Đơn vị
Giao diện

Bệnh · đọc khoảng 10 phút

Cá bị bệnh nhung (bụi vàng): dấu hiệu, nguyên nhân, cách chữa và phòng

AquaTome tổng hợp từ 8 nguồn rồi tự viết

Tóm tắt nhanh

  • Bệnh nhung, còn gọi là bệnh bụi vàng hay bệnh gỉ sắt, do một ký sinh đơn bào gây ra chứ không phải do nấm. Bệnh lây rất nhanh, đánh vào mang trước và có thể làm chết cá.
  • Việc đầu tiên là thay 30–50% nước, đo lại các chỉ số nước, tháo than hoạt tính ra khỏi lọc, rồi nâng nhiệt từ từ lên 29°C trong 24 giờ. Sau đó chữa cả bể cách ly lẫn bể chính cho đến khi cá hết dấu hiệu bệnh.

Bệnh nhung là gì

Ở Việt Nam, bệnh nhung có nhiều tên gọi như bệnh nhung, bệnh bụi vàng, bệnh gỉ sắt hay nấm velvet. Dân chơi gọi là "nấm", nhưng thủ phạm thật ra là một ký sinh đơn bào thuộc nhóm tảo giáp (dinoflagellate). Ở cá nước ngọt, loài gây bệnh là Piscinoodinium pillulare, sách cũ gọi là Oodinium. Ở cá biển, tác nhân là Amyloodinium. Trong tiếng Anh, bệnh này còn có tên gold-dust, rust hoặc coral disease.

Bệnh lây rất nhanh và làm chết cá. Ký sinh này nhiễm được 14 loài cá cảnh nhiệt đới thuộc nhiều họ khác nhau, kể cả cá chép và cá diếc. Mang là nơi nó bám và phá nặng nhất. Khi nhiễm nặng, các phiến mang dính vào nhau. Đến giai đoạn muộn thì mang hoại tử và cá chết vì thiếu oxy. Cá còn rất nhỏ và cá đã già là hai nhóm chết nhiều nhất khi mắc bệnh.

Muốn chữa đúng thì phải nắm được vòng đời của ký sinh. Vòng đời này gồm ba giai đoạn:

  • Thể bám (trophont) là giai đoạn ký sinh bám lên cá và ăn cá.
  • Thể nang (tomont) là lúc ký sinh rời khỏi cá, nằm yên dưới đáy bể rồi phân chia ra tối đa 256 cá thể con.
  • Thể bơi tự do (dinospore) bơi trong nước để tìm cá mới mà bám vào.

Thuốc chỉ giết được thể bơi tự do. Thể bám trên cá và thể nang dưới đáy đều kháng hóa chất, vì vậy thường phải đánh thuốc vài lần mới dứt. Thể bơi tự do có diệp lục, nên nó vẫn sống được mà không cần cá, miễn là còn ánh sáng. Còn thể nang thì có thể nằm ngủ trong nền hàng tuần, có khi hàng tháng.

Vòng đời chạy nhanh hay chậm là tùy nhiệt độ. Số liệu giữa các nguồn hơi lệch nhau:

Nhiệt độGiai đoạnThời gian
23–25°CThể bám lớn lên rồi rời cá thành thể nang3–4 ngày
25°CThể bám lớn lên trước khi rời cákhoảng 6 ngày (nguồn khác)
23–25°CThể nang phân chia ra thể bơi tự do50–70 giờ
15–17°CThể nang phân chiakhoảng 11 ngày
22–25°CTrọn vòng đời10–14 ngày, nước lạnh hơn thì chậm hơn

Dấu hiệu

Dấu hiệu dễ thấy nhất là một lớp bụi rất mịn phủ trên đầu, thân và vây cá. Lớp bụi này có màu vàng, nâu hoặc hơi ngả xanh lục. Lúc bệnh mới chớm, bạn chỉ thấy lớp bụi vàng nhạt khi soi đèn chéo. Khi nhiễm nặng, lớp bụi dày lên và trông lại giống bụi trắng. Có trường hợp cả con cá ngả màu gỉ sắt và phủ một lớp nhớt dày.

Có một mẹo soi khá hiệu quả. Bạn tắt đèn phòng rồi rọi đèn pin vào cá. Lớp màng vàng hoặc màu gỉ sắt trên vây, thân và mang sẽ hiện rõ hơn nhiều.

Ngoài ra còn mấy dấu hiệu hay gặp khác:

  • Cá đột ngột cọ mình vào đồ vật trong bể (dân chơi gọi là flashing).
  • Cá cụp vây và lờ đờ.
  • Cá tụ lại gần mặt nước hoặc gần đầu ra của lọc, có khi ngoi lên đớp khí.
  • Khi mang nhiễm nặng, cá thở nhanh và nắp mang banh ra.
  • Da cá tiết nhiều nhớt, vảy tróc, có những chấm xuất huyết li ti và vết loét nhỏ.
  • Ở giai đoạn muộn, cá thở gấp và bỏ ăn.

Bạn cần nhớ là bệnh thường khởi phát ở mang. Vì thế có khi cá đã bệnh nặng mà trên da vẫn chưa thấy gì.

Phân biệt với bệnh đốm trắng (ich)

Hai bệnh này rất dễ nhầm với nhau. Cách chắc chắn nhất là cạo nhớt da hoặc lấy mẫu mang làm tiêu bản ướt rồi soi dưới kính hiển vi. Ký sinh bệnh nhung có hình túi, dài 80–100 µm. Nếu nhỏ thêm dung dịch iod Lugol, thể bám sẽ bắt màu xanh đậm và dễ nhận ra hơn.

Nguyên nhân

Ký sinh này thường có sẵn trong bể. Bệnh chỉ bùng lên khi sức đề kháng của cá yếu đi. Những nguyên nhân hay làm bệnh bùng phát và lây lan gồm:

  • Bể, cá hoặc dụng cụ như vợt đã nhiễm bệnh. Trường hợp thể ngủ của ký sinh đi theo thức ăn tươi đông lạnh vào bể thì hiếm gặp.
  • Nhiệt độ tụt khoảng 8°C trong vòng một giờ, hoặc nước lạnh dưới khoảng 23°C.
  • Bể bẩn, nước kém, nhiệt độ lên xuống thất thường, hoặc bắt cá thô bạo.
  • Các bể đặt sát nhau. Thể bơi tự do có thể theo những hạt nước bắn lên không khí mà lây sang bể bên cạnh.

Betta rừng (wild betta) và các loài cá nước đen (blackwater) đặc biệt dễ mắc bệnh nhung. Một nguồn tiếng Việt còn cho rằng cá vàng và cá ngựa vằn cũng dễ bị hơn các loài khác.

Làm gì ngay

  1. Thay 30–50% nước. Đo pH, nhiệt độ, clo, amoniac, nitrit và nitrat.
  2. Tháo than hoạt tính ra khỏi lọc, vì than sẽ hút mất thuốc trong nước.
  3. Nâng nhiệt từ từ lên 29°C trong 24 giờ để vòng đời ký sinh chạy nhanh hơn. Cách này chỉ dành cho bể cá nhiệt đới.
  4. Giảm đèn hoặc tắt hẳn đèn.
  5. Cho muối hồ cá vào nước.
  6. Tách cá bệnh sang nước sạch. Dù đã tách, bạn vẫn phải chữa cả hai bể vì bệnh lây rất dễ.

Chữa

Thuốc trị bệnh phổ rộng thường không ăn thua với bệnh nhung. Những hoạt chất hay dùng để cho vào nước gồm đồng sunfat, xanh methylen, formalin, xanh malachite và acriflavine. Bạn phải đánh thuốc liên tục khoảng một tuần, nước lạnh thì lâu hơn. Cứ chữa tiếp cho đến khi cá hết hẳn dấu hiệu bệnh, và chữa cả bể cách ly lẫn bể chính.

Nâng nhiệt

Nước ấm làm vòng đời ký sinh ngắn lại. Mỗi nguồn khuyên một mức nhiệt khác nhau:

  • Nâng từ từ lên 29°C trong 24 giờ cho bể nhiệt đới.
  • Giữ nước trên khoảng 29°C. Chính nguồn này cũng nói chưa có bằng chứng nào cho thấy chỉ riêng nhiệt độ cao là diệt được ký sinh.
  • Có báo cáo cho rằng nâng nước lên 33–34°C thì khống chế được dịch.
  • Một blog betta Việt Nam khuyên nâng lên khoảng 21–26°C. Mức này thấp bất thường so với các nguồn còn lại.

Nâng nhiệt không hợp với mọi loài cá. Cá bị sốc nhiệt thì sức đề kháng còn yếu thêm. Betta rừng chịu được mức khoảng 29–30°C trong một thời gian, còn betta thường (Betta splendens) thì lại thích mức nhiệt này.

Cá betta (cá xiêm)
Cá betta (cá xiêm)©

Đồng

Đồng là thuốc mạnh nhưng rất dễ dùng sai. Bạn chỉ nên dùng đồng sunfat khi đo được độ kiềm, tính đúng thể tích bể và cân được hóa chất. Nếu không chắc thì đừng dùng.

  • Liều dùng là 0,15 ppm ion đồng, ngâm tối đa 10 ngày và lặp lại nếu cần.
  • Công thức tính liều là lấy độ kiềm tổng (mg/L) chia cho 100 sẽ ra liều đồng sunfat (mg/L). Nếu độ kiềm dưới 50 mg/L thì không được dùng.
  • Muốn tự pha đồng chelate, bạn trộn 2 phần axit citric với 1 phần đồng sunfat theo khối lượng. Liều chỉ tính theo khối lượng đồng sunfat. Đây là cách người ta dùng cho Amyloodinium ở cá biển, cho ra 0,15 ppm ion đồng. FAO cho rằng các cách chữa cá biển kiểu này dùng được cho Piscinoodinium nếu chỉnh lại liều.
  • Nước có tính axit làm đồng độc hơn, vì vậy trong nước axit người ta chuộng đồng chelate. Ở nước ngọt có pH dưới 7,0, đồng trên 0,3 ppm có thể làm chết cá, ví dụ cá con Puntius gonionotus.
  • Đồng bám vào nền rồi lại nhả ngược ra nước, nên bạn phải đo nồng độ đồng thường xuyên.

Có nơi chữa betta rừng bằng một loại thuốc đồng bán sẵn với liều khoảng 5 ml cho khoảng 19 lít nước. Họ ước tính mức này vào khoảng 1,5–2,0 ppm đồng, giữ nước từ khoảng 29°C trở lên trong 30 ngày. Con số ppm này cao hơn rất nhiều so với mức 0,15 ppm ion đồng nói ở trên. Các nguồn ghi không giống nhau, nên bạn cứ làm đúng theo hướng dẫn trên loại thuốc mình dùng.

Muối

Về tác dụng của muối, các nguồn không thống nhất với nhau:

  • Một nguồn cho rằng muối làm ký sinh sinh sản chậm lại trong nước ngọt, nhưng chỉ dùng muối thì không dập được dịch.
  • Một nguồn khác nói muối gần như không tác dụng gì lên bệnh nhung. Theo nguồn này, cách nâng nhiệt kèm muối có hiệu quả là nhờ nhiệt, còn muối chỉ chống nhiễm trùng thứ phát.
  • Một cách làm theo kinh nghiệm dân chơi là dùng muối ăn thường (natri clorua, không phải muối biển), liều 1 cốc (khoảng 240 ml) cho khoảng 75 lít nước, kết hợp để bể tối hoàn toàn 7 ngày.
  • Tắm muối bằng dung dịch natri clorua 30 g/L trong 5–15 phút. Cách này chỉ dùng cho loài chịu được muối.

Cá anchor catfish cực kỳ nhạy với muối.

Để bể tối

Ở điểm này các nguồn cũng nói ngược nhau. Một số nguồn cho rằng ký sinh cần ánh sáng, nên khuyên để bể tối hoàn toàn 7 ngày song song với đánh thuốc. Một nguồn khác lại cho rằng trùm bể để bỏ đói ký sinh không hiệu quả, vì thể bơi tự do vẫn sống được mà không cần cá khi còn ánh sáng.

Thuốc và cách khác

  • Quinine hydrochloride liều 30 mg/L, dùng riêng hoặc kết hợp với xanh malachite theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
  • Salinomycin trộn vào thức ăn ở mức 60 hoặc 90 ppm, cho ăn mỗi ngày trong 16 hoặc 19 ngày. Đây là kết quả thí nghiệm trên cá kiếm trong phòng lab.
  • Đèn UV-C chỉ có tác dụng khi bóng còn tốt, công suất từ 36 W trở lên, bước sóng gần 250 nm và nước chảy qua chậm. Loại UV nhỏ đặt chìm và bóng có bước sóng gần 280 nm thì không có tác dụng.

Cẩn thận với tép, ốc, cây và cá nhạy thuốc

Đồng sunfat có thể gây nguy hiểm cho một số loài cá, cây, tép và ốc. Những mức đồng gây hại đã được ghi nhận gồm:

  • Tép Caridina bị hại ở khoảng 2 µg Cu/L.
  • Mức 42 µg Cu/L gây độc cấp cho Denariusa bandata.
  • Một nửa số cá Melanotaenia và Ambassis trong thử nghiệm chết ở mức 120–200 µg Cu/L.
  • Một nửa số tôm Macrobrachium chết ở mức 160 µg Cu/L.
  • Ốc cũng rất nhạy với đồng.

Không dùng xanh malachite cho cá da trơn, cá chạch và cá tetra.

Sai lầm hay gặp

  • Ngưng thuốc quá sớm. Thể nang còn nằm trong nền sẽ nhả ra lứa ký sinh bơi tự do mới, và bệnh quay lại.
  • Thấy cá hết đốm là tưởng đã khỏi. Ký sinh vẫn có thể còn trong nước và trong nền.
  • Chữa xong ở bể cách ly rồi thả cá về bể chính chưa được chữa. Cá sẽ nhiễm lại.
  • Trông cậy vào lá bàng. Lá bàng không có tác dụng gì với ký sinh này.
  • Dùng đèn UV công suất thấp hoặc để nước chảy qua quá nhanh. Kiểu này không diệt được thể bơi tự do.
  • Nuôi bể quá dày. Thể bơi tự do có thể bám lại vào cá trước khi đồng kịp giết chúng.

Phòng

  • Cách ly cá mới 10–14 ngày rồi mới thả vào bể chính. Cây mới mua về cũng nên cách ly.
  • Thả nổi túi cá trên mặt bể khoảng 15 phút trước khi thả cá ra, để cá không bị đổi nhiệt đột ngột.
  • Dùng sưởi để giữ nhiệt ổn định.
  • Khử trùng ống hút, vợt và bàn chải đã chạm vào cá bệnh.
  • Giữ bể sạch, thay nước đều đặn và đừng nuôi quá dày.
  • Tách riêng những con hay bắt nạt cá khác.
  • Ngó qua cá mỗi ngày để phát hiện bệnh sớm.

Một hướng dẫn tiếng Việt cho betta khuyên dùng khoảng 1 muỗng cà phê muối cho 10 L nước để phòng bệnh thường xuyên. Muối chỉ cho vào lúc thay nước.

Khi nào cần lo

Cá thở gấp, nắp mang banh ra, tụ lại ở mặt nước hay đầu ra của lọc và bỏ ăn là dấu hiệu mang đã nhiễm nặng. Lúc này bạn phải chữa ngay, vì bệnh nặng sẽ làm mang hoại tử và cá chết ngạt. Cá chết vì bệnh nhung đôi khi còn bị nhiễm nấm hoặc nhiễm khuẩn thứ phát kèm theo. Nếu bể có cá con, cá già, betta rừng hay cá nước đen thì bạn càng phải để ý kỹ hơn. Đừng đợi thấy bụi vàng trên da mới lo, vì bệnh thường bắt đầu từ mang.

Câu hỏi thường gặp

Bệnh nhung có phải là nấm không?

Không. Nhiều nơi ở Việt Nam gọi là "nấm velvet", nhưng bệnh này do ký sinh đơn bào gây ra. Ở cá nước ngọt, đó là Piscinoodinium pillulare, sách cũ gọi là Oodinium.

Chỉ dùng muối có chữa khỏi bệnh nhung không?

Phần lớn nguồn cho rằng không. Một nguồn nói muối làm chậm sự sinh sản của ký sinh nhưng không tự dập được dịch. Nguồn khác nói muối gần như không tác dụng, chỉ giúp chống nhiễm trùng thứ phát. Cá anchor catfish cũng rất nhạy với muối.

Có nên tắt đèn, trùm bể khi cá bị nhung?

Các nguồn nói khác nhau. Một số khuyên để bể tối hoàn toàn 7 ngày song song với thuốc vì cho rằng ký sinh cần ánh sáng. Một nguồn khác cho rằng trùm bể để bỏ đói ký sinh không hiệu quả.

Cá hết bụi vàng rồi, ngưng thuốc được chưa?

Chưa chắc. Ký sinh vẫn có thể còn trong nước và trong nền. Thể nang nằm trong nền sẽ nhả ra lứa mới nếu ngưng thuốc sớm. Bạn cứ chữa liên tục khoảng một tuần, nước lạnh thì lâu hơn, và chữa đến khi cá hết hẳn dấu hiệu bệnh.

Bể có tép, ốc thì dùng đồng được không?

Rất rủi ro. Tép Caridina đã bị hại ở khoảng 2 µg Cu/L, còn ốc thì rất nhạy với đồng. Đồng sunfat còn có thể hại cả cây và một số loài cá. Nên tách cá bệnh ra bể riêng mà chữa, nhưng vẫn phải xử lý cả bể chính.

Nguồn tham khảo

  1. What is velvet (or gold dust disease)? – Aquarium Co-op
  2. Velvet (fish disease) – Wikipedia
  3. Piscinoodiniasis – ANGFA Rainbowfish disease prevention and control
  4. FAO compendium of fish parasites – Piscinoodinium
  5. Velvet disease (Piscinoodinium sp.) in wild bettas – BW Aquatics
  6. Dấu hiệu nhận biết cá betta bị bệnh – Mytour
  7. Cách trị và phòng bệnh nhung (Velvet) ở cá – Thế Giới Cá Cảnh
  8. Bệnh nấm velvet ở cá betta – Halfmoon Việt Nam