ngực.

Con đực thon gọn hơn. Mõm con đực vuông hơn hẳn, còn vây ngực chĩa ra gần như vuông góc với thân.1

Sinh sản ra sao?

Ngoài tự nhiên, loài này có lẽ sinh sản theo mùa. Theo những gì được biết đến nay thì chưa có ghi nhận nào về việc cá sinh sản trong bể nuôi.1

Phân bố tự nhiên

Sống tự nhiên ở: Trung Quốc1

Sông, hồ, vùng: Upper Yangtze1

Nguồn ghi gì
  • Trung Quốc, Upper Yangtze · Seriously Fish1: “Native to the Upper Yangtze River (aka Chang Jiang) basin, Sichuan province, southwestern China where it's been recorded from various tributary systems including the Qing, Ming, Wu and Da Ning He rivers.”

Ngoài tự nhiên sống ở đâu?

Loài này có nguồn gốc từ lưu vực thượng lưu sông Dương Tử (còn gọi là Trường Giang), tỉnh Tứ Xuyên, tây nam Trung Quốc. Người ta đã ghi nhận nó ở nhiều hệ thống sông nhánh, gồm các sông Qing, Ming, Wu và Da Ning He.

Nơi thu mẫu chuẩn là 'Omei-shien, phía tây Szechuan, Trung Quốc', ở độ cao khoảng 580 m.1

Môi trường tự nhiên

Các loài Beaufortia chỉ sống được ở những vùng suối đầu nguồn và nhánh suối nhỏ, nông, nước chảy xiết và giàu oxy. Những con suối này có từng đoạn ghềnh cạn xen với đoạn nước chảy đều. Ở một số nơi, dòng chảy còn bị ngắt quãng bởi các vũng nước hoặc thác nhỏ.

Nền đáy thường là đá nhỏ, cát và sỏi, lẫn với những đống đá tảng. Ven bờ thường có cây cối, dưới nước hay có những mảng lá khô chìm. Còn cây thủy sinh thì thường không có.

Môi trường lý tưởng nhất có nước trong và bão hòa oxy. Nước như vậy cộng với nắng trời làm lớp màng sinh học phát triển dày, phủ kín các bề mặt dưới nước.

Vào mùa mưa nhiều, một số con suối có thể đục tạm thời. Nguyên nhân là lưu lượng nước tăng, có lúc thành lũ xiết, mực nước cũng dâng cao và cuốn cặn lơ lửng lên.1

Ghi chú

Chi này có gần 20 loài đã được mô tả, nhưng chỉ B. kweichowensis là quen thuộc trong giới cá cảnh. Còn B. szechuanensis nhiều khả năng chưa từng được xuất khẩu.

Theo Chen, Huang và Yang (2009)[1], có thể phân biệt loài này với các loài tương tự cùng chi nhờ tổ hợp các đặc điểm sau: vây ngực có 1 tia phân nhánh và 17–20 tia đơn, có 98–106 vảy đường bên, gốc vây ngực nằm trước mắt, gốc vây lưng nằm lùi sau điểm giữa gốc vây ngực một chút, và vây bụng không chạm tới hậu môn.

Các loài Beaufortia có hình dạng cơ thể chuyên biệt để sống trong nước chảy xiết. Các vây cặp xòe nằm ngang, đầu và thân dẹt, hai vây bụng dính liền nhau.

Tất cả tạo thành một giác hút rất khỏe để cá bám chặt vào các bề mặt cứng. Bù lại, cá bơi ngoài vùng nước thoáng kém hẳn. Thay vì bơi, chúng 'bò' trườn trên và dưới các hòn đá.

Hiện nay họ Gastromyzontidae được công nhận là họ hợp lệ theo Kottelat (2012).

Họ này gồm nhiều chi trước đây từng bị xếp vào nhiều họ và phân họ khác nhau, gần đây nhất là Balitoridae. Trong giới cá cảnh, những chi quen thuộc nhất của họ này gồm Beaufortia, Formosania, Gastromyzon, Pseudogastromyzon, Hypergastromyzon, Liniparhomaloptera, Sewellia và Vanmanenia.1

Nguồn

1 nguồn và tài liệu tham khảo
  1. Seriously Fish seriouslyfish.com

Các phần trên dịch từ những nguồn này. Mỗi đoạn ghi số nguồn của nó.

Tài liệu tham khảo

  • Chen, Z.-M., Y.-F. Huang, and J.-X. Yang (2009). A new species of the genus Beaufortia from Yunnan Province, China (Cypriniformes, Homalopteridae). Acta Zootaxonomica Sinica 34(3), 639-641
  • Endruweit, M. (ed) (2012). Aquariophil World Wide Web electronic publication, www.aquariophil.org, accessed on 2012.05.17, Accessed on 12.10.04
  • Šlechtová, V., J. Bohlen and H. H. Tan (2007). Families of Cobitoidea (Teleostei; Cypriniformes) as revealed from nuclear genetic data and the position of the mysterious genera Barbucca, Psilorhynchus, Serpenticobitis and Vaillantella. Molecular Phylogenetics and Evolution 44(3), 1358-1365
  • Tan, H.H. (2006). The Borneo suckers. Revision of the Torrent Loaches of Borneo (Balitoridae: Gastromyzon, Neogastromyzon). Natural History Publications (Borneo), Kota Kinabalu, 245 p.
  • Tang, Q., H. Liu, R. Mayden and B. Xiong (2006). Comparison of evolutionary rates in the mitochondrial DNA cytochrome b gene and control region and their implications for phylogeny of the Cobitoidea (Teleostei: Cypriniformes). Molecular Phylogenetics and Evolution 39(2), 347-357
  • Kottelat, M. (2012). Conspectus cobitidum: an inventory of the loaches of the world (Teleostei: Cypriniformes: Cobitoidei). Raffles Bulletin of Zoology Supplement 26, 1-1991

Chuẩn bị để nuôi Cá tỳ bà bướm Tứ Xuyên

Liên kết tiếp thị — trang có thể nhận hoa hồng khi bạn mua qua liên kết.